Đoạn đường để nhớ - Chương 09

Chương 9

Nói vở kịch là một thành công ác chiến tức là còn khiêm tốn. Nếu khán giả chỉ cười, khóc thôi thì cũng chỉ như những gì chúng tôi đã mong đợi. Nhưng nhờ sự có mặt của Jamie, vở kịch thực sự trở thành cái gì đó đặc biệt - và tôi nghĩ tất cả mọi người trong đội kịch đều sốc như tôi khi mọi thứ kết thúc tốt đẹp đến vậy. Tất cả đều có cái nhìn giống hệt tôi lúc trông thấy con bé lần đầu tiên, điều đó khiến cho vở kịch ấn tượng hơn nhiều khi nhưng người khác diễn phần của mình. Chúng tôi kết thúc buổi diễn đầu tiên không một khó khăn, và tin được không, thậm chí đêm hôm sau khán giả còn đến đông hơn. Ngay cả Eric sau đó cũng tìm gặp để chúc mừng tôi, sau những gì nó nói với tôi hôm trước thì điều này quả là đáng kinh ngạc.

“Hai đứa mày làm tốt lắm.” nó nói đơn giản, “Tao rất tự hào về mày, thằng bạn ạ.”

Trong lúc nó nói điều này, cô Garber đang kêu toáng lên, “Tuyệt hảo” với bất cứ kẻ nào chịu nghe cũng như những người chỉ tình cờ đi ngang qua, cô lặp đi lặp lại từ đó nhiều tới mức tôi tiếp tục nghe thấy “tuyệt hảo” rất lâu sau khi lên giường đi ngủ đêm ấy. Sau khi hạ màn lần cuối cùng, tôi tìm Jamie và thấy con bé đang ở trong cánh gà cùng với bố nó. Ông rơm rớm nước mắt – đó là lần đầu tiên tôi nhìn thấy ông khóc – Jamie sà vào vòng tay ông và họ ôm nhau một lúc lâu. Ông vừa vuốt tóc con bé vừa thì thầm, “Thiên thần của bố,” trong lúc con bé nhắm mắt, ngay cả tôi cũng cảm thấy nghẹn ngào,

Tôi nhận ra “điều đúng đắn” cũng không đến nỗi nào.

Cuối cùng, sau khi họ rời nhau ra, Hegbert tự hào rút lui để con bé tới chào nhưng người khác trong đội kịch, và con bé nhận được vô số lời chúc mừng của tất cả mọi người ở hậu trường. Mặc dù liên tục nói không biết vì sao mọi người cứ rối rít lên, con bé biết nó đã làm rất tốt. Vẫn vui vẻ như thường lệ, nhưng với vẻ ngoài thật xinh đẹp, con bé gây ra một ấn tượng hoàn toàn khác. Tôi đứng ở phía sau, để con bé tận hưởng giây phút của mình, và phải thừa nhận tôi cảm thấy một phần trong tôi cũng giống như ông già Hegbert. Tôi không thể không thấy mừng cho con bé, và cũng có một chút tự hào nữa. Rốt cuộc, khi nhìn thấy tôi đang đứng ngoài một bên cánh gà, con bé xin phép những người khác rồi đi về phía tôi, cuối cùng dừng lại khi ở khá gần.

Ngước nhìn tôi, con bé mỉm cười. “Landon, cảm ơn vì những gì cậu đã làm. Cậu khiến bố mình rất hạnh phúc”

“Không có gì,” tôi nói, hoàn toàn thật lòng.

Điều kỳ lạ là, khi con bé nói thế, tôi nhận ra Hegber sẽ lái xe đưa con bé về, và lần đầu tiên tôi ước mình có cơ hội đi bộ cùng con bé về nhà.

Thứ hai tiếp theo là tuần học cuối cùng của chúng tôi trước kỳ nghỉ lễ Giáng sinh, và tất các lớp đều lên lịch thi cuối kỳ. Thêm vào đó tôi phải hoàn thành hồ sơ xin học vào Đại học Bắc Carolina, điều mà tôi đã có phần lơ là do các buổi tập kịch. Tuần đó tôi dự định học hành chăm chỉ, tồi buổi tối trước khi đi ngủ sẽ làm hồ sơ xin học. Ngay cả như thế, tôi cũng không thể thôi nghĩ về Jamie.

Hóa thân của Jamie trong vở kịch thật sự gây sửng sốt. Mà nói thế còn là nhẹ, và tôi đoán việc này báo hiệu một sự thay đổi của con bé. Tôi không biết tại sao mình nghĩ vậy, nhưng tôi thực sự đã chắc mẩm điều đó, vì thế tôi ngạc nhiên khi sáng hôm sau con bé xuất hiện ở trường ăn mặc như thường lên: áo len nâu, tóc búi, váy kẻ caro, vân vân.

Con bé lại trở thành người mà ta chỉ nhìn một lần rồi quên, và tôi không thể không cảm thấy tiếc. Trong suốt cuối tuần, con bé đã được xem như một người bình thường – thậm chí đặc biệt – hoặc là có vẻ là như thế, nhưng bằng cách nào đó con bé đã để điều đó trôi qua. Ồ, mọi người có tử tế với nó hơn một chút, và những người chưa bao giờ nói chuyện với con bé cũng khen nó diễn mới hay làm sao, nhưng tôi có thể nói ngay lập tức rằng điều đó sẽ chẳng kéo dài. Thái độ được hình thành từ thời thơ ấu khó lòng mà phá vỡ được, và tôi phần nào băn khoăn liệu sau chuyện này thái độ đó có tồi tệ hơn không. Giờ đây khi người ta thực sự biết rằng con bé có thể trông hoàn toàn bình thường, có lẽ họ thậm chí còn trở nên vô tình hơn.

Rất muốn nói chuyện với con bé về những ấn tượng của mình, thực sự rất muốn, nhưng tôi định làm thế nào khi tuần đó qua đi. Không chỉ bởi có rất nhiều việc cần làm, mà còn vì tôi muốn có chút thời gian nghĩ cách hay nhất để nói với con bé. Thành thật mà nói, tôi vẫn còn cảm thấy đôi chút tội lỗi vì những điều đã nói với con bé trên đường đưa nó về nhà lần trước, và không chỉ bởi vở kịch hóa ra rất hay đâu. Lý do chủ yếu là vì trong thời gian chúng tôi bên nhau, Jamie đã rất tử tế và tôi biết mình đã sai.

Thật lòng mà nói, tôi không nghĩ con bé muốn trò chuyện với tôi. Tôi biết con bé nhìn thấy tôi tụ tập với bọn bạn vào giờ ăn trưa trong lúc nó ngồi một góc đọc Kinh thánh, có điều nó không bao giờ lại gần chúng tôi. Nhưng hôm ấy lúc tan trường, tôi nghe thấy giọng con bé phía sau, hỏi xem tôi có đưa nó về nhà được không. Mặc dù chưa sẵn sàng nói những suy nghĩ của mình với con bé, tôi vẫn đồng ý. Vì tôi muốn nhớ lại những lần cùng đi về vui vẻ trước đây.

Một phút sau, Jamie đi thẳng vào vấn đề.

“Cậu còn nhớ đã nói gì lúc đưa mình về nhà lần trước không?” con bé hỏi,

Tôi gật đầu, ước gì con bé đừng nói tới chuyện này.

“Cậu đã hứa sẽ đền bù cho mình,” con bé nói.

Tôi bối rối mất một lúc. Tôi tưởng mình đã đền bù bằng cách diễn kịch rồi chứ. Jamie tiếp tục.

“Ừm, mình đã nghĩ xem cậu có thể làm gì,” con bé tiếp tục mà không để tôi chen vào lấy một lời, “và mình đã nghĩ ra việc này.”

Con bé nhờ tôi đi thu thập những vỏ lọ dưa muối và hộp cà phê nó đã đặt trong tất cả các cửa tiệm khắp thị trấn hồi đầu năm. Chúng được đặt ở quầy thu ngân, thường là cạnh máy tính tiền, để người ta có thể bỏ tiền lẻ vào. Số tiền này dành cho những đứa trẻ mồ côi, Jamie chưa bao giờ trực tiếp hỏi xin tiền, con bé muốn mọi người tự nguyện đóng góp. Nó nghĩ đó là điều những người Thiên Chúa giáo nên làm.

Tôi nhớ đã nhìn thấy đám vỏ hộp đó ở những nơi như quán Cecil’s và nhà hát Vương Miện. Bọn bạn và tôi thường quẳng kẹp giấy và mẩu kim loại vào đó khi nhân viên thu nhân không nhìn, bởi nghe giống như một đồng xu được thả vào bên trong, rồi bọn tôi cười thầm vì đã chơi xỏ được Jamie. Bọn tôi thường đùa cợt về việc con bé sẽ mở cái hộp như thế nào, sẽ hi vọng điều tốt đẹp khi thấy cái hộp nặng tay ra sao, và rồi dốc ra mà chẳng thấy gì hết ngoài những mẩu kim loại và kẹp giấy. Đôi lúc bạn phải cau mày khi nhớ lại việc mình từng làm, và đó chính xác là những gì mặt tôi biểu hiện lúc này.

Jamie trông thấy vẻ mặt tôi.

“Cậu không phải làm thế đâu,” con bé nói, vẻ thất vọng hiện rõ. “Mình chỉ nghĩ Giáng sinh sắp đến và đơn giản là sẽ mất rất lâu để thu thập hết tất cả số vỏ hộp vì mình không có ô tô…”

“Không”, tôi nói, cắt ngang lời con bé, “mình sẽ làm. Dù sao thì mình cũng không bận lắm.”

Vậy là bắt đầu từ ngày thứ Tư tôi đi thu vỏ hộp dù có những bài kiểm tra cần chuẩn bị, và cả hồ sơ xin học cần phải làm xong, Jamie đưa cho tôi danh sách những nơi con bé đặt vỏ hộp, ngày hôm sau tôi mượn xe của mẹ và bắt đầu từ chỗ xa nhất của thị trấn. Con bé để khoảng sáu mươi chiếc hộp tất cả, và tính chỉ mất một ngày để gom hết số đó. So với chuyện đi đặt chúng, đây là việc hết sức dễ dàng. Jamie mất gần sáu tuần để làm vì đầu tiên phải tìm được sáu mươi chiếc hộp rỗng, rồi sau đó chỉ có thể đặt hai hay ba cái một ngày vì nó không có ô tô và mỗi lần chỉ mang được chừng đó. Lúc đầu, tôi cảm thấy hơi buồn cười khi làm người đi thu gom bởi đó là dự án của Jamie, nhưng rồi tôi tự nhủ rằng Jamie đã nhờ giúp đỡ.

Tôi đi từ chỗ này tới chỗ khác, thu gom hộp và lọ, và vào cuối ngày đầu tiên tôi nhận ra sẽ mất nhiều thời gian hơn dự tính. Tôi chỉ thu được chừng hai mươi cái, bởi tôi đã quên một thực tế giản đơn về đời sống ở Beaufort. Trong một thị trấn nhỏ như thế này, không thể chỉ đơn giản chạy vào bên trong tóm lấy cái vỏ hộp mà không tán gẫu với chủ cửa hàng hoặc chào hỏi những người bạn quen. Đơn giản là không làm thế được. Vì thế tôi phải ngồi nghe một anh chàng nói về con cá kiếm câu được mùa thu trước, hoặc giả người ta sẽ hỏi tôi việc học hành ở trường thế nào rồi nói rằng họ cần phụ giúp tháo dỡ một vài chiếc hộp ở phía sau, hay có thể họ muốn nghe ý kiến của tôi về việc có nên chuyển giá để tạp chí qua phía khác của cửa hàng hay không. Tôi biết Jamie hẳn rất giỏi những việc này, và gắng cư xử như tôi nghĩ là con bé muốn tôi làm thế. Dù sao đây cũng là dự án của con bé.

Để cho nhanh, tôi không dừng lại để kiểm tra số tiền giữa các cửa hàng, Tôi chỉ đổ tất cả vào một cái lọ hoặc cái hộp tiếp theo, gom chúng lại trong lúc tiếp tục. Vào cuối ngày đầu tiên, tất cả số tiền được để trong hai chiếc lọ lớn và tôi mang chúng vào phòng mình. Tôi thấy vài tờ tiền giấy qua lớp kính- không quá nhiều – nhưng tôi không thực sự lo lắng cho đến khi dốc hết cả ra sàn nhà và nhận thấy chủ yếu là những đồng một xu. Mặc dù không có nhiều mẩu kim loại và kẹp giấy như tôi tưởng, tôi vẫn cảm thấy chán nản khi đếm số tiền. Có 20,32 đô la. Thậm chí vào năm 1958 đó cũng không phải là số tiền lớn, đặc biệt khi chia cho ba mươi đứa trẻ.

Mặc dù vậy, tôi không nản lòng. Nghĩ rằng đó chỉ là một sai lầm, ngày hôm sau tôi tiếp tục gom thêm vài tá hộp, lọ và tán gẫu với khoảng hai chục người chủ tiệm khác. Số tiền là 23,89 đô la.

Ngày thứ ba thậm chí còn tồi tệ hơn. Tôi không dám tin sau khi đếm số tiền thu được. Chỉ có 11,52 đô la. Số tiền này thu được từ những cửa hàng gần biển, nơi khách du lịch và bọn choai choai như tôi tụ tập. Tôi không ngăn được suy nghĩ rằng chúng tôi thực sự rất tệ.

Tôi cảm thấy thật khủng khiếp khi nhìn thấy toàn bộ số tiền thu được ít ỏi biết chừng nào – 55,73 đô la – nhất là khi những chiếc lọ đã ở đó cả năm trời và tôi đã nhìn thấy chúng không biết bao nhiêu lần. Tối đó, lẽ ra tôi phải gọi điện cho Jamie để con bé biết số tiền thu được, nhưng đơn giản là tôi không thể làm thế. Con bé đã nói rằng năm nay nó muốn làm điều gì đó thật đặc biệt, mà số tiền này thì chẳng thấm tháp gì – đến tôi cũng biết điều ấy. Thay vào đó, tôi nói dối và bảo con bé rằng sẽ không đếm tổng số tiến cho đến khi cả hai chúng tôi có thể đếm cùng nhau, bởi vì đây là dự án của con bé, không phải của tôi. Thật đáng thất vọng. Tôi hứa chiều hôm sau, sau khi tan trường sẽ mang số tiền tới. Hôm sau là ngày 21 tháng mười hai, ngày ngắn nhất trong năm. Chỉ còn bốn ngày nữa là tới Giáng sinh.

“Landon,” con bé nói với tôi sau khi đếm số tiền, “quả là một điều kỳ diệu!”

“Chỗ đó bao nhiêu vậy?” tôi hỏi. Tôi biết chính xác có bao nhiêu.

“Có gần hai trăm bốn mươi bảy đô la ở đây!” Con bé vui khủng khiếp khi ngước lên nhìn tôi. Bởi vì Hegbert ở nhà nên tôi được phép ngồi trong phòng khác, nơi Jamie đếm tiền. Tiền được xếp thành những đống nhỏ gọn gàng khắp sàn nhà, gần như toàn là đồng hai lăm xu và mười xu. Hegbert đang ngồi bên bàn bếp, viết bài giảng đạo, và ngay cả ông cũng quay đầu lại khi nghe thấy giọng con bé.

“Như thế có đủ không?” tôi ngây thơ hỏi.

Nước mắt lăn dài trên má con bé khi nó nhìn quanh căn phòng, vẫn còn không tin những gì ngay trước mặt. Thậm chí sau khi công diễn vở kịch, con bé cũng không hạnh phúc như thế này. Con bé nhìn thẳng vào tôi.

“Thật… tuyệt vời,” con bé nói rồi mỉm cười. Giọng nó xúc động hơn hết thảy những lần tôi đã nghe trước đó. “Năm ngoái mình chỉ quyên góp được bảy mươi đô la.”

“Thật vui vì năm nay việc quyên góp hiệu quả hơn,” tôi nói, cổ họng nghẹn lại. “Nếu cậu không đặt những chiếc lọ này sớm như thế thì có lẽ đã không quyên góp được nhiều thế này.”

Tôi biết mình đang nói dối, nhưng chẳng sao. Thi thoảng, nói dối lại là điều đúng đắn.

Tôi không giúp Jamie chọn đồ chơi - dù sao tôi cũng cho rằng con bé biết rõ bọn trẻ muốn gì hơn tôi - nhưng nó nài nỉ tôi đi cùng tới trại trẻ mồ côi vào đêm Giáng sinh để tôi có thể ở đó khi bọn trẻ mồ côi mở quà. “Làm ơn đi mà, Landon,” con bé nói, và bởi nó quá ư hào hứng nên tôi hoàn toàn không nỡ khiến con bé thất vọng.

Vì thế ba ngày sau, trong lúc bố mẹ tôi dự tiệc tại nhà ông thị trưởng, tôi mặc áo khoác vải kẻ và thắt chiếc cà vạt đẹp nhất rồi đi tới chỗ ô tô của mẹ tới với món quà cho Jamie kẹp dưới cánh tay. Tôi đã tiêu những đồng đô la cuối cùng để mua một chiếc áo len đẹp bởi đó là món quà duy nhất tôi có thể nghĩ ra làm quà cho con bé. Chắc chắn con bé không phải là kiểu người mà ta dễ mua đồ cho.

Đáng ra tôi phải có mặt ở trại trẻ mồ côi lúc bảy giờ, nhưng cây cầu gần cảng thành phố Morrehead bị kéo lên, và tôi phải chờ một chiếc tàu chở hàng chậm rãi xuôi kênh đào. Kết quả là tôi đến muộn vài phút. Khi ấy cửa trước đã khoá, và tôi phải nện cửa ầm ầm cho đến khi ông Jenkins nghe thấy. Ông lóng ngóng với chùm chìa khoá mất một lúc mới tìm thấy đúng chìa, và một lát sau ông mở cửa cho tôi. Tôi bước vào trong, khoanh tay để bớt lạnh.

“À… cậu đây rồi,” ông vui vẻ nói. “Chúng tôi đang chờ cậu. Đi thôi, tôi sẽ đưa cậu đến chỗ mọi người.”

Ông dẫn tôi đi xuôi hàng lang tới phòng giải trí, nơi tôi đã từng đến. Tôi dừng một chút để thở ra thật sâu trước khi bước vào trong.

Căn phòng thậm chí còn đẹp hơn là tôi tưởng tượng.

Ở chính giữa phòng tôi nhìn thấy cây thông khổng lồ trang hoàng dây kim tuyến, đèn màu và nhiều đồ trang trí tự làm khác. Dưới gốc cây, trải ra mọi hướng, là những món quà được gói bọc đủ mọi kích cỡ và hình dáng. Chúng được xếp thành đống cao, và bọn trẻ ngồi cạnh nhau dưới sàn nhà thành một hình bán nguyệt lớn. Chúng mặc những bộ đồ đẹp nhất, tôi đoán vậy - bọn con trai mặc quần màu xanh hải quân và áo sơ mi trắng có cổ, trong khi bọn con gái mặc váy xanh hải quân và áo dài tay. Tất cả tưởng như đã tắm rửa sạch sẽ trước sự kiện lớn, và hầu hết bọn con trai đều được cắt tóc.

Trên chiếc bàn cạnh cửa có một hũ rượu pân và những chiếc đĩa gỗ đựng bánh quy có hình cây thông Noel rắc đường. Tôi có thể thấy vài người lớn đang ngồi với bọn trẻ; mấy đứa nhỏ hơn ngồi trên đùi người lớn, gương mặt chúng chăm chú mê mải khi lắng nghe truyện “Đó là Đêm trước Giáng sinh”.

Tuy nhiên tôi không thấy Jamie, ít nhất không phải ngay lập tức. Giọng của con bé là cái tôi nhận ra đầu tiên. Con bé chính là người đang đọc truyện, và cuối cùng tôi xác định được vị trí của nó. Con bé đang quỳ trên sàn nhà trước cây thông Noel.

Thật ngạc nhiên, tối nay tôi thấy con bé thả tóc, giống như trong đêm diễn kịch. Thay vì chiếc áo len nâu cũ kỹ tôi nhìn thấy quá nhiều lần, con bé nào đó làm nổi bật cặp mắt màu xanh nhạt của nó. Thậm chí không cần những ánh lấp lánh trên tóc và chiếc đầm trắng mềm rủ dài, hình ảnh của con bé vẫn thật bắt mắt. Tôi thậm chí không hay rằng mình đã nín thở, và từ khoé mắt tôi có thể thấy ông Jenkins đang cười với mình. Tôi thở ra và mỉm cười, cố gắng lấy lại bình tĩnh.

Jamie chỉ ngừng lại một lần để nhìn lên lúc đọc truyện. Con bé nhận thấy tôi đang đứng ở ngưỡng cửa, rồi quay lại tiếp tục đọc truyện cho bọn trẻ. Con bé mất khoảng một phút nữa để đọc xong, và khi kết thúc, nó đứng dậy vuốt phẳng váy rồi đi vòng qua lũ trẻ về phía tôi. Vì không biết con bé muốn tôi đi đâu, tôi bèn đứng nguyên một chỗ.

Lúc đó ông Jenkins đã đi chỗ khác.

“Mình xin lỗi đã bắt đầu mà không có cậu,” cuối cùng con bé nói khi đến bên tôi, “nhưng bọn trẻ quá hào hứng.”

“Không sao,” tôi vừa mỉm cười vừa nghĩ con bé trông thật xinh.

“Rất vui vì cậu đã tới.”

“Mình cũng vậy.”

Jamie mỉm cười và túm lấy tay tôi dắt đi. “Đi với mình,” con bé nói. “Hãy giúp mình phát quà.”

Chúng tôi mất một tiếng sau chỉ để chia quà và quan sát từng đứa trẻ một mở quà. Jamie mua quà khắp thị trấn, chọn cho mỗi đứa trẻ trong phòng một vài thứ, những món quà chúng chưa bao giờ được nhận trước đó. Tuy nhiên, quà Jamie mua không phải là những thứ duy nhất mà bọn trẻ con nhận được - cả trại trẻ mồ côi và những người làm việc ở đó cũng đều mua một vài thứ. Những tiếng kêu ré vui thích vang lên khắp nơi lúc giấy gói quà được xé khắp phòng trong nỗi hào hứng vô kể. Ít nhất với tôi, có vẻ như tất cả bọn trẻ đều nhận được hơn hẳn những gì chúng trông đợi, và chúng cứ cảm ơn Jamie mãi.

Cuối cùng, sự háo hức giảm bớt, tất cả các món quà đã được mở, không khí bắt đầu chùng xuống. Căn phòng được ông Jenkins và người phụ nữ tôi chưa gặp bao giờ dọn dẹp gọn gàng, vài đứa nhỏ bắt đầu ngủ gục dưới cây thông. Mấy đứa lớn hơn mang quà về phòng mình, và khi đi ra cửa bọn trẻ vặn nhỏ những chiếc đèn trên đầu. Những bóng đèn màu trên cây toả thứ ánh sáng rực rỡ thần tiên trong khi bản nhạc “Đêm an lành” cất lên khe khẽ từ chiếc máy hát đặt ở nơi góc phòng. Tôi vẫn ngồi cạnh Jamie trên sàn nhà, con bé đang ôm một bé gái ngủ trong long. Vì không khí khi nãy náo nhiệt quá nên chúng tôi chưa thực sự có cơ hội nói chuyện, nói thế không có nghĩa có ai trong hai đứa bận tâm vì điều ấy. Cả hai chúng tôi đều nhìn chằm chằm vào những chiếc bóng đèn trên cây, và tôi tự hỏi Jamie đang nghĩ gì. Thực sự mà nói, tôi không biết, nhưng con bé có cái vẻ dịu dàng mong manh. Tôi nghĩ - không, tôi biết chắc - con bé vô cùng hài lòng với buổi tối nay, đó là Giáng sinh đẹp nhất mà tôi từng trải qua.

Tôi liếc nhìn con bé. Với khuôn mặt sáng rạng rỡ, con bé trông xinh đẹp hơn bất kỳ ai tôi từng gặp.

“Mình mua cho cậu một thứ,” cuối cùng tôi nói với con bé. “Ý mình là một món quà.” Tôi nói khẽ để không làm bé gái thức giấc, và hi vọng nói nhỏ sẽ giấu được sự hồi hộp trong giọng tôi.

Con bé rồi mắt khỏi cây thông và quay lại đối diện với tôi, mỉm cười dịu dàng. “Cậu không phải làm vậy đâu.” Con bé cũng nói thật khẽ, nghe gần như là nhạc vậy.

“Mình biết,” tôi biết. “Nhưng mình muốn vậy.” Tôi với lấy món quà đã để bên cạnh lúc trước và đưa món quà được gói cẩn thận cho con bé.

“Cậu mở hộ mình được không? Mình chẳng còn tay nào cả.” Cô bé nhìn xuống bé gái rồi quay lại nhìn tôi.

“Nếu không muốn, cậu không phải mở nó bây giờ đâu,” tôi nhún vai nói, “thực sự không phải là chuyện quan trọng mà.”

“Đừng ngốc nghếch thế,” con bé nói. “Mình sẽ chỉ mở nó trước mặt cậu.”

Để tâm trí mình sáng suốt, tôi nhìn món quà và bắt đầu mở, bóc băng dính để không phát ra tiếng ồn, rồi mở lớp giấy gói cho đến khi lộ ra cái hộp. Sau khi bỏ giấy gói sang một bên, tôi nhấc nắp hộp và lôi chiếc áo len ra, giờ lên cho con bé thấy. Nó màu nâu giống như những chiếc áo mà con bé thường mặc. Nhưng tôi đoán rằng con bé có thể mặc một chiếc áo mới.

So với niềm vui vừa thấy trước đó, tôi không hi vọng nhiều lắm.

“Thấy không, chỉ có vậy thôi. Mình đã nói không có gì nhiều mà,” tôi nói. Hi vọng con bé không thất vọng về món quà.

“Landon, đẹp quá,” con bé nói nghiêm túc. “Lần tới gặp cậu, mình sẽ mặc nó. Cảm ơn cậu.”

Chúng tôi ngồi im lặng một lúc, và tôi lại bắt đầu nhìn những bóng đèn màu.

“Mình cũng mang cho cậu một thứ,” cuối cùng Jamie thì thầm. Con bé nhìn về phía cái cây, và mắt tôi dõi theo ánh nhìn của nó. Món quà của con bé vẫn còn ở dưới gốc cây, một phần bị che khuất bởi thân cây, và tôi với lấy. Nó hình chữ nhật, mềm, hơi nặng. Tôi để gói quà lên đùi và giữ ở đó, thậm chí không thử mở ra.

“Mở ra đi,” con bé nhìn thẳng vào tôi và nói.

“Cậu không thể tặng mình cái này được,” tôi nín thở nói, Tôi biết cái gì ở trong rồi, và tôi không tin nổi con bé lại làm vậy. Tay tôi bắt đầu run rẩy.

“Xin cậu,” con bé nói với tôi bằng giọng nói mềm mại nhất tôi từng được nghe, “hãy mở nó đi. Mình muốn cậu có nó.”

Ngại ngần, tôi chậm rãi mở gói quà. Cuối cùng khi không còn giấy gói, tôi nhẹ nhàng cầm món quà lên, sợ làm hỏng. Tôi nhìn chằm chằm như bị thôi miên rồi chậm rãi vuốt phần trên, lướt những ngón tay trên lớp da sờn rách trong lúc nước mắt dâng đầy mắt tôi, Jamie với tay sang rồi để lên tay tôi. Tay con bé ẩm và mềm.

Tôi liếc con bé, không biết nói gì.

Jamie tặng tôi cuốn Kinh thánh của mình.

“Cảm ơn vì những gì cậu đã làm, “con bé thì thầm với tôi. “Đây là Giáng sinh đẹp nhất mình từng có.”

Tôi quay đi mà không trả lời và với tay lấy ly rượu bên cạnh. Giai điệu của bài “Đêm an lành” vẫn đang ngâm nga, âm nhạc tràn đầy căn phòng. Tôi hớp một ngụm rượu, cố gắng tràn đầy căn phòng. Tôi hớp một ngụm rượu, cố gắng làm dịu sự khô khốc đột ngột trong cổ họng. Vừa uống, đầu tôi vừa tràn ngập ký ức về tất cả những lần ở bên Jamie. Tôi nghĩ về buổi vũ hội đầu năm học và những gì con bé làm cho tôi đêm đó. Tôi nghĩ về vở kịch và con bé giống một thiên thần như thế nào. Tôi nghĩ đến những lần tôi đưa con bé về nhà và giúp thu gom đám hộp lọ đầy những đồng một xu cho bọn trẻ mồ côi ra sao.

Trong lúc những hành ảnh này chạy trong đầu tôi, tôi bỗng nín thở. Tôi nhìn Jamie, rồi nhìn lên trần nhà và xung quanh phòng, cố gắng hết sức để giữ bình tĩnh, rồi quay lại nhìn Jamie. Con bé mỉm cười với tôi và tôi mỉm cười với con bé, và tất cả những gì tôi có thể làm là tự hỏi làm thế nào tôi lại phải lòng một đứa con gái như Jamie Sullivan