Em phải đến Harvard học kinh tế - Chương 04 - Phần 4

TIẾP TỤC PHÁT TRIỂN TRÍ LỰC –
ĐÃ CHƠI PHẢI CHƠI RA TRÒ

Đối
với tôi từ bỏ kế hoạch bồi dưỡng “thần đồng”, chỉ là việc từ bỏ việc học chương
trình tiểu học trước tuổi, chứ không từ bỏ việc giáo dục từ sớm tại nhà cho
Đình Nhi. Trái lại tôi sẽ dồn hết thời gian và công sức, tiếp tục bồi dưỡng
Đình Nhi phát triển toàn diện.

Thời
gian đứa trẻ từ 3 đến 6 tuổi, quan trọng nhất vẫn là phải ưu tiên phát triển
trí lực. Các nhà khoa học đã chứng minh rằng, cấu tạo đại não con người, đến 6
tuổi đã cơ bản hoàn thành. Mặc dù các nhà khoa học Mỹ và Canada qua nghiên cứu
gần đây đã phát hiện những thay đổi to lớn trong một số bộ phận then chốt trong
đại não con người, còn tiếp tục phát triển cho đến tuổi thanh niên, nhưng đó
chỉ là sự thay đổi được gọi là giải phẫu học “điều chỉnh”. Các nhà khoa học sự
phát triển của đại não để tiến hành giáo dục. Có vậy, mới có thể đẩy nhanh sự
phát triển cả về trí
lực, rõ ràng là thời gian đứa trẻ từ 0 đến 6 tuổi. Đó là thời gian đại não phát
triển nhanh nhất.

Tiếp
tục phát triển trí lực, có nghĩa là tiếp tục bồi dưỡng khả năng ngôn ngữ và phi
ngôn ngữ cho Đình Nhi, bao gồm khả năng quan sát, trí nhớ, khối lượng từ vựng,
sức hiểu biết và khả năng giải quyết vấn đề, đồng thời cũng bồi dưỡng khả năng
tư duy trừu tượng, khả năng nắm bắt vấn đề… Những khả năng đó được coi là sẽ
không thay đổi sau khi đứa trẻ tròn 6 tuổi, hơn nữa nó luôn liên quan mật thiết
đến kết quả thi cử của các kỳ thi lên lớp sau này. Có thể nói rẳng, mỗi một giờ
phút hai mẹ con tôi được sống gần nhau, đều là những giờ phút luyện rèn để phát
triển trí lực cho cháu.

Khoảng
tháng 7 tháng 8 năm 1984, trí lực của Đình Nhi đã có bước nhảy vọt. Khi đó công
việc bề bộn, tôi vẫn dành ra thời gian ghi lại sự kiện đáng nhớ ấy:

Đình
Nhi đã biết độc lập tùy hứng làm thơ. Đó là một buổi chiều của một ngày trung
tuần tháng 8, tôi và cô bảo mẫu dẫn Đình Nhi đến nhà ăn của tòa soạn “Tứ Xuyên
nhật báo” ăn tối. Dọc đường, theo yêu cầu của tôi, Đình Nhi đã xuất khẩu một
bài thơ về chiếc mầm cây nhỏ:

Nhánh
mầm non, nhánh mầm cây ơi!

Hãy
cho ta một chút gió trời

Lau
hộ ta mồ hôi đọng trên vầng trán.

Ôi
hạnh phúc biết bao!

Ta
yêu mầm non biết nhường nào!

Đình
Nhi đã đọc một hơi bài thơ đó, âm điệu vô cùng diễn cảm. Tôi coi trọng sự kiện
này, không phải vì bài thơ đó đã thật hay, mà vì nó chứng tỏ rằng Đình Nhi đã
có một bước đột phá
mới trong tư duy sáng tạo và khả năng biểu đạt. Tối hôm sau, chúng tôi lại đến
vườn hoa trên đại lộ Nhân Dân để ngắm nhìn vòi phun nước màu vừa được sửa sang
lại. Tại đây, Đình Nhi cũng xuất khẩu một bài thơ tả cảnh. Tôi luôn cố ý dìu
dắt cháu thực hiện những việc làm như vậy, dù đi chơi ở bất kỳ đâu, thì các
cuộc du chơi ấy luôn trở thành những dịp để Đình Nhi hứng thú rèn luyện óc quan
sát và khả năng biểu đạt.

Bước
nhảy vọt về trí lực ấy của Đình Nhi còn biểu hiện ở khả năng quan sát. Trước
đây cháu chỉ chú ý đến ở đâu có cái gì, mà phần lớn là những cái cháu đã biết.
Giờ đây, cháu đã biết phân biệt được những sự khác nhau trong số những sự vật
cùng loại, như phía trước Tổng phủ, dãy đèn đường ở phía Đông ít hơn đèn đường
ở phía Tây mấy chiếc. Tự cháu quan sát và đã nói với tôi điều đó.

Mấy
ngày trước, tôi dẫn Đình Nhhi đi xem hai bộ phim Mỹ “Cuộc chiến tranh giữa các
vì sao” và “Bước ngoặt”. Xem bộ phim trước cháu được biết rằng, trên các vì sao
xa xôi kia cũng có đủ loại người, cháu đã hỏi tôi khá nhiều câu, như “Tại sao
tiếng thở của Water (một nhân vật của phim) lại không giống tiếng thở của chúng
ta?”, “Những mật thám kia làm thế nào có thể ẩn nấp trong bụng Ador (cũng tên
nhân vật trong phim)?”, “Những người đi đánh nhau tại sao phải đeo mặt nạ màu
trắng?”.

Trên
đường cùng mẹ đến cơ quan, cháu thường chỉ cho tôi những vật mà cháu chưa quen
biết, đòi tôi phải cho cháu biết tên. Tôi nói cho cháu nghe tên từng thứ một,
sau đó hỏi lại cháu: “Lá của cây hoa lăng tiêu giống cái gì nhỉ?”. Cháu nói:
“Giống cái kim”. Tôi bảo cháu: “Giống lông chim chứ”. Nhưng khi quan sát kĩ thì
thấy những chiếc lá thoạt nhìn giống lông chim kia, quả thực lại rất giống hàng
ngàn chiếc kim thêu cắm dày đặc. Sự so sánh của cháu rất chính xác. Qua đó, tôi
chợt nhận ra rằng, cùng một sự việc, song dưới con mắt trẻ thơ, hình ảnh của nó
đã khác nhiều so với cách nhìn của người lớn.

Khi
tôi đang ghi nhật ký, Đình Nhi hỏi tôi: “Mẹ đang xem sách yêu quái gì đấy?”.
Tôi nói: “Mẹ đang giúp con ghi nhật ký, sau này nó sẽ trở thành câu chuyện về
con”. Đình Nhi vui sướng nói: “Ôi, tốt quá, con xin cám ơn mẹ!”. Một lát sau
cháu lấy những tấm thẻ kẹp sách ra chơi trò “đánh bài”, bỗng nhiên cháu nói:
“Mẹ ơi, con muốn mẹ sống tròn một trăm tuổi, không được chết sớm hơn tuổi này
đấy!”. Có lúc cháu cũng biết nói đùa: “A, hôm nay là ngày sinh nhật con mẹ
nhỉ?”… Thật đáng yêu.

Tháng
9 năm 1984, Đình Nhi được tiếp nhận vào Nhà trẻ kiểu mẫu số 3. Với ý muốn là
mong cháu hãy cố gắng, và cũng mừng vì từ nay không phải nhờ bảo mẫu nữa, tôi
đã mua tặng cháu một thứ đồ chơi mới.

Đó là
một bàn cờ nhảy. Tôi
nghĩ rằng, cách đánh “nhảy cóc” của loại cờ này rất có lợi cho việc bồi dưỡng
khả năng tư duy của trẻ nhỏ. Vì rằng, cách suy nghĩ để nhảy một nước cờ có tính
trực quan hơn các loại cờ khác, nó giúp cho trẻ nhỏ hiểu biết và suy nghĩ về
mối quan hệ lôgíc giữa “điều kiện” và “kết quả”, nó cũng rất tiện lợi cho việc
giúp trẻ con phát triển khả năng tập trung chú ý và suy nghĩ về một vấn đề. Đầu
tiên, tôi dạy cho Đình Nhi hiểu thế nào là “nhảy cóc”, sau đó dạy cho cháu biết
thế nào để lợi dụng
được quân cờ của mình và cả quân cờ của đối phương để làm những chiếc “cầu”,
thực hiện những bước nhảy liên tiếp. Đình Nhi hiểu khá nhanh. Nhưng để giành
được thắng lợi, cần phải tổ chức được những bước “nhảy dài”. Tôi và Đình Nhi
tập đánh, cứ mỗi lần Đình Nhi có những bước “nhảy dài”, cháu sung sướng lắm,
coi đó là một thành công lớn. Dẫu rằng, cuối cùng cháu vẫn bị thua, nhưng càng
chơi cháu càng thấy tự tin, càng chơi càng hứng thú. Cách chơi đầy tính thử
thách của loại cờ này luôn hấp dẫn Đình Nhi. Hơn nữa, tôi coi việc ngồi đánh cờ
với con là một phần thưởng cho cháu, mỗi lần cháu có những biểu hiện tốt. Cho
tới tận lúc cháu tốt nghiệp tiểu học, được ngồi đánh cờ với mẹ vẫn là một điều
vô cùng sung sướng đối với cháu.

Đồ
chơi của Đình Nhi không nhiều, mỗi lần mua đồ chơi, tôi đều suy nghĩ, đồ chơi
này có giúp ích được gì trong việc phát triển tâm trí của Đình Nhi. Từ 0 đến 1
tuổi, tôi chọn những đồ chơi nhận biết hình dạng, 1- 2 tuổi, tôi chọn những đồ
chơi đòi hỏi trí tưởng tượng của trẻ, sau 3 tuổi, chọn các đồ chơi đòi hỏi trí
lực nhiều hơn như cờ nhảy, cờ năm quân, mô hình kiến trúc, đàn điện tử… Ngoài
ra, còn mua cả các công cụ nhỏ để sử dụng trong các trò trơi như kính phóng
đại, đá nam châm, địa bàn, nhiệt kế, đồng hồ trò chơi, thước cuộn… Trong khi
chơi luôn chú ý kích thích tính hiếu kỳ và lòng ham muốn tìm tòi của trẻ.

TẠO DỰNG CƠ HỘI TỐT CHO TÍNH
CÁCH - CỐ GẮNG TẠO TIỀN ĐỀ ĐỀ
CAO TÌNH THƯƠNG

Năm
1985, cuốn “Tình cảm trí lực” của nhà văn Mỹ Daniel Corman ra đời, từ đó đến
nay, khái niệm “Tình thương EQ” đã thực sự ăn sâu vào lòng người, những người
có hiểu biết một chút về giáo dục biết rằng “Tình thương EQ” mới là mấu chốt để
quyết định sự thành công trong cuộc đời của mỗi con người. Tại sao “Tình thương
EQ” lại quan trọng đến như vậy?

Khái
niệm “Tình thương EQ” bao gồm những phẩm chất sau: tình cảm đạo đức trong sáng,
tính cách lạc quan hài hước, dũng khí dám đối mặt trước khó khăn và biết cách
khắc phục, biết tự an ủi, tính nhẫn nại kiên trì, có tấm lòng lương thiện vị
tha, biết sống hòa mình với mọi người, có khả năng kiềm chế tình cảm mình và kích thích tình cảm
của người khác… Tóm lại, đó chính là tình cảm của con người và kĩ năng giao
tiếp xã hội là tấy cả mọi nội dung ngoài nhân tố trí lực. “Tình thương EQ” cao
có thể khiến đứa trẻ trí lực bình thường cuối cùng cũng tạo ra được một cuộc
sống huy huy hoàng, “Tình thương EQ” thấp có thể biến một đứa trẻ có trí lực
siêu phàm thành một con người tầm thường vô vị.

Một
điều thú vị nữa là, khái niệm “Tình thương EQ” mãi đến năm 1990 mới được hai
nhà tâm lý học của Trường Đại học Harvard và một trường đại học khác của Mỹ lần
đầu tiên nêu ra. Năm 1997, tôi được đọc cuốn “Cánh cửa của EQ”: làm thế nào để
bồi dưỡng đứa trẻ có “tình thương cao độ”. Tôi nhận ra rằng, những đòi hỏi và
rèn luyện đối với Đình Nhi bấy lâu nay của chúng tôi, đều nhằm bồi dưỡng cho cháu
có được cái gọi là “tình thương cao độ” ấy. Chỉ có điều khi đó chưa có cái danh
từ kiểu Tây “Tình thương cao độ” này. Để Đình Nhi có được những khả năng và
phẩm chất như tôi hằng mong đợi, tôi luôn suy nghĩa làm thế nào từ những sự
việc nhỏ nhặt của đời thường có thể kiên trì bồi dưỡng phẩm chất và tính cách
cho Đình Nhi.

Tôi tin rằng, cơ sở của tính cách được hình
thành ngay trong những ngày thơ ấu. Thói quen sinh hoạt ngay từ những năm tháng
đầu đời, thái độ của cha mẹ, không khí gia đình… tất cả sẽ biến thành đặc trưng
tính cách của đứa trẻ sau này. Thời gian bắt đầu hình thành một thói quen là
khoảng thời gian vô cùng quan trọng. Bởi vậy, bắt đầu một sự việc nào đó, tôi
thường bắt Đình Nhi làm theo đúng yêu cầu. Những việc không đáng làm, kiên
quyết không được làm, dù có khóc lóc van nài cũng không nhượng bộ.


những bậc cha mẹ cứ thấy con khóc là mềm lòng, sau này đứa trẻ không vừa lòng cái gì lại lấy khóc để
được chiều theo như ý. Cứ khóc
là cha mẹ phải chiều, khóc là một điều kiện bắt người lớn phải làm theo ý nó.
Đón Đình Nhi từ nhà bà ngoại về tôi đã nói trước: Bất kỳ lúc nào con không được
lấy việc khóc nhè để vòi vĩnh, mẹ không ưa khóc nhè. Đã đôi lần Đình Nhi cũng
khóc nhưng không được chiều theo ý muốn. Cháu hiểu rằng: khóc nhè chả có ích lợi
gì, chỉ có làm theo yêu cầu mới là biện pháp duy nhất để giải quyết vấn đề.

Để
phòng ngừa ở Đình Nhi hình thành những tính xấu như: không yêu quý đồ đạc, ham
hưởng thụ vật chất, lãng phí tiền của, ích kỉ không quan tâm đến người khác…
tôi không bao giờ nhẹ dạ chiều theo mọi đòi hỏi về vật chất của Đình Nhi, cố
tạo cho cháu một thói quen ghét kẻ lười biếng và ăn bám. Hơn nữa, để bồi dưỡng
cho cháu có được phẩm chất biết đồng cam cộng khổ, tôi không bao giờ cho cháu
được một mình ăn cả bất kỳ một món thức ăn ngon miệng nào. Lúc bấy giờ, tiền
lương không đủ để mua hoa quả ăn tráng miệng, nhưng tôi vẫn cố chắt bóp để mỗi
ngày mẹ còn đều được chia nhau một thứ hoa quả nào đó. Phải phân chia, để cho
cháu thấy rằng “chia ngọt sẻ bùi” là một việc rất bình thường, còn ăn tham, ăn
cả là một việc không bình thường, là một thói xấu.

Để
rèn luyện đức tính tự kiềm chế của Đình Nhi, trên đường từ cơ quan về nhà, tôi
thường dẫn cháu vào chợ. Khi đến cổng chợ, tôi thường nói với cháu: “Nếu con
không vòi mẹ mua quà, thì mẹ cho con vào chợ chơi, còn nếu con cứ vòi vĩnh mẹ
mua quà, hai mẹ con mình không vào chợ nữa. Mẹ cho con chọn!”. Lần nào Đình Nhi
cũng nói: “Mẹ ơi! Con không vòi mẹ mua quà đâu!”. Tôi dẫn con vào chợ xem các
sạp hàng, dạy cho cháu biết
tên các loại hàng hóa mới.

Mẹ
con tôi thường dừng lại khá lâu trước quầy hàng đồ chơi trẻ con và quầy hàng
thực phẩm. Cứ mỗi lần Đình Nhi đến, chú bán hàng ở quầy đồ chơi lại cho Đình
Nhi dùng thử một vài loại đồ chơi mới. Đây là thời khắc vui thích nhất của Đình
Nhi trong mỗi lần đi chơi chợ. Khó xử nhất là khi đứng trước quầy thực phẩm.
Dạo đó hầu như ngày nào cũng có các mặt hàng thực phẩm mới được đóng gói rất
đẹp mắt bày ở trên quầy, chẳng cứ Đinh Nhi, ngay tôi cũng rất muốn mua về
thưởng thức. Nhưng Đình Nhi luôn biết kiềm chế, chưa bao giờ cháu đòi tôi mua
thứ này thứ nọ. Cả một quá trình kìm nén sự thèm muốn lặp đi lặp lại nhiều lần
như vậy, rất có lợi cho việc bồi dưỡng khả năng tự kiềm chế của Đình Nhi. Từ
nhỏ đến nay, Đình Nhi thường vượt qua được mọi cám dỗ thấp hèn, luôn biết làm
theo lý tính. Có thể nói, chính nhờ khả năng tự kiềm chế ấy, Đình Nhi đã giảm
được khá nhiều lần phải đi những con đường vòng quanh co.

Trang
nhật ký ngày 21 tháng 12 năm 1984, tôi đã ghi lại đôi điều về việc bồi dưỡng
tính cách cho Đình Nhi:

Thời
gian này tập trung bồi dưỡng cho Đình Nhi mấy khả năng như sau:

1. Phản
ứng nhanh chóng.
Đòi hỏi Đình Nhi phải có những phản ứng nhanh
chóng đối với lời sai bảo của người lớn, không được để người lớn phải nhắc đi
nhắc lại nhiều lần, kể cả những công việc cụ thể như: rửa chân tay, thu dọn đồ
chơi, giúp mẹ làm việc vặt…Và cả những công việc cần sửa sai như: chơi những
trò không nên chơi, thiếu lễ độ với những người mà cháu không ưa thích. Những
việc làm ấy cốt để cho Đình Nhi có được một tác phong nhanh nhẹn, một phản ứng
kịp thời.

2. Nắm
chắc phương pháp.
Trong cuộc sống thường ngày khi gặp khó khăn,
người lớn chủ yếu chỉ dạy cho Đình Nhi phương pháp giải quyết vấn đề, chứ không
làm thay, như mặc quần áo, gài cúc áo, vắt khăn mặt, lấy đồ vật, mở khóa bảo hiểm,
tắt loa đài… Luôn nhấn mạnh cho cháu về tầm quan trọng của phương pháp. Như vậy
rất có lợi cho việc bồi dưỡng khả năng độc lập giải quyết vấn đề của Đình Nhi.

3. Khả
năng song ngữ.
Yêu cầu ĐÌnh Nhi khi tiếp chuyện, đối với những
người nói tiếng Tứ Xuyên, phải nói bằng tiếng Tứ Xuyên; đối với những người nói
tiếng phổ thông, phải nói bằng tiếng phổ thông. Cháu thường hay quên yêu cầu
thứ hai này, nên tôi nói với cháu: “Con nghĩ xem cách nào để khỏi quên”. Cháu
nói: “Mẹ hãy dùng chữ “hử” để nhắc con”. Biện pháp này rất hiệu nghiệm. Vì
chính cháu nghĩ ra cách đó. Cùng một lúc nắm vững ngữ âm và từ vựng của hai thứ
tiếng địa phương. điều này rất có lợi cho việc bồi dưỡng khả năng mẫn cảm đối
với ngôn ngữ, rất có lợi cho việc học ngoại ngữ sau này.

4. Khả
năng phân biệt đúng sai.
Bồi dưỡng khả năng này tôi thường dùng biện pháp kể chuyện, phân
tích, bình phẩm về một con người, một sự việc để hướng dẫn cháu nhận ra đúng
sai. Cũng có lúc dùng cả hai biện pháp thưởng phạt. Phần thưởng chủ yếu là được
mẹ khen hoặc mẹ âu yến ôm vào lòng, còn phạt thường mà mẹ lặng im không nói,
hoặc nhốt vào nhà vệ sinh (biện pháp này ít dùng). Cũng có lúc cho mấy roi vào
mông, sau này bạn bè phê phán quá, tôi không dùng cách này nữa. Bạn bè tôi nói
đúng. Đánh đòn và quát mắng trẻ vô cớ không phải là biện pháp giáo dục hay. Khi
xử phạt nên nói rõ lý do. Tính tôi rất nóng, cho nên thường hay quát mắng Đình
Nhi. Gần đây tôi đã sửa chữa khá nhiều. Để cho mẹ không phải quát mắng, Đình
Nhi cố gắng ngoan hơn, so với trước kia cháu đã tự giác nhiều hơn.

Ông
Phùng Đức Toàn, một chuyên gia giáo dục sớm cho rằng: Một tính tốt phải có bốn
cơ sở sau: một là vui vẻ, hoạt bát; hai là bình tĩnh, chuyên tâm; ba là dũng
cảm tự tin; bốn là yêu lao động, luôn quan tâm đến mọi người. Những tính các
phẩm chất ấy đều là những nội dung quan trọng của “tình thương EQ”. Đó cũng là
những tố chất mà tôi đã dạy dỗ cháu thông qua những việc làm cụ thể, và luôn
được củng cố trong cuộc sống hàng ngày.

 

[-([-([-( Thêm gacsach khi tìm truyện trên google để đọc bản ít lỗi chính tả hơn \:D/\:D/\:D/