Cạm Bẫy Độc Thân (The Bachelor Trap) - Chương 06 - Phần 1

Chương 6

Longbury là một thị trấn nhỏ khiêm tốn nép mình trong một thung lũng trong vùng núi đồi South Downs và được thịnh vượng bởi việc buôn bán lông cừu. Nhiều thế kỷ trước, đó là nơi tọa lạc của một tu viện dòng Biển Đức [Benedictine], nhưng tất cả những gì còn lại của sự hiện diện của các nhà sư chỉ là Priory [ngôi nhà dòng] của họ, bây giờ đã là một trang viện của gia tộc FitzAlans, gia tộc đứng đầu trong khu vực này. Gia tộc của Brand.

Trang viện nằm trên một đỉnh đồi, và mặc dù Brand đã cưỡi ngựa hàng giờ trong mưa phùn triền miên, đôi mắt chàng nặng trĩu mệt nhọc, ánh mắt của chàng vẫn dán chặt không hề lay chuyển vào cái nóc nhà của ngôi Priory được khắc họa rõ nét tại chân trời.

Ngôi nhà của ông ngoại chàng, trang viện Grange, nằm đối diện trên con đường dẫn xuống mé sông. Vào thời huy hoàng của nó, trang viện Grange đã sử dụng làm một vựa lúa, trang trại, và là ngôi nhà của cha xứ trước khi một thương gia mua bán lông trừu tái thiết lại nó cho gia đình ông sinh sống.

Khi vận may của gia đình ấy bị suy sụp, đa phần đất đai đã được bán đi và ngôi nhà chính và những căn nhà phụ đã được truyền từ tay chủ này đến tay chủ khác cho đến khi được mua lại bởi gia tộc Hamilton. Grange là một trang viện khiêm tốn hai tầng xây bằng gạch nung nằm trong một khu đất rộng lớn, và một nơi cư trú phù hợp dù có phần nào đơn sơ cho người ông ngoại Thanh giáo của chàng.

Gần nhà là một dãy chuồng ngựa mà ông ngoại của chàng đã sử dụng rất ít ngoại trừ làm chỗ trú cho ngựa và xe ngựa của mình. Mặc dù chỉ vừa mới có chút ánh sáng bình minh, những cậu giữ ngựa mà Manley thuê đã tích cực làm việc, và Brand thật sự vui mừng khi để ngựa của chàng cho họ lo liệu. Sau đó, chàng lảo đảo tiến đến căn nhà, vứt áo choàng đẫm nước của mình trong đại sảnh, và leo lên cầu thang rồi vào giường.

Khi Brand thức giấc, ánh nắng mặt trời đã tràn ngập phòng ngủ của chàng. Ý nghĩ đầu tiên đến với chàng là trời đã ngừng mưa. Ý nghĩ thứ nhì là chàng cần nhớ rằng nhà của ông ngoại không có những chiếc giường lông mềm mại, chỉ có những tấm nệm mà cảm giác như thể chúng đã được nhồi bằng gạch. Trên thực tế, chúng đã được nhồi bằng lông ngựa.

Vừa ngáp vừa rên rỉ, chàng lăn xuống giường và dùng một chút thời gian để làm giãn những cơ bắp đang đau nhức của mình. Chàng đã ngủ trong bộ quần áo hôm qua và chàng không dám chắc rằng cái mùi hôi khai đến từ con ngựa chàng cưỡi hay là từ tấm nệm, hay từ bản thân. May mắn thay, chàng luôn giữ rất nhiều quần áo trong tủ xếp và tủ treo, quần áo của một nông dân không bao giờ hợp hay lỗi mốt.

Chàng thấy lò sưởi đã được đốt lên và chuyện ấy đã cho chàng hy vọng. Đến bên sợi dây chuông, chàng kéo một cái thật mạnh. Niềm hy vọng của chàng đã trở thành sự thật trong vài phút khi một cậu bé với tóc vàng rối bời khoảng mười hai tuổi bước vào buồng của chàng.

“Tên của cậu là...?” Brand hỏi.

“Sam,” cậu bé đáp. “Sam Ludlo.”

Brand nhớ mẹ của Sam rất rõ ràng. Bà ấy là đầu bếp của Edwina cũng như là một người-giúp-việc-toàn-diện. Hơn thế nữa, bà là một trong những người mà chàng muốn thẩm vấn trong cuộc hành trình bất ngờ này. Bà chính là người đã tìm thấy thi hài của Edwina. Có lẽ bà ấy biết nhiều hơn bà tưởng - nếu thật sự là có nhiều chuyện hơn để biết.

“Có cách nào cho tôi được tắm vào buổi sáng hôm nay không?” Chàng hỏi cậu bé.

Sam mỉm cười. “Mẹ tôi đã bảo tôi ông sẽ nói thế, do đó, điều đầu tiên mẹ đã làm khi chúng tôi đến là nhúm lửa nấu nước.”

“Tuyệt vời”, Brand xoa tay nói.

Chưa đầy một giờ sau chàng đã tắm xong và thay quần áo, Brand bước vào bếp và cảm thấy đã trở lại bình thường. Bà Ludlow thì y như gì hầu hết mọi phụ nữ nông thôn: ngay khi bà nghe tiếng chân người đàn ông tại cửa, bà đã để sẵn phần ăn của chàng trên bàn.

“Ông sẽ phải ăn trong nhà bếp, thưa ông,” bà nói, chất món trứng rán đầy vun trên đĩa của chàng. “Tôi chưa kịp đốt lò sưởi trong các phòng khác.”

“Nhà bếp cũng được,” Brand quả quyết với bà. “Và đừng bận tâm đốt lò sưởi làm gì. Tôi sẽ ra ra vào vào khá nhiều.”

Chàng hầu như ngồi chưa ấm chỗ thì đĩa thức ăn đã được đặt trước mặt chàng - thịt cừu lạnh, thận, và trứng chiên xốp. Tiếp đến là bánh mì nướng với một bát mứt marmalade [mứt trét bánh mì với được ngâm với trái cây và một ít vỏ trái cây]. Chàng đợi cho đến khi bà ấy rót cà phê trước khi chàng mời bà ngồi với chàng.

“Để nói về nhiệm vụ của bà ở đây,” chàng nói.

Bà mỉm cười và lắc đầu. “Tôi chỉ giúp một tay cho đến khi người của ông đến đây. Ông thấy đấy, tôi đã có một chân công việc. Tôi sẽ làm việc cho tiểu thư Marion lên ở ngôi nhà nông thôn kia.”

“Ah. Tôi lẽ ra nên sớm biết. Tất cả như nhau, hãy ngồi xuống và bầu bạn với tôi một hồi đã.”

Bà nhìn chàng như thể chàng đã mất trí. Hạ nhân đâu thể bầu bạn với chủ nhân của họ.

Chàng trao cho bà một nụ cười quyến rũ nhất. “Tôi không bao giờ có cơ hội để nói với bà là Edwina cảm kích bà bao nhiêu vì những điều bà đã làm cho bà ấy. Bà ấy không bao giờ ngừng ca ngợi về bà.” Và đó là sự thật.

Bà đã khuất phục và sau đó ngồi vào chiếc ghế mà chàng đã chỉ định, đôi tay nhám rô khẽ đan lại trên đùi. Tổ tiên người Xen-to [Celtic] của bà đã được biểu hiện qua mái tóc đen tuyền của bà và đôi gò má thật cao [xương thật tốt]. Chàng đánh giá bà đang ở độ tuổi bốn mươi. Rõ ràng, cậu bé kia đã được thừa hưởng ngoại hình từ người cha.

Chàng đã nhớ lại, lúc đó, bà là một góa phụ. Còn có những đứa con khác ngoài Sam, những đứa con còn nhỏ tuổi hơn, được bà ngoại chúng chăm sóc trong khi bà Ludlow làm việc để chu cấp cho chúng. Sự tôn trọng của chàng đối với người phụ nữ này tăng thêm vài phần.

Bà đang nhìn chàng chờ đợi.

Dẫn dắt câu chuyện một cách nhẹ nhàng, chàng nói: “Bà đã làm việc với Cô Gunn được bao lâu rồi?”

“Không lâu lắm. Năm năm, sau khi tôi trở thành một góa phụ và mẹ tôi đã đến sống với chúng tôi.” Bóng dáng của một nụ cười hiện lên vành môi. “Cô Gunn luôn luôn nhớ ngày sinh nhật của lũ trẻ.”

“Đúng là phong cách của Edwina.”

Bà gật đầu. “Bà ấy luôn luôn thật tử tế, và thật rộng rãi.”

Chàng để một thoáng im lặng trôi qua và nhai miếng thịt cừu lạnh. Chàng tiếp tục một cách cẩn thận: “Tôi nghe nói rằng bà đã không dễ dàng để trải qua những tuần cuối cùng ấy. Ý của tôi là, bà ấy đã trở thành hay đãng trí và thường nghi ngờ bạn bè của mình.”Anh dừng lại khi nhìn thấy bà ấy đã sừng sộ xù bộ lông [nhím].

Lúc này chẳng còn chút nhũn nhặn hoặc tôn trọng nào trong giọng nói của bà khi bà nói. “Ông có bao giờ đã quên nơi để kính hoặc chìa khóa của ông không, Ông Hamilton? Ông có luôn nhớ tên của mọi người? Bà ấy đã không đãng trí so với bất cứ người nào, nhưng...” Bà cắn nhẹ xuống làn môi như thể bà vừa nhớ một cách muộn màng rằng bà đang nói chuyện với ai.

“Nhưng?” Brand cổ vũ bà vẫn cùng một giọng từ tốn.

Bà trút một tiếng thở dài. “Bà ấy bị phiền não về chuyện trong quá khứ, về em gái của bà, cô Hannah. Bà muốn biết những gì đã xảy ra với cô Hannah.”

“Mọi người đều tin rằng cô ta đã bỏ trốn theo trai.”

“Cô Gunn nói rằng đó là một lời nói dối và bà sẽ chứng thật điều đó.”

“Ai đã nói với bà ấy đấy là một lời nói dối?”

“Bà ấy đã không kể với tôi, và tôi đã không ép bà. Chính vì nó không phải là chuyện tôi nên xía vô, phải không? Bà ấy là cô chủ của tôi.”

“Cô Gunn đã nghĩ rằng chuyện gì đã xảy ra với cô Hannah?”

Mắt bà liếc ra cửa như thể hy vọng sẽ có người nào tiến vào để chấm dứt cuộc phỏng vấn này.

Cuối cùng, bà nói: “Bà ấy không nói.”

Chàng không muốn làm bà cảnh giác bằng cách liên tục đặt câu hỏi, nhưng chàng không tìm hiểu thêm được điều gì, ngoại trừ bà Ludlow không tin Edwina đã trở nên lú lẫn hay là suy yếu vì tuổi già. Bà ấy có lẽ đang cố bảo vệ người chủ nhân đã luôn luôn đối xử tốt với bà, nhưng Brand đã không nghĩ rằng đó là điều có khả năng. Sự phẫn nộ của bà thay cho Edwina có vẻ quá chân thành.

Chàng uống một ngụm cà phê trước khi tiếp tục một cách cẩn thận: “Bà đã không tiết lộ bất cứ chuyện đời tư nào, bà Ludlow. Edwina đã nói với tôi tất cả những điều này trong một lá thư bà ấy viết. Và tôi sẽ phải nói rằng bà ta có vẻ rất tỉnh táo [không điên rồ] như là bà hoặc là tôi.”

“Bà ấy đã viết thư cho ông?”

Chàng gật đầu.

“Chuyện này xảy ra khi nào?”

“Một vài tuần trước vụ tai nạn. Tôi đã đi công tác ngoài thành và đã không nhận được thư của bà cho đến khi sau tang lễ. Sao bà lại hỏi chuyện này?”

Niềm phấn kích chết lặng trong mắt bà. “Khi tôi tìm thấy bà ấy ở chân cầu thang, có những vết mực trên ngón tay của bà ta, nhưng không một ai trong nhóm cảnh sát cũng như tôi đã tìm thấy lá thư hay bất cứ thứ gì mà bà ấy có thể đã viết.”

Bây giờ thì đó là một điều mới mẽ, và là một dấu hiệu đầu tiên của một sự bất thường. “Chỉ còn một câu hỏi nữa,” chàng nói. Khi bà lo lắng nhìn chàng, chàng do dự. Chàng không muốn gây ra cảm giác lo sợ cho bà. Chàng muốn lấy được lòng tin của bà để bà tự tâm sự với chàng. Sẽ còn có cơ hội khác để nói chuyện với bà ấy.

Để đổi hướng của câu chuyện, chàng nói: “Làm thế nào mà bà có khiến những quả trứng được xốp như thế?”

***

Khi chàng lê bước lên cái dốc đứng để đến nhà mình, Brand không khỏi tự ngẫm nghĩ về hoàn cảnh của mình. Khi chàng đã đủ tuổi để ra ngoài tự lực cánh sinh, chàng liền rời khỏi ngôi nhà Priory và thề sẽ không bao giờ trở lại nữa. Mọi thứ đã không được tiến triển như dự kiến.

Ngay cả trong cái chết, cha của chàng cũng đã cố có lời nói cuối cùng [cho một cuộc cãi vã]. Bằng các điều khoản trong di chúc cuối của vị công tước, ông đã chỉ định Brand là người uỷ thác duy nhất để trông nom mấy anh chị em cùng cha khác mẹ của chàng. Mọi người đều nghĩ chàng sẽ thoái thác và chuyển trách nhiệm ấy cho người chú của mình, Ngài Robert. Chàng đã không làm vậy.

Ngài Robert đã không có hứng thú hoặc tài năng để quản lý sự vụ của Andrew, nhưng Brand có, và chàng đã quyết tâm để giúp người anh em cùng cha khác mẹ của mình xứng đáng với tài sản to tát của cậu ta.

Khi người quản gia mở cánh cửa trước và đưa chàng vào Đại Sảnh Đường, Brand cảm thấy như thể thời gian bị lùi lại. Khi còn là một cậu bé, chàng đã tưởng tượng ông Hartley vào khoảng tám mươi tuổi. Ông ấy đã không thay đổi chút nào. Cũng như Đại Sảnh Đường. Những bức thảm trang trí vô giá tô điểm cho tường của đại sảnh, cùng một bộ giáp hiệp sĩ ngồi trên lưng con ngựa chiến nhồi bông.

“Cậu nhìn rất khỏe, thưa cậu,” Hartley quan sát chàng với một nụ cười uể oải, sau đó thông báo với chàng rằng nhóm phụ nữ đang ăn sáng trong phòng gia đình.

“Chỉ có nhóm phụ nữ?” Brand hỏi.

Hartley gật đầu. “Ngài Robert và Phu nhân Theodora, tôi tin rằng, đã đến thăm bạn bè ở Windsor. Phu nhân đã để mắt đến một con ngựa cái.”

Điều đó nghe có vẻ giống Theodora. Ngựa và săn bắn là những thú vui của đời bà. Bà không có con cái để thu hút sự quan tâm của mình từ chuyện theo đuổi những con ngựa, và không có chồng. Ngài Robert có thể đã đi hộ tống phu nhân ông ấy đến Windsor, nhưng một khi đến đó thì họ sẽ tách ra đường ai nấy đi.

“Và Ngài Công Tước?” [12] Brand hỏi, ám chỉ Andrew.

[12] Nguyên văn là His Grace: cách gọi theo lễ nghi.

Nụ cười của Hartley làm nhăn đôi gò má gầy của ông. “Ồ, cậu công tước trẻ đang ở cùng với người cai quản trang viện, tại trang trại.”

Đó là chính xác những gì Brand muốn được nghe. Tiền tài của gia tộc FitzAlans phụ thuộc vào đất đai và trang trại của họ. Đó là điều cần thiết để một công tước trẻ hiểu rõ tất cả mọi khía cạnh của trang viện của và bất động sản của cậu ấy được quản lý ra sao.

Đây là mùa nuôi cừu, và việc buôn bán lông cừu rất là quan trọng đối với tài chính của trang viện. Với sự giúp đỡ của Ông Terrance, người cai quản trang viện mà đích tay Brand đã chọn, quá trình huấn luyện Andrew mới vừa khởi đầu.

“Không cần phải thông báo dùm tôi,” chàng nói với Hartley, và chàng đi qua đại sảnh lát đá đi về cánh khu Tây của ngôi nhà.

Khi chàng bước vào phòng gia đình, chàng dừng lại và nhìn lướt qua quang cảnh. Công tước phu nhân, bà nội của chàng, ngồi ở đầu bàn, trông có vẻ trang nghiêm như chàng đã từng nhìn thấy bà trong bộ thời trang của thời đại cổ xưa. Không như các nữ công tước với vòng eo cao và vải gạc mỏng manh của các nàng hiện đại.

Bên phải là người bầu bạn lâu năm của bà,cô Cutter, người mà chàng đã đặt là cô Flutter vì theo thói quen của bà, bà luôn tung tăng từ chủ đề này qua chủ đề khác trong một cuộc trò chuyện và để mọi người trong sự mơ hồ trong lúc bà ta nói chuyện.

Bên tủ búp phê thì cô em gái cùng ca khác mẹ của chàng, Clarice, ở tuổi giáp ba mươi, đẹp đẽ, với những đường nét đẹp đậm đà của gia tộc FitzAlan và hàng chân mày đậm và đáng sợ mà cô sử dụng với hiệu quả đáng gờm.

Ý chí đáng gờm đó của gia tộc FitzAlans được chia đều trong gia tộc, bao gồm cả bản thân chàng, vì vậy khi người gia tộc FitzAlans có tranh chấp, những người khôn ngoan sẽ chạy tìm chỗ trốn.

Bà nội của chàng nhìn thấy chàng trước tiên. Bà lên tiếng: “Ôi, đừng có đứng đó như một người hầu. Hãy vào đi, vào đi.”

Brand ngoan ngoãn đến bên phu nhân và hôn lên đôi má mỏng như giấy mà bà chìa cho chàng. “Thưa phu nhân,” chàng thì thầm với một sự tôn trọng pha nhiễm một chút châm biếm. Họ đều biết chàng là một thành viên đảng cộng hòa từ trong máu.

“Cháu ngày càng nhìn giống cha cháu hơn,” phu nhân nói.

Ánh mắt của họ chạm nhau. Nó khiến chàng vô cùng ngạc nhiên vì chàng thật sự yêu thích bà già độc ác này, người đã ban cho chàng một thời niên thiếu gian nan. Tuổi tác, rõ ràng, đã khiến chàng mềm lòng.

“Nhận đòn,” [13] chàng thì thào, chấp nhận cú đánh, và thái hậu phát ra một tiếng cười giòn khe khẽ.

[13] Nguyên văn là Touché: biểu thức được sử dụng để nhận một lời nhận xét hoặc là để chỉ đã bị chạm trúng trong khi đấu kiếm.

Clarice đã ngồi xuống. Cô ta lên tiếng: “Sao, kẻ hoang đàng đã trở lại. Chuyện gì đã khiến chúng tôi có được vinh dự này?”

“Chào buổi sáng với em luôn, Clarice,” chàng đáp lời chào một cách vui vẻ, sau đó chào cô Cutter.

Cô Cutter, đang hậm hực với giọng nói không lễ phép của Clarice, nhanh chóng xen vào: “Không một chút hoang đàng nào, Phu nhân Clarice. Brand đã rời khỏi Priory và tạo nghiệp thành công, như ông Lewis tốt bụng người làm chủ ngôi nhà của gia tộc Sayers. Ông không phải là một người địa phương, nhưng rất văn minh lễ phép. Họ nói rằng...”

Mệnh phụ phu nhân chiếm lấy quyền ra lệnh. “Lotty”, bà nói quả quyết: “cô làm ơn kéo chuông gọi Hartley và yêu cầu ông ta mang một bình trà mới pha nhé?”

“Vẫn còn trà trong bình,” cô Cutter đáp.

“Như vậy cũng được rồi”, Brand nói.

Phu nhân gật đầu. Ánh mắt của bà chuyển sang Brand. “Này, chuyện cả nhà nghe nói cháu dấn thân vào lĩnh vực chính trị là thế nào vậy? Hãy ngồi xuống kể với bà mọi thứ.”

Phu nhân, như chàng biết quá rõ, có cách riêng của mình trong việc tìm tòi mọi việc, nên chàng nói với bà một cách càng ngắn gọn càng tốt về những kế hoạch của chàng. Điều này nhen nhóm sự hứng thú nghiêm túc cho đến khi đến việc chàng sẽ tân trang lại ngôi nhà của ông ngoại và sẽ định cư ở đó cho đến khi cuộc bầu cử kết thúc.

Bà nội chàng đã nghe nói đến chuyện xây lại ngôi nhà ra nhưng chưa nghe đến chuyện chàng có ý định ở đó một thời gian. “Priory có gì không ổn sao?” Bà đòi hỏi câu trả lời với một ánh mắt xuyên thấu.

Tách trà và đĩa để tách của chàng đã được đưa đến tận tay chàng, và Brand đã dành chút thời gian để sắp xếp trật tự suy nghĩ của mình trong khi chàng khuấy đều tách trà. Chàng không muốn ở lại Priory vì chàng thích làm chủ của căn nhà của mình, và ở đây đã có quá nhiều chủ nhân rồi.

“Cháu không muốn để mọi người bị bất tiện, thưa bà,” chàng đáp. “Có thể có các quý ông đến và đi vào mọi lúc trong ngày, họ dùng bữa vào những giờ bất thường. Cháu không phải là định thết tiệc, nhưng là xây dựng lại ngôi nhà để làm căn cứ của cháu với các đồng nghiệp. Chúng cháu muốn giành thắng lợi cuộc bầu cử.”