Cạm Bẫy Độc Thân (The Bachelor Trap) - Chương 02 - Phần 1

Chương 2

Brand Hamilton đã tự chuốc lấy quá nhiều phiền muộn cho bản thân. Đây là suy nghĩ của Marion khi nàng đánh giá cái khoảng cách giữa chiếc giường và bàn trang điểm. Trên bàn trang điểm là cái ví dẹp[3], là cái mà nàng đã mang đến nhà hát. Nàng không thể nhớ đã đánh rơi nó, nhưng nàng phải cho rằng nàng chắc đã đánh rơi nó khi bị té ngã.

[3] Nguyên văn: pochette: cái ví hình phong thư dèm dẹp để các nàng bà dùng vào những bữa dạ yến hay tham dự lễ lạc nào đó v.v... cho gọn và nhẹ.

Một cô hầu gái đã mang nó lên khi bác sĩ đến, và từ thời điểm đó, nàng không khỏi cứ lướt mắt nhìn đến nó. Vụ tai nạn tại nhà hát cơ hồ như không có vẻ là một chuyện vô ý nữa, và nàng không thể hiểu vì sao nàng đã không nghi ngờ điều gì đó sớm hơn.

Nếu nàng đã được cho uống một trong những loại bột thuốc của bà Dyce, nàng đã có thể tự mình đi đến phía bên kia căn phòng.

Cô Fanny đã thậm chí tìm được một cây gậy cho nàng mà bây giờ đang tựa cạnh thành giường. Tuy nhiên, ông Hamilton đã đề cập đến một từ đáng sợ “chấn thương não”, và nó đã đủ để thuyết phục bác sĩ Mendes. Chấn thương não và thuốc phiện là những thứ không thể pha trộn.

“Cô chỉ bị bầm mấy ngón chân thôi, cô à. Cô không cần phải dùng thuốc phiện để giảm đau.” Ông bác sĩ vui tính nói. “Sáng mai thì mọi thứ sẽ trở lại bình thường thôi.”

Nói thì dễ, nhưng các ngón chân của nàng vẫn còn đau nhói và nàng thực sự muốn bước đến bàn trang điểm khi mọi người còn đang trong phòng khách của Fanny dưới lầu để dùng các món giải khát.

Theo yêu cầu của Fanny bữa tiệc tại khách sạn Clarendon chỉ đơn giản được chuyển đến Quảng trường Hanover sau khi bà biết được thương tích của đã không có gì nghiêm trọng hơn là vài ngón chân bị bầm tím.

Nàng ngẫm nghĩ về việc té ngã tại nhà hát một hồi lâu, hình dung lại từ đầu khi nàng hụt bước. Không thể nghi ngờ rằng nàng đã bị xô ngã, nhưng hầu như không thể tin rằng đó là một vụ cố ý.

Khó tin hay không, nàng cũng phải tin. Đây không phải là sự cố rủi ro đầu tiên xảy với nàng. Chỉ vào tuần trước, khi nàng đang xem pháo hoa tại khu vườn Vauxhall, ai đó đã xuất hiện từ trong bụi cây đẩy nàng ngã rồi chạy đi với cái túi xách tay[4] của nàng. Chiếc túi đã được trả lại ngày hôm sau. Người đàn ông đem trả không để lại danh tính.

[4] Nguyên văn: reticule: túi xách có dây thắt miệng.

Cũng giống như lần này.

Nàng chưa từng nghĩ đến là có ai đó đang cố tìm cách giết nàng cho dù chỉ là một khoảnh khắc. Những vụ rủi ro thật là quá nhỏ không đủ để giết người. Nhưng chắc chắn là có ai đó đã đang cố làm nàng sợ hãi. Phải chi nàng có thể lấy được chiếc ví dẹp của mình, nàng sẽ sớm biết là suy nghĩ của mình là đúng hay nàng đã chỉ đơn thuần cho phép trí tưởng tượng của mình chạy loạn.

Nghiến chặt răng, nàng đẩy chăn mền khỏi người và quẳng chân qua một bên thành giường. Bây giờ nàng có thể cảm thấy nỗi đau nhức và thống khổ khác mà nàng phải chịu với từ cú ngã này - đầu gối bị trầy xước, những bắp thịt ở eo lưng thắt lại từng cục tròn, và những cái thốn đau từng cơn phía sau đôi mắt.

Nàng với tay đến cây gậy khi cánh cửa phòng chậm chạp mở ra. Phoebe đã đứng đó, trù trừ tại ngưỡng cửa, nhưng khi cô bé nhìn thấy Marion đang đứng trên đôi chân của nàng, khuôn mặt nhỏ của cô bé nở rộ với nụ cười toe toét.

“Em nghe nói chị bị ngã xuống cầu thang tại nhà hát”, cô bé nói.

“Chị chỉ bị bầm những ngón chân thôi. Không có đau gì cả.”

Marion nói tỉnh bơ. Phoebe đã bị ám ảnh khi nghe đến những vụ tai nạn. Ba năm trước, khi cô bé vừa bảy tuổi, cô đã bị té từ trên lưng ngựa và bị gãy chân. Xương chân của cô đã không lành hẳn. Kết quả là khi Phoebe bước đi, cô phải khập khiễng một cách vụng về.

Marion đã cố không làm lớn chuyện của cô em này vì Phoebe ghét bị coi là một người khuyết tật. Nhưng có đôi lúc khi nàng nghĩ rằng không có ai để ý, nàng thường ngắm nhìn Phoebe và lo lắng khi thấy gương mặt xanh xao của cô bé đã trở nên gầy guộc như thế nào.

Đã quá khuya. Nàng nên đuổi Phoebe về phòng với những lời trách mắng nhẹ nhàng. Thay vào đó, nàng ngồi lại xuống giường và vỗ nhẹ vào tấm nệm, mời Phoebe đến ngồi cạnh.

“Em bị lạnh kìa,” nàng nói khi Phoebe rúc vào chăn mền bên cạnh nàng.

Nàng nhìn xuống một gương mặt mà rất có thể là của nàng khi nàng còn là một bé gái mười tuổi - đôi mắt màu xám, chiếc cằm bướng bỉnh, và làn da xanh xao để phù hợp với mái tóc hoe của cô.

Cả hai chị em đều giống mẹ, trong khi Emily lại có làn tóc đen tuyền của cha. Marion nghĩ sự khác biệt giữa Phoebe và nàng chính là khi mười tuổi, nàng đã có một nhóm tàn nhang rải rác bừa bãi trên mũi và má.

Phoebe đã dành quá nhiều thời gian trong nhà chúi mũi vào một quyển sách.

Marion hy vọng rằng chuyện này sẽ được thay đổi khi chị em nàng dọn đến Longbury. Tại huyện Lake có những ngọn đồi và thung lũng hùng vĩ khiến chuyện di chuyển trở nên khó khăn. Tiết trời thì cứ mưa không biết ngừng nghỉ.

Marion cưỡng lại sự cám dỗ để ôm và hôn em và rốt cuộc chỉ xoa bóp để đem một chút ấm áp đến chân tay lạnh cóng của cô bé. “Chị biết tại sao em lại lạnh rồi”, Marion nói. “Em không phải mới vừa từ giường của mình đến đây. Em đã lại cái mẹo cũ chứ gì, nghe trộm người ta nói chuyện.”

Một trong những trò giải trí mà Phoebe yêu thích nhất là trốn phía sau bức màn trên lan can và nhìn xuống khách khứa ra vào nhà Fanny.

“Em muốn biết những gì đã xảy ra với chị,” Phoebe phản đối: “và khi em nghe ông Hamilton nhắc đến tên của chị, em liền dừng lại để lắng nghe.”

Marion định mở miệng rầy em nhưng bỗng nghĩ lại. “Ông Hamilton đã nhắc tên chị?” Nàng hỏi một cách ngây thơ.

Phoebe gật đầu. “Anh ấy nói rằng chị rất có thể đã bị gãy xương ngón chân khi bị ngã.”

“Anh ta nghĩ vậy sao?” Điều đó sẽ lý giải tại sao cơn đau không chịu thuyên giảm.

“Phải, nhưng ông bác sĩ nói rằng không thể làm gì về chuyện ấy và tự nó sẽ dần lành lại.”

“Họ không thể làm gì!” Marion rất bất bình. “Họ có thể cho chị một loại bột thuốc của bà Dyce.”

“Không phải chị nói nó không đau sao?”

Marion khoanh tay trước ngực. Phoebe luôn giỏi bắt bẻ những câu nói dối vô hại của người lớn. “Nó thật đau,” nàng nói: “khi chị mới về nhà. Giờ thì đã không còn đau nhiều như vậy nữa.”

Phoebe liếc nhìn Marion, sau đó nàng ấy cũng khoanh tay trước ngực mình. Quan sát cử chỉ này, Marion cố nén một nụ cười. Em gái mong muốn được giống như nàng là một hứng thú nhất thời, nàng hy vọng là vậy. Các thần tượng thường làm thất vọng.

“Còn có điều gì khác...” Nàng hắng giọng. “Còn có điều gì khác nói về chị không?”

“Không. Không nói rõ tên. Nhưng em nghe cô họ Fanny nói rằng nếu ông Hamilton tự tìm cho mình một người vợ thì quả thật là tốt.”

Marion kinh ngạc. “Fanny nói vậy với ông Hamilton?”

“Không, tất nhiên là không. Với dượng Reggie, sau khi dượng nói với cô rằng dượng sẽ không quá ngạc nhiên nếu ông Hamilton trở thành thủ tướng nay mai. Có phải cô ấy đã nghĩ đến chị không, Marion?”

Marion bật một tiếng cười ngắn ngủi. “Không đâu! Điều gì khiến em nghĩ như thế?”

“Chị không thích anh ta sao, Marion? Em biết anh ấy thích chị. Và nếu chị kết hôn với thủ tướng thì sẽ thật tuyệt diệu, phải không nào? Em có thể viết nó trong cuốn lịch sử gia tộc và tất cả mọi người sẽ muốn đọc nó.”

Marion nghĩ đây là kết quả khi không tuân thủ một trong những quy tắc trọng yếu của mình. Mọi người đều có quyền riêng tư của mình. Nàng cũng không tốt hơn gì so với Phoebe, nhưng ít nhất Phoebe có lý do rằng cô chỉ là một đứa trẻ.

Nàng đã mở nắp chiếc hộp Pandora[5] và tốt hơn hết nàng nên đóng nó lại trước khi chuyện sát nhân và tội ác được phóng thích đầy thế giới.

[5] Pandora’s box: khi mở hộp thì cả lô tai nại sẽ gieo xuống.

“Lịch sử gia tộc em làm đến đâu rồi?”

Sở thích mới nhất của Phoebe là biên soạn lại lịch sử gia tộc. Cô bé luôn có những trò mới để đầu óc được bận bịu, và khi nào sự hứng thú của Phoebe nhạt phai, các chị của cô lại nghĩ ra cái gì mới để cô bận bịu trở lại.

Nếu cô là một đứa trẻ sôi động, mọi thứ hẳn sẽ khác. Nhưng cô bé lại rất dễ bị mỏi mệt và dành nhiều thời gian trong nhà. Sách cô đọc vượt ra ngoài tầm tuổi của cô, khâu vá, đan thêu, chơi đàn dương cầm, phát họa, và viết nhật ký.

Lịch sử gia tộc là ý tưởng của Emily, và Marion đã miễn cưỡng đồng ý, vì biết rằng sự cấm đoán sẽ đưa tới những câu hỏi mà nàng không muốn trả lời.

Phoebe ngáp thật dài: “Không có gì nhiều trong các bức thư của dì Edwina, và dì ấy đã không viết thư thường xuyên, phải không?”

Marion đã không đề cập đến sự ghẻ lạnh giữa mẹ và dì Edwina. “Có lẽ Mama đã không giữ tất cả những lá thư của dì Edwina, chỉ giữ những bức thú vị.”

“Ừ, nhưng điều đó không giúp ích gì cho em. Điều duy nhất em biết được là ông và bà ngoại Gunn rời khỏi Brighton để chuyển đến Longbury sau khi họ thành hôn, và nơi đó chính là nơi con cái của họ đã được sinh ra.”

“Ông ngoại Gunn là một đối tác tại một văn phòng luật sư địa phương. Đó là căn nhà của ông mà dì Edwina đã thừa kế, và bây giờ đến lượt chúng ta.”

“Em biết chuyện đó rồi”, Phoebe nói. “Em biết về Mama và dì Edwina, nhưng em không biết nhiều về Hannah.”

“Ừm, dì ấy đã qua đời nhiều năm về trước, rất lâu trước khi em được sinh ra.” Nàng ngẫm nghĩ một lúc: “Chị nhớ rằng dì đối xử tốt với chị.”

“Chị biết dì ấy?”

Marion mỉm cười. “Chị đã được bảy tuổi khi chúng ta đến thăm Longbury, và dì Hannah lúc đó chắc khoảng hai mươi. Dì ấy nhỏ tuổi hơn các chị của dì khá nhiều. Dì ấy đã chơi với chị, đọc truyện cho chị nghe, và dẫn chị đi những chuyến tản bộ thật dài qua khu rừng với con chó của dì.”

Marion cảm giác một cái giật mình nhỏ. “Chị đã quên mất về con chó. Scruff - đó là tên của chú chó. Nó rất yêu mến dì Hannah.”

Phoebe ai oán nói: “Trước đây chị chưa bao giờ kể với em chuyện này.”

“Nó đã xảy ra một thời gian rất lâu trước đây. Đó là tất cả những gì chị nhớ.

“Còn Mama? Mẹ không bao giờ nói đến dì Hannah. Mẹ không thích dì ấy sao?”

Marion choàng một tay ôm lấy vai của Phoebe. “Mẹ không nói đến dì,” nàng nói: “bởi vì nó làm mẹ buồn. Papa cũng như thế, em không nhớ sao, sau khi Mama qua đời?”

Phoebe xù lông nhím. “Vâng, em nghĩ điều đó thật phi lý! Nếu em chết đi, em muốn chị luôn nhắc đến em. Em không muốn bất cứ ai quên đi em.”

“Chị hứa”, Marion nói một cách long trọng: “sẽ nói về em nhiều đến nổi mọi người bịt chặt tai khi họ thấy chị tới.”

“Em nói thật lòng!”

“Chị cũng vậy. Chị có lẽ sẽ bị suy sụp tinh thần và mòn mỏi đi để trở thành một chiếc bóng của bản thân lúc xưa. Đủ rồi!” Nàng giơ tay ra hiệu cho Phoebe im lặng. “Chị chắc bị hư não rồi, lại cho phép em thức khuya đến thế. Đừng nghĩ rằng chị không biết em đang cố ý [làm chuyện này], khiến cho chị nói chuyện để chị quên đi bây giờ đã muộn thế nào.”

Nàng kéo lại chăn mền và chỉ về hướng cánh cửa. “Vào giường!”

Phoebe với ánh mắt đầy hy vọng nhìn vào mặt chị của cô, dường như nhận thức được trò chơi đã kết thúc, và leo ra khỏi giường.

Marion nói: “Chị không có được cái ôm chúc ngủ ngon sao?”

Phoebe chuyền từ chân này qua chân kia. “Tất nhiên. Nhưng không có được hôn đâu. Em đã quá lớn rồi.”

Marion phải mỉm cười. Nàng sẽ không xúc phạm Phoebe bằng cách chọc lêu lêu cái quan niệm là cô bé đã quá lớn để được hôn. Cô bé chỉ nhận được một cái ôm chóng vánh, sau đó Phoebe khập khiễng bước tới cửa.

“Và,” Marion gọi với theo cô bé: “không có thơ thẩn ở ban công nhé.”

Khi cánh cửa đã được đóng lại, Marion lại chìm lỉm trong những chiếc gối. Nàng không tin rằng dì Hannah đã chết bao nhiêu năm trước đây. Từ mẩu chuyện vụn vặt của những cuộc đàm thoại giữa cha mẹ nàng mà nàng đã loáng thoáng nghe được, nàng nghi ngờ rằng dì Hannah đã có thể trốn theo trai.

Nếu là vậy, thì nó đã là một bí mật mà cha mẹ nàng không muốn chia sẻ cùng con cái, một bí mật đã thuộc về quá khứ, và nàng vui lòng để nó yên nghỉ tại nơi đây. Nàng không nghĩ rằng Phoebe sẽ khám phá ra sự thật, nhưng nếu cô bé có tìm ra, thì đó cũng không phải là chuyện kinh thiên động địa gì cả.

Ý tưởng đó lại kéo ánh mắt nàng đến bàn trang điểm và chiếc ví dẹp của nàng. Nàng thở dài bước ra khỏi giường và xem thử mấy ngón chân bị bầm dập của mình. Nàng phát hiện rằng chúng không bị sưng, nhưng chỉ ép mạnh một chút đã khiến nàng nhăn nhó.

Nàng với lấy cây gậy và dùng nó để giữ thăng bằng, cò cò trên chiếc chân lành của mình để đến bàn trang điểm. Ngay bên trong cái ví dẹp, nhét cạnh khăn mùi soa, nàng đã tìm thấy nó.

Im lặng là vàng. Cô đã được cảnh báo.

Nàng vò nát tấm giấy trong lòng bàn tay, thầm nghĩ rằng chưa có ai đã đánh giá sai lầm về một người đàn ông như nàng đã đánh giá David.

***

“Thực sự đấy, Brand, tôi không biết làm sao cậu lại có thể sống trong hoàn cảnh thế này.” Ash Denison tìm thấy cái chai trong tủ búp phê và rót một ít brandy vào ly của mình. “Đâu phải là cậu nghèo khó. Cậu có thể sống như một ông vua nếu cậu muốn. Sao cậu lại chọn để sống trong căn nhà ảm đạm tại phố Thánh James trong khi anh có thể sống thoải mái tại Albany hoặc phố Bond?”

“Nơi đó quá tân thời đối với tôi.” Brand liếc quanh bên trong nội thất được trang trí môt cách đơn giản. “Những thứ này vừa đủ cho bản thân tôi, và tôi không cho ai biết địa chỉ. Nếu ai đó muốn tìm tôi, thì hắn có thể liên hệ tại văn phòng của tôi tại đường F. Cậu sẽ thấy rất ngạc nhiên vì có biết bao nhiêu độc giả muốn tìm tôi chỉ để nhổ vào mặt tôi thôi.” [Ôi, sao cảnh này giống lão Độc vật thế? - Vy]

“Vậy còn gì là cái đẹp và tao nhã?” Ash chiếm một chiếc ghế bọc da ở phía bên kia lò sưởi và nhìn chiếc ly trên tay với một vẻ ghê tởm khó dấu. “Những chiếc ly và bình rượu thủy tinh xinh đẹp đâu? Những món đồ bạc đắt tiền cần phải trưng bày trong tủ búp phê nữa? Còn rèm trướng nhung nữa chứ?”

Những lời của Ash gợi lại trong tâm trí của Brand một hình ảnh của [nhà dòng] Priory, nơi cư trú huy hoàng của cha chàng mà đã được phô bày tất cả những thứ xa hoa và lộng lẫy của nó. Chàng đã sống ở đó một thời, nhưng chàng chưa từng gọi đó là nhà. Với chàng, nhà chính là nơi ông ngoại đã nuôi dưỡng chàng. Và sau khi ông qua đời, nhà là một thứ gì chàng đã không còn suy nghĩ đến nữa.

Chàng hớp một ngụm brandy rồi nói: “Tôi không cần những cái gọi là những thứ tốt đẹp hơn trong cuộc sống để khiến tôi cảm thấy hạnh phúc. Một ngọn lửa ấm cúng trong lò và vài chiếc ghế thoải mái là đã đủ cho nhu cầu của tôi. Đừng lo lắng, Ash ạ. Tôi không tiếp đãi phụ nữ ở nơi này, nếu đó là chuyện cậu đang nghĩ.”

“Phụ nữ?” Ash phát ra một tiếng huýt chế giễu. “Phụ nữ nào? Cậu không bỏ chút thời gian cho bọn họ, cậu đã để hết tâm trí của mình vào hạm đội báo chí của cậu. Và bây giờ cậu lại suy nghĩ đến chuyện ứng cử với Quốc hội, cậu lại càng có ít thời gian hơn so với trước. Julia thì sao? Cô ta dạo này ở đâu?”

“Julia,” Brand lãnh đạm trả lời: “đã lệnh cho tôi đi khỏi.”

Ash bị sặc một miệng đầy rượu, khiến những giọt rượu bay tung tóe khi cánh tay anh bị giật. Không một giọt nào rơi lên chiếc áo khoác và chiếc quần tây được may thật tuyệt hảo và khéo léo của Ash. Đấy là một cái mẹo mà Brand đã phải ganh tị với Ash kể từ ngày họ còn cắp sách đến trường.