Những đêm ở Rodanthe - Chương 08

CHƯƠNG 8

Sau khi giúp Adrienne rửa bát đĩa, Paul hất đầu về phía cửa sau.

“Cô có muốn đi dạo bờ biển với tôi không?” anh hỏi. “Đêm nay có vẻ đẹp trời đấy.”

“Không phải đang trở lạnh sao?”

“Chắc chắn là lạnh rồi, nhưng tôi có cảm giác đây là cơ hội cuối cùng mà ta có trong mấy ngày tới.”

Adrienne liếc nhìn ra ngoài cửa sổ. Nàng nên ở lại dọn dẹp nốt căn bếp, nhưng việc đó có thể đợi kia mà?

“Được thôi,” nàng đồng ý, “để tôi lấy áo khoác đã.”

Phòng của Adrienne nằm ngay bên ngoài căn bếp, một căn phòng mà Jean đã thêm vào hơn mười năm trước. Căn phòng đó rộng hơn những phòng khác trong nhà và có một phòng tắm mà điểm nhấn ở trung tâm là một bồn tắm Jacuzzi lớn. Jean dùng bồn tắm thường xuyên và cứ mỗi lần Adrienne gọi điện tới vì đang buồn, đó luôn là phương thuốc mà Jean khuyên nàng làm theo để thấy khá hơn. “Điều cậu cần là ngâm mình trong bồn nước nóng thật lâu, và thư giãn,” cô ấy thường nói, không cần biết đến thực tế rằng trong nhà nàng có ba đứa trẻ luôn độc chiếm phòng tắm và rằng lịch sinh hoạt của Adrienne không cho nàng nhiều thời gian rảnh.

Adrienne lấy áo khoác từ tủ quần áo và với lấy khăn quàng quấn quanh cổ. Nàng liếc đồng hồ và kinh ngạc nhận ra rằng thời gian đã trôi qua thật nhanh. Khi nàng trở lại bếp, Paul đã khoác áo sẵn và đang đứng đợi.

“Cô sẵn sàng chưa?” anh hỏi.

Nàng dựng cổ áo khoác lên. “Đi thôi. Nhưng tôi phải nhắc trước với anh, tôi không phải là người hâm mộ trời lạnh gì đâu. Dòng máu phương Nam trong tôi tương đối ít.”

“Chúng ta sẽ không đi lâu đâu, tôi hứa.”

Anh mỉm cười khi họ bước ra ngoài, và Adrienne bật ngọn đèn chiếu sáng bậc cửa. Sánh vai nhau, họ tiến tới cồn cát thấp, hướng về dải cát rắn gần mép nước.

Buổi tối hôm đó mang một vẻ đẹp lạ lẫm, với bầu không khí khô và tươi mới, cùng hương vị của muối biển vương vất trong màn sương. Trên đường chân trời, chớp vẫn lóe thành từng đợt đều đặn khiến những đám mây nháy sáng chập chờn. Khi nhìn về hướng đó, nàng nhận thấy Paul đang quan sát bầu trời. Nàng thầm nghĩ đôi mắt anh dường như đang ghi lại mọi thứ xung quanh.

“Cô đã bao giờ thấy chớp như vậy chưa?” anh hỏi.

“Trong mùa đông thì không. Vào mùa hè thì thỉnh thoảng cũng có.”

“Nó đang từ phía trước kia tiến lại. Tôi bắt đầu thấy chớp từ lúc chúng ta đang ăn tối, và vì thế tôi nghĩ cơn bão này sẽ lớn hơn người ta dự đoán.”

“Hy vọng là anh nhầm.”

“Có thể.”

“Nhưng anh không tin là mình nhầm.”

Anh nhún vai. “Tôi chỉ có thể nói là nếu tôi biết trước sắp có bão, tôi đã cố đổi lịch.”

“Tại sao?”

“Tôi không còn là người hâm mộ gió bão nữa rồi. Cô còn nhớ cơn bão Hazel không? Vào năm 1954 ấy?”

“Có chứ, nhưng khi đó tôi còn khá bé. Khi nhà chúng tôi mất điện tôi thấy phấn khích nhiều hơn là sợ. Và Rocky Mount cũng không bị đánh nặng lắm, hay ít nhất là khu vực chúng tôi sống.”

“Cô may mắn đấy. Khi đó tôi hai mươi mốt tuổi và đang ở Duke. Khi chúng tôi nghe nói cơn bão sắp đến, mấy thằng trong đội chạy việt dã nghĩ rằng nếu chúng tôi xuống Bãi Wrightsville để làm một bữa tiệc đón bão thì sẽ hay lắm. Tôi không muốn đi, nhưng vì tôi là đội trưởng, chúng nó gần như bắt tôi đi cùng.”

“Đó chính là nơi cơn bão đổ bộ phải không?”

“Không phải đúng chỗ đó, nhưng cũng gần đấy. Vào lúc chúng tôi đến đó, hầu hết mọi người đã sơ tán khỏi hòn đảo, nhưng chúng tôi còn trẻ và dại dột nên đã tìm cách đến đó bằng được. Lúc đầu thì cũng vui đấy. Chúng tôi cứ thay nhau nghiêng người theo gió và cố giữ thăng bằng, nghĩ rằng toàn bộ chuyện này thật tuyệt và chẳng hiểu tại sao mọi người lại làm quá lên như vậy. Nhưng sau vài giờ, gió đã quá mạnh không chơi trò đó nổi nữa, còn mưa thì xuống như trút, nên chúng tôi quyết định quay về Durham. Nhưng chúng tôi không thể ra khỏi hòn đảo. Người ta đã đóng hết các cầu ngay khi sức gió đạt đến năm mươi dặm một giờ, vậy là chúng tôi bị mắc kẹt. Và cơn bão cứ càng ngày càng kinh khủng hơn. Đến hai giờ sáng, xung quanh đã như một bãi chiến trường. Cây đổ, nhà tốc mái, và nhìn ra hướng nào cũng thấy một thứ gì đó đủ sức giết chết chúng tôi bay qua cửa sổ xe. Mưa nện thình thình xuống xe ồn không thể tưởng tượng nổi và đó là lúc cơn bão đạt cực đại. Đấy lại đúng vào đợt thủy triều lên và còn là đêm trăng tròn nữa, vậy là những đợt sóng to nhất tôi từng thấy cứ cuộn lên hết đợt này đến đợt khác. May mà chúng tôi ở khá xa bờ biển, nhưng chúng tôi đã chứng kiến bốn ngôi nhà bị cuốn trôi vào đêm đó. Thế rồi, khi chúng tôi nghĩ chuyện không thể tệ hơn được nữa, thì đường điện bắt đầu chập. Chúng tôi cứ ngồi nhìn từng máy biến thế lần lượt nổ tung, và một đường dây điện rơi ngay cạnh xe. Nó cứ quật lên quật xuống trong gió suốt cả đêm, gần đến độ chúng tôi thấy cả tia lửa, và có những lúc suýt đập trúng xe. Ngoài cầu nguyện ra, tôi nghĩ không một ai trong chúng tôi nói với ai một lời nào suốt cả đêm. Đó là chuyện ngu ngốc nhất tôi từng làm trong đời.”

Adrienne không hề rời mắt khỏi anh trong khi anh kể chuyện.

“Anh còn sống là quá may mắn đấy.”

“Tôi biết.”

Trên bờ biển, những cơn sóng dữ tạo ra những đám bọt trông như bọt xà phòng trong bồn tắm của trẻ con.

“Trước giờ tôi chưa từng kể chuyện đó,” cuối cùng Paul nói thêm. “Với bất kỳ ai.”

“Tại sao?”

“Vì nó có vẻ không... giống tôi, chẳng hiểu nữa. Tôi chưa bao giờ làm một chuyện gì liều lĩnh như vậy trước đó, và sau này tôi cũng không bao giờ làm bất kỳ điều gì như thế. Cứ như thể chuyện đó xảy ra với ai khác vậy. Cô phải biết tôi thì cô mới hiểu. Tôi là loại người có thể không đi chơi vào tối thứ Sáu để không bị rớt hạng thành tích học tập.”

Nàng bật cười. “Tôi không tin.”

“Thật đấy. Tôi là như vậy.”

Trong khi bước trên dải cát nén, Adrienne liếc nhìn những mái nhà phía sau đụn cát. Không còn ánh đèn nào khác, và trong bóng tối, Rodanthe hiện lên trước mắt nàng như một thị trấn ma.

“Tôi nói thế này không biết anh có phật lòng không?” cô hỏi. “Ý tôi là, tôi không biết muốn anh hiểu sai.”

“Không sao đâu.”

Họ bước thêm vài bước trong khi Adrienne cố gắng tìm lời diễn đạt ý mình.

“Ừm... chỉ là khi anh nói về bản thân mình, cứ như thể anh đang nói về người nào khác. Anh nói anh đã từng làm việc quá nhiều, nhưng những người như thế không bán cơ nghiệp để điEcuador. Anh nói anh không làm những chuyện điên rồ, nhưng rồi lại kể tôi nghe một chuyện trong đó anh làm như thế. Tôi chỉ muốn chỉ ra mâu thuẫn đó.”

Paul do dự. Anh không cần phải giải thích về mình, cho nàng hay cho bất kỳ ai khác, nhưng trong khi bước dưới bầu trời đang lóe sáng vào buổi tối tháng Một lạnh lẽo ấy, anh đột nhiên nhận ra anh muốn nàng hiểu rõ anh – thực sự thấu hiểu anh, với tất cả những mâu thuẫn trong anh.

“Cô nói đúng,” anh mở lời, “vì tôi đang nói về hai người mà. Tôi đã từng là một Paul Flanner nỗ lực hết mình để trở thành bác sĩ phẫu thuật. Một kẻ làm việc suốt ngày đêm. Một người chồng và người cha với ngôi nhà to đẹp ở Raleigh. Nhưng những ngày gần đây, tôi chẳng là gì trong những thứ đó. Ngay lúc này, tôi đang cố gắng tìm hiểu xem Paul Flanner thực sự là ai, và thành thật mà nói, tôi đang bắt đầu tự hỏi mình có bao giờ tìm được câu trả lời hay không.”

“Tôi nghĩ ai cũng có lúc cảm thấy như vậy. Nhưng không có nhiều người vì thế mà nảy ra ý định đi Eucuador đâu.”

“Cô nghĩ vì chuyện đó mà tôi đi ư?”

Họ dạo bước trong im lặng thêm một đoạn nữa trước khi Adrienne quay sang nhìn anh. “Không,” nàng nói, “tôi đoán rằng anh đi để được gần con trai mình.”

Adrienne thấy vẻ ngạc nhiên trên mặt anh.

“Cũng không khó đoán ra đâu,” nàng nói. “Suốt cả buổi tối anh hầu như không nhắc đến cậu ấy. Nhưng nếu anh nghĩ việc đó có ích thì tôi mừng vì anh quyết định như vậy.”

Anh mỉm cười. “Vậy thì cô là người đầu tiên đấy. Ngay cả Mark cũng có vẻ không thích thú gì khi tôi cho nó biết ý định.”

“Rồi nó sẽ vượt qua thôi.”

“Cô nghĩ vậy ư?”

“Tôi hy vọng thế. Đó là điều tôi tự nhủ mỗi khi gặp rắc rối với bọn trẻ.”

Paul thoáng bật cười và ra hiệu về sau lưng. “Cô đã muốn quay lại chưa?” anh hỏi.

“Tôi đang mong anh nói thế. Tai tôi bắt đầu buốt rồi.”

Họ vòng trở lại, lần theo đúng dấu chân trên cát. Dù không thấy mặt trăng, những đám mây trên cao vẫn phát sáng bàng bạc. Từ phía xa, họ nghe thấy tiếng sấm đầu tiên.

“Chồng cũ của cô là người thế nào?”

“Jack ư?” Nàng do dự, băn khoăn không biết có nên chuyển đề tài hay không, rồi quyết định rằng có thể cũng không ảnh hưởng gì. Anh ta có thể kể lại với ai chứ? “Không giống anh,” cuối cùng nàng nói. “Jack nghĩ anh ta đã tìm thấy chính mình rồi. Chỉ có điều là tình cờ với một người khác trong khi chúng tôi đã kết hôn.”

“Tôi lấy làm tiếc.”

“Tôi cũng vậy, hay là đã từng thấy vậy. Giờ thì nó chỉ là một trong những chuyện đã qua. Tôi cố gắng không nghĩ về nó nữa.”

Paul nhớ lại những giọt nước mắt anh đã bắt gặp trước đó. “Có tác dụng không?”

“Không, nhưng tôi vẫn đang cố. Ý tôi là, tôi biết làm gì khác được?”

“Bất cứ lúc nào cô cũng có thể đi Ecuador mà.”

Nàng đảo mắt. “Phải rồi, hay quá còn gì? Tôi chỉ cần về nhà và nói đại loại ‘Xin lỗi nhé, các con, từ giờ các con tự lo thôi. Mẹ đi xa một thời gian đây’.” Nàng lắc đầu. “Không, hiện giờ, tôi gần như mắc kẹt. Ít nhất là đến khi chúng nó vào đại học. Ngay lúc này, chúng cần được càng ổn định càng tốt.”

“Có vẻ cô là một người mẹ tốt đấy chứ.”

“Tôi luôn cố gắng. Nhưng bọn trẻ không phải lúc nào cũng nghĩ vậy.”

“Hãy nhìn theo hướng này – khi chúng có con, cô sẽ tha hồ trả đũa.”

“Ồ, tôi đang định thế. Tôi còn chuẩn bị sẵn rồi ấy chứ. Một chút khoai tây chiên trước bữa tối thì sao nhỉ? Tất nhiên là con không phải tự dọn phòng rồi. Chắc chắn là con có thể thức khuya chứ...”

Paul lại mỉm cười, thầm cảm thấy thích cuộc nói chuyện. Thích nàng. Trong ánh sáng bạc của cơn bão đang đến gần, trông nàng thật đẹp, và anh tự hỏi sao chồng nàng có thể bỏ nàng mà đi.

Họ chậm rãi bước trở lại ngôi nhà, cả hai cùng đắm chìm trong suy nghĩ, cảm nhận mọi âm thanh và cảnh vật xung quanh, không ai cảm thấy cần nói gì.

Sự im lặng ấy mang lại một cảm giác dễ chịu nào đó, Adrienne thầm nghĩ. Dường như quá nhiều người tin rằng im lặng là một khoảng trống cần lấp đầy, ngay cả khi những điều nói ra chẳng có gì quan trọng. Nàng đã từng trải qua điều đó tại những chuỗi tiệc ngắn liên miên mà nàng từng dự với Jack. Những giây phút nàng thích nhất là khi có thể lẻn ra ngoài bao lơn mà hưởng một vài phút riêng tư. Đôi khi cũng có ai khác ngoài đó, một người nàng không biết, nhưng khi nhìn thấy nhau, họ sẽ chỉ gật đầu, tựa như lẳng lặng chấp nhận một thỏa thuận ngầm. Không hỏi han, không chuyện phiếm... nhất trí.

Lúc này, trên bờ biển, cảm giác đó lại trở lại. Màn đêm thật tươi mới, làn gió nhẹ nâng tóc nàng và mơn man da nàng. Bóng nàng trải dài trước mặt, không ngừng cử động và nhấp nhô trên cát, có lúc tạo thành những hình khối mờ ảo, rồi lại biến mất khỏi tầm mắt. Đại dương cuộn xoáy như một bể than lỏng. Nàng biết Paul cũng đang tận hưởng tất cả những cảnh tượng đó; dường như anh cũng nhận ra nói chuyện lúc này sẽ phá hỏng tất cả.

Họ dạo bước trong cái lặng yên gần gũi ấy, và cứ mỗi bước chân Adrienne lại càng chắc chắn rằng nàng muốn ở bên anh lâu hơn. Nhưng cảm giác ấy đâu có quá kỳ lạ? Anh cũng đang cô đơn như nàng, hai người bộ hành đơn độc cùng tận hưởng dải cát hoang trong một ngôi làng ven biển có tên Rodanthe.

Khi tới nhà, họ bước vào trong bếp và rũ vội áo khoác. Adrienne treo áo lên chiếc móc cạnh cửa cùng với khăn choàng; Paul treo áo của anh bên cạnh.

Adrienne xoa hai tay vào nhau hà hơi, nàng thấy Paul nhìn đồng hồ treo tường rồi nhìn quanh căn bếp, như thể đang tự hỏi có nên kết thúc một đêm ở đây chăng.

“Uống gì đó cho ấm người chăng?” nàng vội đề nghị. “Tôi có thể pha một ấm cà phê mới.”

“Cô có trà không?” anh hỏi.

“Tôi nghĩ lúc trước tôi có thấy một ít. Để tôi kiểm tra.”

Nàng bước ngang qua căn bếp, mở tủ gần bồn rửa và đẩy đủ thứ linh tinh sang bên, thầm thích thú trước việc họ sẽ ngồi với nhau thêm ít lâu nữa. Nàng thấy một hộp trà Bá Tước trên ngăn giá thứ hai, và khi nàng quay lại để cho anh xem, Paul mỉm cười gật đầu. Nàng bước vòng qua anh để lấy ấm đun nước và đổ nước vào, ý thức được rằng họ đang đứng gần nhau đến thế nào. Khi ấm nước reo, nàng rót hai tách trà và họ cùng ra phòng khách.

Họ lại ngồi chỗ của mình trên ghế bập bênh, dù căn phòng đã thay đổi sau khi mặt trời lặn. Dường như nó có vẻ tĩnh lặng hơn, gần gũi hơn trong bóng tối.

Trong khi uống trà, họ nói thêm một giờ đồng hồ về chuyện này chuyện khác, cuộc nói chuyện nhẹ nhàng giữa hai người bạn thông thường. Nhưng rồi theo thời gian, khi trời dần về khuya, Adrienne nhận thấy nàng đang thổ lộ với anh về cha và những nỗi lo sợ của nàng về tương lai.

Paul đã từng nghe về những tình cảnh tương tự trước đó; là một bác sĩ, anh gặp những chuyện như vậy khá thường xuyên. Nhưng cho đến tận lúc này, chúng cũng chỉ là những câu chuyện. Cha mẹ anh đều đã qua đời, còn cha mẹ Martha đang sống khỏe mạnh ởFlorida. Nhưng anh có thể thấy từ nét mặt của Adrienne rằng tình thế bế tắc của nàng là điều mà anh mừng vì mình không phải đối mặt.

“Có việc gì tôi có thể làm được giúp cô không?” anh đề nghị. “Tôi biết nhiều chuyên gia có thể xem xét bệnh án cho ông cụ để xem có cách nào giúp được ông không.”

“Cám ơn anh, nhưng không, tôi đã làm đủ cách rồi. Cơn đột quỵ vừa rồi thực sự làm ông yếu hẳn. Dù có cách nào giúp được chút ít, tôi cũng không nghĩ ông tự lo được cho mình nếu không có người chăm sóc cả ngày lẫn đêm.”

“Vậy cô định làm thế nào?”

“Tôi không biết nữa. Tôi đang hy vọng Jack sẽ đổi ý mà gửi thêm tiền cấp dưỡng cho bố tôi, và có thể anh ta sẽ làm thật. Anh ta và bố tôi đã từng khá thân thiết. Nhưng nếu không, tôi nghĩ tôi sẽ phải tìm một công việc cả ngày để có tiền trang trải.”

“Chính phủ không thể làm gì sao?”

Ngay khi nói ra lời đó, anh đã biết câu trả lời của nàng.

“Ông đủ tiêu chuẩn trợ giúp, nhưng những chỗ tốt đông người xếp hàng lắm, và hầu hết những nơi đó đều cách nơi tôi sống đến vài giờ đi xe, nên tôi sẽ không thể gặp ông thường xuyên được. Còn những chỗ không tốt lắm ư? Tôi không thể làm thế với ông được.”

Nàng ngừng lời, những hình ảnh của quá khứ và hiện tại thay nhau hiện lên trong suy nghĩ. “Khi ông nghỉ hưu,” cuối cùng nàng nói, “nhà máy đã tổ chức một bữa tiệc cho ông, tôi nhớ khi đó mình đã nghĩ ông sẽ nhớ việc đi làm mỗi ngày. Ông đã bắt đầu làm việc ở đó từ khi mới mười lăm, và trong suốt những năm làm việc, ông chỉ nghỉ ốm có hai ngày. Tôi đã có lần tính nếu cộng tất cả số giờ ông làm việc ở nhà máy, sẽ là mười lăm năm đời ông. Nhưng khi tôi hỏi ông về chuyện đó, ông nói là không hề tiếc nhớ gì hết. Rằng giờ khi xong việc, ông đã có những kế hoạch lớn trước mắt.”

Vẻ mặt Adrienne dịu lại. “Ý của ông là ông sẽ làm những việc ông muốn thay vì những việc ông phải làm. Dành thời gian bên nhau, bên lũ cháu, bên những cuốn sách, hay bạn bè. Ông đáng được nhận một vài năm an nhàn sau tất cả những gì đã trải qua, thế mà...” Nàng bỏ ngang câu nỏi trước khi ngẩng lên nhìn vào mắt Paul. “Nếu gặp ông anh sẽ quý mến ông. Ngay cả bây giờ cũng vậy.”

“Tôi tin là thế. Nhưng liệu ông có thích tôi không?”

Adrienne mỉm cười. “Bố tôi yêu quý tất cả mọi người. Trước khi bị đột quỵ, không có việc khiến ông thích thú hơn là nghe mọi người nói chuyện và tìm hiểu về họ. Ông vô cùng kiên nhẫn, và vì thế người ta luôn cởi mở với ông, ngay cả những người lạ. Họ sẽ kể với ông những chuyện họ không kể với bất kỳ ai vì biết là có thể tin ở ông.” Nàng ngập ngừng. “Nhưng anh có muốn biết điều tôi nhớ nhất là gì không?”

Paul hơi nhướng mày.

“Đó là một câu ông thường nói với tôi từ khi tôi còn bé. Dù việc tôi đã làm tốt hay xấu, bất kể tôi đang buồn hay vui,bố tôi luôn ôm tôi vào lòng và nói, “Bố tự hào về con.”

Nàng im lặng trong giây lát. “Tôi không hiểu có gì trong những lời nói đó, nhưng chúng luôn khiến tôi xúc động. Tôi đã nghe phải đến cả triệu lần, nhưng lần nào ông nói những lời đó với ông, chúng cũng khiến tôi có cảm giác rằng ông yêu tôi dù thế nào đi nữa. Cũng buồn cười, vì khi lớn lên, tôi vẫn thường trêu ông về chuyện đó. Nhưng ngay cả lúc ấy, khi tôi đã trưởng thành và chuẩn bị xa nhà, ông vẫn nói câu đó, và tôi vẫn thấy trong lòng mềm nhũn.”

Paul mỉm cười. “Ông có vẻ là một người đặc biệt.”

“Đúng vậy,” nàng nói, và ngồi thẳng dậy trên ghế. “Và vì thế, tôi sẽ cố gắng để ông không phải chuyển chỗ. Đó là nơi tốt nhất trên đời này dành cho ông. Nơi đó ở gần nhà, và không chỉ dịch vụ chăm sóc rất tốt, mà họ đối xử với ông như một người bình thường, chứ không chỉ là bệnh nhân. Ông xứng đáng được ở một nơi như thế, và đó là việc tối thiểu tôi có thể làm cho ông.”

“Ông thật may mắn vì có cô làm con gái để lo lắng cho mình.”

“Tôi cũng may mắn.” Nàng vừa nói vừa nhìn thẳng vào bức tường, ánh mắt dường như đã hướng về nơi xa xăm nào đó. Rồi nàng lắc đầu, đột nhiên nhận ra mình đang nói gì. “Xem tôi cứ lan man kìa. Tôi xin lỗi.”

“Không việc gì phải xin lỗi. Tôi mừng vì cô đã kể.”

Thoáng mỉm cười, nàng hơi nghiêng về phía trước. “Điều anh tiếc nhất về cuộc sống hôn nhân là gì?”

“Tôi đoán là chúng ta đang chuyển đề tài?”

“Tôi nghĩ bây giờ đến lượt anh kể chuyện của mình.”

“Đây là điều tối thiểu tôi có thể làm cho cô chăng?”

Nàng nhún vai.

“Đại loại thế. Tôi đã rút gan rút ruột, bây giờ đến lượt anh.”

Paul giả bộ thở dài và nhìn lên trần nhà. “Được rồi, điều tôi tiếc nhất.” Anh đan hai tay vào nhau. “Tôi đoán đó là cảm giác khi biết rằng có người đang đợi mình khi đi làm về. Thông thường, tôi về nhà rất muộn, và đôi khi Martha đã đi ngủ rồi. Nhưng dường như cái ý nghĩ rằng cô ấy có ở đó là lẽ tự nhiên và khiến tôi yên tâm, như thể chuyện nó là phải thế. Còn cô thì sao?”

Adrienne đặt tách trà lên chiếc bàn nằm giữa họ.

“Những điều thông thường thôi. Một người để nói chuyện cùng, ăn cơm cùng, những nụ hôn phớt buổi sáng trước khi đánh răng. Nhưng thành thật mà nói, với bọn trẻ, ngay lúc này tôi lo lắng về điều chúng sẽ tiếc nhớ hơn là tôi nhớ. Tôi tiếc sự có mặt của Jack bên bọn trẻ. Tôi nghĩ khi còn nhỏ bọn trẻ cần mẹ hơn cần cha, nhưng vào tuổi thiếu niên, chúng cần có bố. Nhất là con gái. Tôi không muốn con gái tôi nghĩ rằng tất cả đàn ông đều là đồ tồi bỏ rơi gia đình, nhưng làm sao tôi có thể dạy nó điều đó khi chính cha nó làm thế?”

“Tôi không biết.”

Adrienne lắc đầu. “Đàn ông có nghĩ đến những điều đó không?”

“Những người đàn ông tốt thì có. Cũng như trong mọi chuyện khác.”

“Anh đã kết hôn trong bao lâu?”

“Ba mươi năm. Còn cô?”

“Mười tám.”

“Giữa chúng ta, cô nghĩ chúng ta đã nghiệm ra chưa?”

“Nghiệm ra điều gì? Bí quyết để sống hạnh phúc bên nhau mãi mãi chăng? Tôi không còn nghĩ có thứ đó nữa rồi.”

“Phải, tôi nghĩ cô nói đúng.”

Họ nghe thấy chiếc đồng hồ lớn ngoài tiền sảnh bắt đầu điểm chuông. Khi nó dừng lại, Paul xoa gáy, cố gắng làm dịu cơn đau nhức do chuyến lái xe dài. “Tôi nghĩ đến lúc tôi đi nghỉ rồi. Sáng mai phải dậy sớm.”

“Tôi biết,” nàng đồng ý, “Tôi cũng đang nghĩ như vậy.”

Nhưng họ không đứng dậy ngay mà cũng ngồi bên nhau thêm một phút nữa trong im lặng như khi ở trên bờ biển. Đôi khi anh liếc mắt về phía nàng, nhưng luôn quay đi trước khi nàng bắt gặp.

Thở dài khe khẽ, Adrienne đứng dậy khỏi ghế và chỉ vào chiếc tách. “Để tôi mang vào bếp cho. Tôi sẽ đi hướng đó.”

Anh mỉm cười khi đưa tách cho nàng. “Tối nay tôi rất vui.”

“Tôi cũng vậy.”

Lát sau, Adrienne nhìn theo Paul bước lên cầu thang rồi quay đi và bắt đầu đóng cửa Nhà Nghỉ.

Về đến phòng, nàng cởi bỏ quần áo và mở va li, tìm một bộ đồ ngủ. Trong khi làm việc đó, nàng bắt gặp hình phản chiếu của mình trong gương. Không tệ lắm, nhưng thành thực mà nói, trông nàng đã đúng như tuổi của mình. Nàng nghĩ Paul đã rất tốt bụng khi nói rằng nàng không cần sửa gì cả.

Đã rất lâu mới lại có ai đó khiến nàng cảm thấy mình hấp dẫn.

Nàng mặc bộ đồ ngủ rồi trèo lên giường. Nàng đọc lướt qua mấy bài báo từ chồng tạp chí Jean để sẵn trên bàn đầu giường một vài phút trước khi tắt đèn. Trong bóng tối, nàng không thể thôi suy nghĩ về buổi tối vừa qua. Những cuộc nói chuyện cứ không ngừng tái hiện trong đầu nàng; nàng có thể mường tượng ra khóe miệng cong thành nụ cười của anh mỗi khi nàng nói điều gì anh cho là hài hước. Suốt hàng giờ, nàng trằn trọc trên giường, không sao ngủ nổi, và bắt đầu thấy bực bội với chính mình, không hề biết rằng trong căn phòng trên tầng, Paul Flanner cũng y như vậy.

Mua sách giấy (nếu có) để ủng hộ tác giả và đọc bản có chất lượng tốt hơn <3

Tìm Mua Sách Này

Hãy để lại chút cảm nghĩ khi đọc xong truyện để tác giả và nhóm dịch có động lực hơn bạn nhé <3