Mãi Đừng Xa Tôi - Phần I - Chương 07 - Phần 2

Vết thương không đến nỗi nặng lắm, và mặc dù cậu ta được đưa tới chỗ Mặt Quạ để chăm sóc vết thương, nhưng gần như quay về ngay với một miếng bột hình vuông bó vào cùi chỏ. Chẳng ai quan tâm lắm chuyện đó cho đến vài hôm sau, khi Tommy tháo băng, bày ra một cái gì đó đang ở chính giữa giai đoạn nửa đã đâm da non, nửa vẫn còn là vết thương há miệng. Ta thấy rõ những mẩu da bắt đầu liền lại, và những mẩu mềm đỏ hỏn vẫn còn lấp ló bên dưới. Chúng tôi đang ăn dở bữa trưa, thế nên tất cả mọi người xúm lại mà kêu “Eo ôi, tởm!” Rồi Christopher H. ở lớp trên nói với vẻ mặt vô cùng thành thực: “Đáng tiếc là ngay chỗ cùi chỏ ấy. Chứ ở bất kỳ chỗ nào khác thì đã không sao.”

Tommy có vẻ lo lắng – Chirstopher là người mà cậu ngưỡng một hồi đó – bèn hỏi cậu kia ý muốn nói gì. Christopher vẫn ăn, rồi mới nói với vẻ thờ ơ:

“Cậu không biết à? Nếu bị rách ngay trên cùi chỏ như vậy thì có thể bục ra. Chỉ cần cậu gập tay nhanh là bục liền. Không chỉ có chỗ bị thương đâu, mà toàn bộ cái cùi chỏ ấy, nó sẽ bục ra như cái bao bị rạch vậy. Mình cứ nghĩ cậu biết rồi chớ.”

Tôi nghe thấy Tommy than phiền rằng Mặt Quạ không hề cảnh báo gì cậu về chuyện đó cả, nhưng Christopher nhún vai mà nói: “Dĩ nhiên bà ấy nghĩ là cậu biết. Ai cũng biết mà.”

Nhiều người gần đó lẩm bẩm tán thành. “Cậu phải giữ tay cậu lúc nào cũng thẳng tắp ra. Gập lại là nguy hiểm lắm,” ai đó bả.

Ngày hôm sau tôi thấy Tommy đi đâu cũng giữ cánh tay thẳng đuỗn và có vẻ lo âu. Ai cũng cười cậu ta, và tôi rất bực về điều đó, nhưng tôi buộc phải thừa nhận rằng cũng có khía cạnh buồn cười thật. Thế rồi đến xế chiều, trong khi chúng tôi đang rời khỏi Phòng Vẽ, cậu ta lại gần tôi trong hành lang và nói: “Kath này, mình có thể nói chuyện này với cậu một chút không?”

Khi đó có lẽ là một vài tuần sau cái lần tôi đến gặp Tommy trên sân chơi để nhắc về chiếc áo cổ lọ của cậu, thành thử ai nấy đều biết chúng tôi là những người bạn đặc biệt theo một kiểu nào đó. Dẫu vậy, việc cậu ấy lại gần xin nói chuyện riêng vẫn khiến tôi hơi lúng túng và đâm ra rối trí. Có lẽ một phần vì vậy tôi đã chẳng giúp gì nhiều cho cậu.

“Mình chẳng hề quá lo chuyện gì,” khi đã kéo tôi ra một góc rồi, cậu nói. “Nhưng mình muốn sao cho an toàn, vậy thôi. Chúng mình chẳng bao giờ nên liều với sức khỏe của mình. Mình cần ai đó giúp, Kathy ạ.” Cậu giải thích rằng cậu đang lo âu về những gì cậu có thể làm trong khi ngủ. Cậu có thể dễ dàng gập cùi chỏ lại giữa đêm. “Mình cứ nằm mơ suốt, thấy mình đánh nhau với hàng đàn hàng lũ quân La Mã.”

Khi tôi gặng hỏi cậu thêm một chút, thì mới vỡ lẽ là đủ mọi loại người – những ai không có mặt ở giờ ăn trưa hôm đó – đã đến gặp Tommy để nhắc lại lời cảnh báo của Christopher H. Trên thực tế, hình như một vài người đã đẩy trò đùa đi xa hơn: người ta kể với Tommy về một học sinh đi ngủ với một vế thương trên cùi chỏ giống như của cậu ấy, sáng ra thức dậy mới nhận ra rằng toàn bộ cánh tay trên và bàn tay đã lòi hết xương ra, da lòng thòng bên cạnh “như một trong chiếc găng tay dài ngoằng trong phim Yểu điệu thục nữ[3] ấy.”

[3] Nguyên văn: My Fair Lady, bộ phim nổi tiếng dựa theo vở kịch Pygmalion của George Bernard Shaw, đạo diện George Cukor, diễn viên chính Audrey Hepburn và Rex Harrison, đoạt giải thưởng Oscar năm 1964, thường được người xem Việt Nam biết đến dưới cái tên Yểu điệu thục nữ – ND.

Giờ Tommy nhờ tôi nẹp cánh tay lại để giữ cho nó thẳng vào ban đêm.

“Mình chẳng tin ai khác cả,” cậu vừa nói vừa giơ lên một cây thước dày mà cậu muốn dùng để nẹp. “Chúng nó sẽ cố tình nẹp sao cho giữa đêm lại bung ra.”

Cậu nhìn tôi với vẻ hoàn toàn ngây thơ và tôi chẳng biết nói gì. Một phần trong tôi tha thiết muốn nói với cậu thật ra đang có chuyện gì, và chắc tôi cũng biết, nếu làm bất cứ điều gì khác đi, tôi sẽ phụ lòng tin cậy mà chúng tôi đã gây dựng được từ giây phút tôi nhắc nhở cậu ấy về chiếc áo cổ lọ. Và đối với tôi, nẹp tay cậu ta lại sẽ có nghĩa là chính tôi trở thành một trong những thủ phạm chính của trò đùa này. Tôi thấy hổ thẹn đã không nói với cậu khi đó. Nhưng bạn cần nhớ rằng khi đó tôi còn nhỏ, và tôi chỉ có vài giây để quyết định. Và khi ai đó nhờ bạn làm một điều gì với vẻ khẩn khoản thế kia thì thật khó mà nói không cho được.

Tôi cho rằng cái chính là tôi không muốn làm cậu phật lòng. Bởi vì tôi thấy, mặc dù lo lắng cho cái cùi chỏ của mình là vậy, cậu rất cảm động trước sự quan tâm mà cậu tin là người ta đã bày tỏ đối với mình. Dĩ nhiên, tôi biết sớm muộn gì cậu cũng sẽ biết sự thật, nhưng lúc đó tôi không thể cho cậu biết. Điều tốt nhất tôi có thể làm là hỏi:

“Mặt Quạ có bảo cậu phải làm thế này không?”

“Không. Nhưng cứ thử tưởng tượng xem bà ấy sẽ giận thế nào nếu cùi chỏ mình bị bật ra.”

Tôi vẫn cảm thấy khó xử, nhưng tôi vẫn hứa sẽ nẹp tay cho cậu – ở Phòng 14 nửa tiếng trước chuông báo giờ đi ngủ – rồi nhìn cậu quay đi với vẻ yên tâm và biết ơn.

Nhưng hóa ra tôi không phải theo đến cùng chuyện đó bởi Tommy phát hiện ra sự thật đầu tiên. Lúc đó là khoảng tám giờ tối, tôi đang đi xuống cầu thang chính thì nghe một tràng cười nổi lên từ chân cầu thang dưới tầng trệt. Tim tôi chùng xuống vì tôi biết ngay tràng cười đó có liên quan đến Tommy. Tôi dừng lại ở chiếu nghỉ lầu một rồi nhìn qua lan can vừa đúng lú Tommy từ trong phòng bi-a đi ra, nện gót ầm ầm như sấm. Tôi nhớ khi đó mình nghĩ: “Ít nhất thì cậu ấy cũng không thét lác ầm lên.” Và đúng là cậu ấy không gào thét, chỉ sầm sầm đi về phía tủ giữ mũ áo, lấy hết đồ mình rồi đi khỏi ngôi nhà chính. Suốt thời gian đó tiếng cười vẫn vang lên từ phía cửa phòng bi-a để mở, cùng những giọng hét lên những cậu đại loại như “Nếu cậu ấy mất bình tĩnh thì cùi chỏ cậu cầm chắc là sẽ bục ra đó!”

Tôi đã nghĩ đến chuyện theo cậu đi ra ngoài trời tối và đuổi kịp cậu trước khi cậu về đến phòng ngủ của mình, nhưng rồi tôi nhớ lại mình đã hứa đến tối sẽ nẹp tay cho cậu ấy, thế là tôi không nhúc nhích. Tôi chỉ nhắc đi nhắc lại với chính mình: “Ít nhất là cậu ấy đã không nổi cơn tam bành. Ít nhất cậu ấy cũng đã kìm được cái tính khí ấy.”

Nhưng tôi đi hơi xa rồi. Sở dĩ tôi kể chuyện này là bởi cái ý rằng thứ này thứ nọ “bung ra” đã chuyển từ cai cùi chỏ của Tommy thành một chuyện đùa thông dụng của chúng tôi khi nói về hiến tạng. Cái ý ấy là, khi thời điểm đến, mình chỉ việc “kéo khóa” phần nào đó trên cơ thể mình, một cái thận hay gì gì đó sẽ “bung ra”, mình chỉ việc đưa nó cho người ta thôi. Bản thân việc đó chúng tôi cũng chẳng thấy buồn cười cho lắm; đúng hơn là chúng tôi dùng trò đó để khiến cho ai đó ăn mất ngon. Chẳng hạn, ta bung lá gan của mình ra rồi đặt lên đĩa ai đó, kiểu như vậy. Tôi nhớ có lần khi Gary B., cái cậu háu ăn đến khó tin, bê suất bánh pút đinh thứ ba trở về chỗ ngồi, hầu như cả bàn xung quanh ai nấy đều “bung” một mẩu nào đó của mình ra mà chất đầy vào bát của Gary, trong khi cậu chàng cứ thế mà tọng thật lực.

Tommy chẳng bao giờ thích thú gì mỗi khi cái chuyện bung này bung nọ lại tái diễn, nhưng cho đến lúc đó thì cái thời cậu bị bạn bè chòng ghẹo đã qua và không ai còn gắn liền trò đùa nọ với cậu nữa. Chúng tôi đùa thế chỉ để cười vui, để ai đó không còn bụng dạ nào ăn xong bữa – và, tôi cho rằng như một cách để thừa nhận những gì đang đợi chúng tôi ở phía trước. Và đây mới đúng là điều quan trọng tôi muốn nói. Cho đến giai đoạn đó trong đời, chúng tôi không còn tránh né chủ đề hiến tạng như một, hai năm trước nữa, nhưng chúng tôi cũng chẳng nghĩ một cách nghiêm túc cho lắm, cũng chẳng hay bàn về nó. Toàn bộ chuyện “bung này bung nọ” kia là tiêu biểu cho cái cách chủ đề đó đã tác động đến chúng tôi như thế nào năm chúng tôi mười ba tuổi.

Vì vậy tôi mới nói cô Lucy có phần có lý khi cô bảo chúng tôi khoảng hai năm sau đó rằng chúng tôi “vừa được cho biết vừa chẳng được biết gì.” Và còn hơn thế, giờ đây tôi nghiệm ra, tôi có thể nói rằng những gì cô Lucy nói chiều hôm đó đã dẫn tới một bước ngoặt thực sự trong thái độ của chúng tôi. Chính là từ sau ngày đó, những chuyện đùa về việc hiến tạng nhạt dần đi, và chúng tôi bắt đầu suy nghĩ một cách thích đáng về mọi chuyện. Có chăng, chuyện hiến tạng quay lại là một chủ đề cần tránh, nhưng không phải tránh theo kiểu khi chúng tôi còn nhỏ. Lần này chủ đề không còn làm ta khó xử hay bối rối nữa; nó chỉ trở nên ảm đạm và nghiêm túc hơn.

“Buồn cười thật,” Tommy bảo tôi khi chúng tôi nhớ lại tất cả chuyện đó cách đây vài năm. “Chẳng ai trong bọn mình thử nghĩ xem chính cô Lucy ấy, cô cảm nhận thế nào. Bọn mình chẳng bao giờ bận tâm xem liệu cô ấy có gặp rắc rối không khi nói chuyện đó với bọn mình. Hồi đó bọn mình thật ích kỷ.”

“Nhưng anh không thể buộc tội bọn mình được,” tôi nói. “Người ta dạy bọn mình nghĩ về nhau, nhưng chẳng bao giờ bảo bọn mình nghĩ về các giám thị cả. Cái ý tưởng rằng bản thân các giám thị cũng khác nhau, nó chẳng bao giờ nảy ra trong đầu bọn mình cả.”

“Nhưng hồi đó bọn mình cũng đủ lớn rồi,” Tommy nói. “Ở tuổi đó đáng lẽ bọn mình phải nghĩ được vậy chứ. Nhưng không. Chúng mình đã hoàn toàn không nghĩ đến cô Lucy tội nghiệp. Kể cả sau lần ấy nữa, em hiểu không, lần em gặp cô ấy ấy mà.”

Tôi biết ngay ý anh là gì. Anh đang nhắc tới một buổi sáng dạo đầu mùa hè cuối cùng của chúng tôi tại Hailsham, khi tôi tình cờ chạm trán cô Lucy trong Phòng 22. Giờ đây nghĩ lại, tôi thấy Tommy có lý. Sau khoảnh khắc đó, lẽ ra ngay cả chúng tôi cũng phải thấy rõ cô Lucy đã gặp phiền phức đến thế nào. Nhưng, như Tommy đã nói, chúng tôi chẳng bao giờ suy xét điều gì từ vị thế của cô Lucy, và chúng tôi đã chẳng bao giờ nghĩ ra rằng cần phải nói hay làm gì đó để ủng hộ cô.

Mua sách giấy (nếu có) để ủng hộ tác giả và đọc bản có chất lượng tốt hơn <3

Tìm Mua Sách Này

Hãy để lại chút cảm nghĩ khi đọc xong truyện để tác giả và nhóm dịch có động lực hơn bạn nhé <3