Mẫn và tôi - Chương 24 (phần 2)

 

Mẫn nói như sắp tóm con heo sẩy chuồng. Mới hỏi vài lần, tối đến Mẫn đã thuộc lòng hơn chục khẩu lệnh, giọng khá đúng. Kiểu đó chắc Mẫn làm y như lời, hay hơn thế nữa.

- Anh biết chưa, nắm đầu được cái thằng điệp hại vợ chồng chị Biền rồi. Thằng Hờ, Mười Hờ, nhớ không? Anh nạt nó một lần đó!

Tôi “à” khoan khoái.

Nhớ chứ. Mặt hắn đen choắt, tóc gọng kính ngoặc tai. Xưa nhà hắn giàu sụ, hắn thua bạc mấy năm bán ruộng lần lần cho xã Chinh hết, xoay qua nghề mổ heo. Hắn chạy xuống vùng địch ở ít lâu lại về, kêu sợ bom đạn không bằng sợ đói. Hôm nhà bà Miện trúng pháo chết mất đứa con trai và con trâu mộng, tôi đến giúp chôn cất, gặp hắn quảy tới đôi rổ sảo, dao thớt, hòn đá mài dẹt. Bà Miện đang khóc con bên cái nhà bay nửa mái, hắn ngồi xuống tỉ tê: “Chỗ chòm xóm gặp hồi tang ma, tôi chẳng có gì giúp đỡ, chạy được ngàn bạc đây, bà cầm mà lo đám cho thằng nhỏ, tội nghiệp. Còn con trâu chết bỏ cũng uổng, bà để tôi xẻ, chắc gì được đủ một ngàn, thôi của đổ đi tôi cũng rán hốt về…”. Tôi nóng mũi lắm rồi, còn cố nén để tìm Năm Ri hỏi lại. Con trâu tám chín ngàn bạc, mổ ra bổ rẻ cũng được năm ngàn, hắn đưa một ngàn, bán chịu tới mùa lấy lúa, thu được không phải chỉ gấp năm! Tôi quay lại thì bà Miện đã cầm tiền, vẫn khóc nức nở. Mười Hờ đang trải lá chuối trên nong, nói oang oang: “Lúa mùa hay lúa chừ(1) cũng được, tiền thì không, xin thưa trước vậy cho khỏi mất công xách lên thả xuống!”. Tôi muốn đấm vào mặt hắn, sau chỉ xạc một trận. Anh em du kích kéo tới xẻ giúp, thu tiền và lúa cho bà Miện gần đủ giá vốn.

 

(1) Lấy ngay bây giờ

 

Hắn làm điệp theo lối buôn chuyến, được món nào lãnh thưởng món ấy. Nhà hắn sát sau nhà chị Biền. Hằn rình nghe được câu chuyện chị Biền rỉ tai khuyên chồng xuống ở vùng cát, anh chồng bị đánh nhiều đâm nặng tai, lại nhất định đòi biết ngay, biết kỹ mới chịu rời làng.

Tam Sa lúc này tạm coi như tẩy sạch giun sán, nhưng thứ đó sẽ sinh thêm. Triều đại cha con xã Chinh đã dứt, bọn quận cử về thằng Huề làm đại diện kiêm cảnh sát trưởng, tên này vừa gửi thư thăm ủy ban Tam Sa vừa lo tìm vây cánh, để coi ra sao.

- Em trả lời nó rồi. Đổi nghề khác được ăn cơm chín, làm nghề này thì cơm cúng chẳng có mà ngửi hơi. Hung sùng như Chinh cha Chinh con cũng nhào đầu hết, bộ tướng thằng Huề như cò ma rúc xó đồn Mỹ, liệu hứng nổi mấy viên? Cứ tưởng nói tiếng Mỹ róc róc là thoát chết à?

Mẫn chửi một câu thật độc. Nói như xem thằng Huề bằng rác, nhưng rõ ràng Mẫn rất chú ý đến tên tề này.

Cuộc sống vành đai là vậy. Cái mới cứ đến từng giờ, bà con quen ngay với pháo cực nhanh và đạn lân tinh, với điệp viên của CiA và tề học trường Mỹ ra. Rời vành đai hai tháng rồi, tôi về đấy sẽ lạc đường lầm ngõ, nói toàn chuyện đời xưa, gặp đồng chí xã đội lại hỏi thăm “em vô du kích chưa?”. Giữa lòng những biến động nhanh đến chóng mặt ấy, cái lõi không đổi mà chỉ lớn lên vẫn là chất anh hùng trong mỗi con người. Những giọt sương đọng rải đây đó trên đá trên cỏ, trong đêm chỉ biết có mình, khi nắng lên đều mang giữa lòng một mặt trời đỏ như ngực người đeo huy hiệu Bác Hồ. Chúng mình nhận ra nhau và yêu nhau ngay cũng nhờ chấm lửa ấy trước hết, em nhỉ?

Chiều ngày cuối cùng Mẫn ở, anh Lẫm bệnh xá trưởng mới về. Anh có mái tóc đốm bạc, cách nói lựa chữ, những câu vui hơi ồn ào của người trí thức đứng tuổi muốn trẻ lại và gần anh em. Anh vừa học chung lớp với Mẫn, rất thú cô tổ trưởng nhỏ hơn con gái đầu lòng của anh. Tỉnh giữ anh lại bàn rút người đi lập một trạm phẫu tiền phương cho Chu Lai. Gặp Mẫn, anh mừng muốn reo:

- Trời đất, tôi tiếc hoài! Muốn nhờ chị về bệnh xá nói chuyện, thấy chị bận quá, không dám. Cái báo cáo điển hình của chị tôi ghi đủ hết, tính về kể lại, may có chị tới đây, xin một buổi thôi! Chị nắm lý lịch số anh em xin đi vành đai, hay là…

- Dạ không, cháu ở khu đội mà.

- Hà hà, tôi biết, các vị ở Chu Lai lựa kỹ là phải. Thăm dò ngay tại chỗ mới chắc. Tôi khuyên chị nhắm được ai cứ lấy luôn cho sớm.

Mẫn luống cuống rõ. Tôi đáp thay:

- Thăm người thôi, chưa muốn lấy người đâu anh ơi.

- Lấy ngay càng tốt chớ sao?

- Chị ta kêu chưa xứng đáng… Mặt trời mọc trong nhà, coi kìa… Úi, thương binh đang bị chà đạp giày xéo!

Mẫn vừa ấn mũi dép trên chân tôi, lủi biến. Anh Lẫm ngớ ra. Khi biết chuyện, anh vỗ đùi cười phá, nói tiếng Pháp:

- Tuyệt, trong lòng bản anh hùng ca có thêm một tình ca. Chúc mừng anh nhé!

Anh bàn với hai chúng tôi một điều khó xử.

Trên định tách năm người lập trạm phẫu. Bảy đồng chí đã nộp đơn xin ra tuyến lửa, trong đó có Thu Yến rất thiết tha đòi đi. Còn thiếu một bác sĩ. Tay nghề mổ xẻ của Duy Hảo hơi non nhưng rất quý ở một vùng ác liệt. Hảo được thực tập nhiều, sẽ mau lành nghề. Nhưng Hảo tỏ ý không muốn đến chỗ khó. “Bác sĩ chớ đâu phải nghề bảy đáp(2) mà mổ cho mau cho nhiều. Tôi cần thì giờ để nghiên cứu mấy vấn đề về các vết thương chiến tranh…”. Hảo nói lơ lửng vậy, không thấy nghiên cứu cái gì, lâu nay chỉ gặp những vết thương một hai ngày khiêng đi đường… Tôi là bạn Hảo, nếu có thể khuyên Hảo một chút thì hay. Mẫn kể chuyện vành đai sẽ giúp anh chị em nghĩ thêm.

 

(2) Đồ tể

 

Anh Lẫm bóp trán mãi mới tìm ra chữ đúng:

- Anh chị đừng hiểu lầm Hảo. Cậu ta bây giờ vẫn tốt, tốt trung bình, vừa phải. Trong ca anh Thiêm, cậu rất chịu khó. Nếu không đi Chu Lai, Hảo vẫn là một cán bộ có ích, không nên trách. Nhưng…

Anh nhảy sang tiếng Pháp, và tôi dịch cho Mẫn: “Trong cuộc sống, có cái tốt, cái tốt hơn, cái tốt nhất. Tinh tế là ở chỗ đó”

Chúng tôi nhận lời, cả hai, tuy đêm nay Mẫn định “giúp anh Thiêm tập đi” để ra suối ngắm trăng non với nhau.

“Chiến dịch không quân” đã dứt. Đèn măng sông cháy ri ri, sáng xanh. Mới báo tin khi chiều, cán bộ và du kích đã tới hai trăm, bà con kéo vào đình đông nghịt. Xã này đang bốc mạnh tuy vừa mới được giải phóng cùng một đợt với làng Cẩm Tú Khoảng sáu trăm người ngồi nghe chị Thiêm kể chuyện vành đai. Cùng một huyện Tam Kỳ cả, nhưng đó với đây có bao nhiêu khác lạ.

Tôi đã biết câu chuyện Mẫn kể.

Chỉ có một vốc của dòng thác lớn thôi. Tam Sa hóa thành làng S., làng Cá là thôn Một, tôi được gọi bằng cái tên dài “anh bộ đội chủ lực về giúp địa phương và điều nghiên cái Chu Lai”, còn Mẫn thì biến hẳn trong đám đông không tên. Cuộc sống ầm ào tỏa ánh cầu vồng dưới kia trở nên trần trụi, nó mất hẳn đi những vui buồn sướng khổ của người trong cuộc. Thế nhưng tại sao mắt người nghe cứ lặng lẽ sáng lên, long lanh ngấn nước, và tôi cũng kín đáo gẩy một giọt bên khoé?

Phải không, Mẫn ơi, em cố giữ giọng thường để tả cái chết của một bà già bị pháo chém trên mái đình lụt - mẹ của em, của đứa trẻ lên hai bị bay từng mảnh- con nuôi em, em đã xốc xới lên nỗi đau dồn sẵn trong mỗi người nghe từ khi biết đời đến nay? Em nhắc lại những keo địch hất ra, ta lăn xả vào, giành chính quyền từng xóm một. Hồi ấy có anh. Chúng mình đã tìm hạnh phúc thế đấy, cả dân tộc ta vật lộn giành sống cũng vậy, loài người đánh lấn đế quốc từng bụi tre một trên làng Cá của em, và bà con đây đang ứa những giọt nước mắt tự hào, đúng chứ?

Những trận “ăn ngon” tới rồi, mắt em lấp láy. Đôi mắt mới hai mươi mốt tuổi mà đã thấy hết một quãng lịch sử lớn nhiều thế kỷ. Em thấy tàu bay và lính Nhật ngay sau khi mới sinh, em xem cha đánh Pháp, em nhằm thẳng vào Mỹ để giết. Qua đôi mắt rất đen còn hay khóc, những ngàn năm trước đang cùng em nhìn giặc Mỹ, cùng làm nên cái tia chớp gan và khôn lạ lùng lóe giữa đôi hàng mi dày khi em sắp đánh một đòn chưa ai nghĩ ra. Em ngó anh, định hỏi gì… Hiểu rồi. Em kể hay đấy, bấy nhiêu bà con đang cười giàn giụa vì em… Không cần đâu Mẫn ơi, ai lại thắc mắc vì em tránh nêu tên, chỉ cần nghe em vuốt ve mấy tiếng “anh chủ lực” là anh nhận ra ngay chút hương riêng của tình yêu không lẫn được trong câu chuyện đánh Mỹ đầy khói thuốc nổ đêm nay.

*

- Ác mà đừng liệt, nhớ nghen anh.

- Đồng ý. Nè, dọc đường em coi chừng biệt kích với thám báo. Thử cây súng ngắn bắn ruồi chưa đó?

- Rồi. Em đi, anh…

Chúng tôi bắt tay nhau, cười. Như hai người lính chia đi đánh hai hướng.

Mẫn không quay đầu lại. Thu Yến đưa Mẫn tắt bờ ruộng đến đầu mối đường to, đỡ vòng xa. Tôi đứng bên ngõ trông theo. Từng mảng màu trên người Mẫn chìm dần vào nền xanh sẫm của xóm bên kia, chỉ còn hai bắp chân trắng động đậy, nhỏ dần.

Nhớ đôi mắt là sự thường, sao tôi nhớ mãi cặp chân người yêu? Hôm kia đưa Mẫn đi giặt suối, tôi để ý xem vết đạn cũ. Nó đã lành hẳn, sẹo thu nhỏ và nhợt màu, nhưng trên chân Mẫn lại thêm hơn chục nốt tròn màu đen, tím đỏ của vắt cắn. Hỏi mãi, Mẫn mới thú thực đã theo hai anh trinh sát đi băng rừng gần đồn Phước Lâm, đêm mưa lắm vắt, bùn phủ trơn không gỡ được. Là để thêm một ngày được ở với tôi… Bờ xóm sắp che khuất Mẫn. Hai đốm trắng dừng một phút, Mẫn nhìn lại mà không vẫy, rồi rẽ vào ngõ. Tôi đập nhẹ vào trán, xua một ý dại về những mảnh cối rạch đất khá dài khi bay ngang, mới chớm đã xóc đau trong ngực. Những bông bạc hai cánh đung đưa bám đất chắc lắm, đừng lo gở.

Chừng một giờ sau Yến mới về, mắt sưng đỏ. Tôi đang ngồi thừ ra nhìn xấp tài liệu mà không đọc được chữ nào, bị Yến gắt ngay, rất găng:

- Anh Thiêm tệ kinh!

- …

- Chị Mẫn yêu anh vậy, chị vừa đẹp vừa giỏi, mà anh… anh hất hủi chị…

- Ủa!

- Anh đi được mà không đưa chị. Ra tới khúc đường vắng, chị nổi khóc hu hu làm em khóc theo. Chị gởi cái gói cho anh. Em mở coi thử… Mua cho anh cái tranxittơ mà không dám đưa. Tính gặp anh làm lễ cưới, cũng thôi luôn. Tại anh hết đó!

Yến giẫm chân, bắt tôi thề suốt đời không phụ bạc chị Mẫn rồi mới chịu trao cái túi nhựa. Tôi thề ngay, chưa hiểu gì cả, chỉ biết rằng Mẫn cấm tôi tiễn, ắt không thể giận tôi.

Trong túi có một cái máy thu thanh Cơraonơ nhỏ bằng gói thuốc lá, kèm ống nghe và một tá pin con. Máy đựng trong túi màu xanh da trời thêu ba chữ đỏ “Tiếng người thương” và hai chữ M.T. lồng nhau. Lại một mảnh giấy thủng bụng nữa, chỉ có mấy dòng:

Em mua cho anh mất ngàn mốt thôi, là tiền bán chè khô mít khô, mấy chị em ưng hết, con Hòa còn trách em mua thứ rẻ quá. Em đưa tay sợ anh kỳ kèo, anh đừng lo bọn em thiếu thốn gì hết. Con Cang thêu tặng anh cái túi đó. Còn bức thơ kia anh coi cho vui, đừng giận con nhỏ tội nó lắm, nó yêu anh lắm lắm!

Tôi lướt vội qua lá thư của anh bí thư tỉnh ủy gửi bệnh xá, dặn nếu hai đồng chí Thiêm và Mẫn định cưới nhau thì nhờ bệnh xá hết lòng giúp, tổ chức hai bên không kịp đến…

Tôi chồm dậy. Không cưới thì thôi, tùy Mẫn. Phải đạp xe trả ngay cái máy bán dẫn. Chị em Mẫn ăn mặc ra sao tôi biết hết. Có cái gì vô lý trong cách yêu của Mẫn. Tôi đọc lại mảnh giấy, hơi khó, chắc người ốm dễ xúc động. Cuối cùng tôi hiểu rằng không thể trả. Tôi phải để Mẫn nhẹ chân đi về vùng lửa trong tấm áo màu gụ vá vai, cười một mình vì món quà cố giấu, nhẩm tiếng Mỹ, lau mắt nhớ tôi và phác qua một trận mới.

Con người Mẫn cứ như thế, biết làm sao!

*

* *

Các thầy xúm khám tôi lần nữa, hẹn sẽ cho ra viện khi tôi mang được mười cân đi mười cây số, ước chừng phải mất thêm nửa tháng. Tôi cố rút xuống mười ngày, viết luôn ba con số 10 dán lên cột. Mỗi ngày tập đi bốn tiếng chia hai lần, sáng sớm và chiều tà. Các giờ tự học, giúp dân xếp vào lúc nắng quá hay tối quá, thêm hẳn giờ sửa máy nữa. Xếp xong bảng thời gian ấy, tôi không còn thấy bệnh tật đâu cả.

Các buổi tập của tôi vui hơn trước nhiều. Tôi đi qua các vườn và leo đồi chè sau nhà, nghe ngóng sức căng của những thớ thịt mới liền lại như người thợ tiện cho tăng vòng quay tí nữa, tí nữa. Tôi bỏ máy thu thanh trong túi áo ngực, nhét lọt ống nghe vào một tai, nghe “tiếng người thương” suốt buổi này sang buổi khác mà vẫn trả lời được bà con qua lại. Những đợt hành quân hàng tuần hàng tháng dọc đường núi sẽ tươi gấp mấy. Cái máy chỉ có một băng, cũng đủ cho tôi nghe sóng 297 mét của Hà Nội và hai viên pin bằng ngón tay nuôi nó được gần tháng. Mẫn đã chọn trúng món quà tôi ưa nhất.

Còn cái nghề sửa chữa vặt thì tôi đã chọn ra từ trước.

Dạo mới đứng được, tôi nghe anh Lẫm gắt dữ một cậu y tá làm hỏng bộ dụng cụ khám mắt tai mũi họng rất quý. Quà tặng của Cộng hòa dân chủ Đức, không gửi về thành tu sửa được mới gay chứ. Tôi bảo Yến lấy cho xem. Máy tinh vi mà đơn giản: một tay cầm chứa pin, có thể lắp bảy tám cái đầu khác nhau với những gương và thấu kính nhỏ xíu, những bóng đèn soi tí tẹo thật xinh. Tháo sơ ra, tôi bật cười: pin chảy trong lòng ống làm gỉ chỗ chạm điện, vậy thôi. Mười lăm phút sau, Yến hí hửng mang trả anh Lẫm bộ đồ khám đã sống lại, rọi những luồng sáng bằng đầu đũa khá mạnh. Anh sửng sốt, cảm ơn tái tam tái tứ. Tôi cũng ngạc nhiên: một việc quá dễ vậy mà các ông bác sĩ không lần ra được.

Dần dà tôi đắt khách đến nỗi Hảo phải chặn bớt. Trong gánh đồ đạc linh tinh của bệnh xá, tôi moi ra một hộp dụng cụ sửa chữa nhỏ cũng của Đức. Nhờ có nó, bao nhiêu đèn pin bút máy, đồ dùng khác thoát kiếp bị gỉ và mối ăn. Vớ được một thùng pin bộ đàm của địch vất lại, tôi tháo vụn, ghép thành pin nghe đài cho bệnh xá và pin cầm đi đêm cho y tá trực, cái xóm nhỏ bỗng ồn lên và sáng lập lòe được vài tuần. Tiếng đồn sao không biết, xã bên cạnh cho cán bộ tới với một công văn nài nỉ tôi đi sửa giùm cái máy xát gạo ở chợ cây Đề, có xe đạp và mô tô đèo cẩn thận. Anh Lẫm nhất định lắc.

Đôi lúc tôi làm liều. Hảo khám tôi, tôi cũng khám và chữa cái đài Sôny ba băng mười bóng của cậu. Mò tướt mồ hôi cả buổi tôi mới tìm thấy một mối hàn bị rời nhưng vẫn chạm hờ. Hèn gì lúc nói lúc câm, thợ Tam Kỳ chém cả ngàn bạc mà vẫn chưa về đòi lại được. Hảo đeo máy cưỡi xe đi công tác một ngày, tối về mới nói: “Chịu mày rồi đó Thiêm”. Tôi đã tìm được cách trả ơn kín đáo. Nhiều anh đưa tôi cả đồng hồ nhờ sửa, không chịu tin rằng tôi dốt, nghe nói thiếu dụng cụ họ mới gật đầu.

Tôi mang ba lô tập đi, tạt qua chỗ Hảo:

- Tối nay tiểu liên nhà tao, rảnh không?

- Đồng hương à?

- Mình mày thôi. Cho nghe chuyện tao nóng giòn.

Hảo đối với Mẫn vẫn giữ cái vẻ kính mà xa, rất ít tin rằng tôi yêu Mẫn thật. Không sao, tôi chỉ muốn mượn cớ để khuyên cậu ta đi Chu Lai. Ở Hảo đã có sẵn than hồng, tôi muốn góp một hơi thổi cháy lên ngọn lửa. Dù Hảo ưa khích bác bẻ vặn tôi hơn cả, tôi vẫn biết cậu coi trọng lời khuyên của tôi, cãi ngang cành bứa xong lại làm theo.

Sau bữa cơm, bà mẹ đi học chính sách ruộng đất, cô em tập múa. Tôi bắc sẵn nước sôi đợi Hảo. Cái tông đơ hỏng nằm đợi trên bàn, dưới chân cột thêm cái bếp dầu lửa Ai-đa bị tắc. Tôi mở đài, lơ đãng cầm tông đơ lên xem, và cơn ngứa nghề bốc nhanh lạ.

Gãy lò xo. Trước hết, vừa tháo vừa nhớ chỗ các chi tiết. Vẽ sơ cho chắc, kẻo khi lắp lại thừa ốc thừa vít. Các kiểu lò xo gãy trên đời, hãy tập hợp đây coi thử. Ruột gà thiếu, lá mía, díp… tạm tắt “tiếng người thương” đã, chịu khó em nhé, sửa máy gay hơn đạp chè, cho anh nghĩ.. Đẩy nhé. Gạt hai đầu. Nống lưng…

Duy Hảo lò dò vào. Tôi kêu:

- Ơrêka(3)!

- Lại một phát minh thuộc thế kỷ mười tám?

- Không, mới trong thế chiến thứ hai, của thợ hớt tóc Việt Nam.

 

(3) Tìm ra rồi! (tiếng reo của Acsimet)

 

Tôi vẽ ngay kiểu lò xo mà tôi trông thấy ngày xưa: một sợi dây thép cứng uốn ba vòng, hai đầu nống hai càng tôngđơ, rất gọn. Hảo gật gù khen trong khi tôi đi pha chè làng Cá, bày các của ngon Mẫn đem lên, đã chia phần cho anh em bà con mỗi người một chút thơm thảo. Hảo đăm chiêu khá rõ từ khi anh Lẫm về, chắc lại cái vụ đi tuyến lửa.

Hảo lau kính, bỗng nhớ ra:

- Thằng Tốn phóng viên đem máy ảnh đi chụp, nửa chừng ống kính bị con nít rờ tay dầu phụng vô cả mớ rầu như cha chết. Nó nhắn hỏi mày lau giùm được không?

- Kiểu gì?

- Quên hỏi. Đâu như máy Nhật.

Các công thức pha chất rửa ống kính chạy qua đầu tôi lổn nhổn. Axêtôn khó kiếm. Xà phòng, cồn thì sẵn. Để xem lớp tráng chống phản quang màu gì, chịu cồn được không. Giấy quyến… Tôi ngẩn ra:

- Nó gặp mày lâu chưa?

- Hôm nàng mới tới, nó ghé đây. Thấy mày cuống quýt, tao biểu nó đừng phá đám, phải biết nhân đạo là gì.

- Hại tao rồi! Rửa một lát chớ mấy. Tao đang ước có cái máy chụp Mẫn, từ nhỏ tới lớn Mẫn chưa được tấm hình nào. Cha, bao giờ mới gặp lại!

Hảo nhìn tôi một cái nhìn dài sau những ngấn kính cong xếp lớp.

- Tưởng mày ghét những thứ phù phiếm của người trần. Thôi, mày giúp thằng Tốn, dặn nó về vành đai chụp Sêhêradát, gởi ảnh theo. Chắc không đẹp bằng mày bấm đâu, tao biết. Mà nè, mai kia nàng được phong anh hùng thì cả thế giới treo ảnh nàng đầu giường, riêng gì mày!

- Ăn chuối đi cho giọng hiền bớt!

- Kim tiêm không chích được tượng đá. Đúng, mày là đá nguyên khối. Con Nga đúc bằng thạch cao, đặt mày lên bể liền. Cỡ tao hay Thu Yến là gì hè, sành hay gốm?

- Lại lên một cơn triết lý.

- Tao đang cần triết. Có tin buồn: con Nga về ở Đà Nẵng rồi, đòi ly dị. Thằng kia chạy theo dỗ sướt mướt. Ba mẹ tao cãi nhau, nghe nói có sự tát tai và rách áo. Dễ hiểu thôi, tay kỹ sư chỉ lo đào mỏ, bòn tiền ăn chơi, mẹ tao gả ép cho con cái bằng rỗng. Rốt cuộc con Nga chịu dang dở. Gia đình tao bốn mạng chia hai phe, ăn riêng hai mâm. Cái buồn khóc đã gặp cái buồn cười. Cả nhà chỉ còn thằng Ái Trung biết cười…

Tôi nhấp chén nước rất lâu để tránh cái nhìn của Hảo rõ ý “tại mày”. Nhưng Hảo không từ:

- Thu Yến rất hiểu những bi hài kịch kiểu đó. Mày thì không, mày chỉ biết có khổ đói lạnh hay nhục mất nước thôi, còn những cái đau tâm lý chỉ là chuyện vẽ vời của ba đứa ở không. Mày chê con Nga… đừng cãi, tao cận thị số bốn mà tinh mắt… chê nó thiếu lý tưởng, thiếu nghị lực. Đúng hết. Bây giờ mày biết nó làm gì không? Ăn rồi nó ẵm con gởi nhà bạn, kéo guốc đi biểu tình chống Mỹ. Nó khoe nó là “biểu tình viên chuyên nghiệp”, nó đang truy lãnh cái phần xuống đường lâu nay phải nhịn, hạnh phúc của nó chỉ còn cách mạng là một, bé Trung là hai, đố ai biết nó nói thằng Trung nào… Mày phục chưa?

- Phục lăn!