Mẫn và tôi - Chương 23 (phần 1)

 

Cái đốm lửa lắt lay dính lại trong tôi, sau nhiều ngày sốt dữ, nhiều lần mổ kéo dài, nhiều cơn mê cạn hơi thở, vẫn không tắt hẳn. Nó cháy đỏ lên dần.

Mấy người nói tôi thoát chết là sự quái lạ. Tôi khác, tôi biết tôi sẽ qua khỏi, chỉ ngạc nhiên vì các vết thương sao hay trở chứng quá, không chịu lành gấp. Bấy nhiêu thôi, chẳng có gì rùng rợn ly kì hết. Cho đến một buổi sáng, bác sĩ Lẫm- người nói tôi hấp hối, đã vá chỗ bụng rách và lỗ thủng ở ruột cho tôi với ý nghĩ còn nước còn tát – cùng với Duy Hảo ngồi lại bên giường tôi thật lâu, kể lại những bước xáp lá cà đánh lùi cái chết, tôi mới mang máng thấy có thể đi đứt như chơi. Lạ nhỉ. Tôi biết vậy nhưng cũng chẳng biết mừng hay hồi hộp gì cho cái mạng mình cả, chỉ dành tất cả xúc động để cảm ơn các đồng chí đã giúp tôi vượt cạn.

Sức khỏe quay về rất chậm. Từ trên đỉnh cao của Hòn Kẽm đá dừng, tôi đã rơi tõm xuống vực nước đen, ngoi ngóp được nhờ phao của thầy thuốc ném cho, bám tay vào bờ. Nay đến cái đận phải trèo ngược lên từng nấc một. Lắm lúc trồi lên tụt xuống như con cóc leo tường, một cơn biến chứng xóa đi vài tuần chạy chữa, phát ớn.

Tôi bị buộc phải lo cho con người mình, cá nhân mình một cách trăm phần trăm theo nghĩa đen. Cái xác phàm mà tôi tha hồ bắt dầm mưa dãi nắng, xách ném vào kẽm gai lộn mìn, vùi đất lại bới lên xài tiếp, bắt vác cả tạ mà cấm kêu, nay nó ườn ra đấy bắt tôi hầu hạ từng chút. Theo lệnh thầy thuốc, tôi cố nuốt thêm mấy muỗng nước cháo nuôi thân, rình nghe những luồng đau âm ỉ hay quằn quại ở bụng, xem chừng mấy chỗ thịt đùi và vai bị mảnh xé, thò tay đón mũi kim vào mạch, tự súc họng bằng nước muối, đưa mắt và mũi ra nhận những giọt thuốc nhất định vào những giờ nhất định. Cáu nhất là khi phải ỉa đái, đã đau thất kinh còn thêm xấu hổ, hộ lý lại toàn các cô trẻ mới phiền. Đành cố tập lỳ. Khi chân tay ngừng động đậy, tự nhiên sức sống trong tôi dồn cả vào đầu và tim. Tôi giống cái quạt điện, cánh bị kẹt không quay được thì bầu máy cứ nóng lên mãi, biết làm sao.

Ngày lại ngày, tôi sống bằng cháo loãng và kỷ niệm. Bỏ mặc súc thịt mềm nhũn trên giường đấy, tôi bay về với bà con làng Cá. Các đồng chí khiêng thương từ Chu Lai lên thường nán lại bên tôi, kể đủ chuyện trên trời dưới đất, chung quy đều là chuyện ta thắng Mỹ thua, vành đai bị cấu xé rất dữ mà vẫn đứng vững. Một cậu trinh sát bị thương trong khi lội quanh Chu Lai với Mẫn là một ống thuốc bổ giúp tôi mau lành. Chỉ tiếc cậu ta ra viện quá nhanh. Tôi không nhắn tin cho Mẫn, sợ Mẫn nghe kể rằng tôi gầy giơ xương, xanh rờn, tóc trùm tai như đám con trai hippi cáu tiết với đời. Thôi, để tự tay viết thư cho Mẫn yên bụng hơn.

Nhớ chán lại nghĩ. Nằm dài mà nghĩ, ắt dễ nghĩ lăng nhăng. Biết là lăng nhăng mà vẫn nghĩ.

Cái ý “chết uổng lắm” hôm nào giữ tôi sống, nay lại mang một nghĩa khác đáng ngờ. Nói cho công bằng, nó không xui tôi làm cái gì quá tệ, như rời hàng ngũ chẳng hạn. Nó chỉ thì thầm nhắc tôi nhớ rằng hăm tám tuổi mới là non nửa cuộc đời thôi, không ai ép tôi lăn mãi vào chỗ bom đạn dày đặc nhất, tôi có thể đi nốt quãng đời cách mạng còn lại bằng những con đường dễ sống lâu hơn mà vẫn không mất đi chút vinh quang nào. Nếu tôi nhận việc ở tham mưu hay địch vận, xa tuyến lửa, ai dám đánh giá tôi thụt lùi? Tôi nghe nó, cười, coi như “ý kiến tham khảo”.

Cùng với tiếng ti te bên trong, có những lời khuyên bên ngoài mà tôi biết là chí tình của ông bạn Duy Hảo và vài người quen mới nữa.

Vì tay nghề vững hơn, anh Lẫm tự tay mổ cho tôi, nhưng Duy Hảo là người chữa chính, mất nhiều đêm trắng bên tôi nhất. Lần đầu tôi thật tỉnh, cậu ta cởi băng che miệng, hất hàm:

- Chào Đê Đê Tê! Con người sát trùng suýt nữa bị trùng nó sát. Chịu khó nằm im ít lâu cho hạ hỏa bớt, mày bốc quá rồi đó.

Cậu chẳng tha gì mà không giới thiệu tất cả chuỗi tên bố láo đã gán cho tôi: Đô Đốc Thiêm, Đạo Đức Thiêm, nhà ngôn ngữ học kiêm phó nháy kiêm thợ máy kiêm xích lô, nay là nhà cách mạng có nhãn hiệu trình tòa. Tôi biết cậu muốn cho tôi khuây khỏa và đúng là những lời tán phét của cậu giúp tôi thêm vui trong những ngày quá dài không cựa quậy được. Anh chị em trong bệnh xá quen tôi nhanh, bên cạnh cái chăm lo chung đã có một chút mến riêng mà tôi cảm thấy được ngay, cũng nhờ có Hảo.

Hảo thường hỏi bệnh và bắt tôi trả lời bằng tiếng Anh, bí thì cho phép chen tiếng Pháp, bảo là cả hai cần cạo gỉ các ngoại ngữ để còn chọi với đế quốc lâu dài. Tôi không thích nhưng phải chiều cậu. May là chỉ có hai thương binh nặng hơn được xếp một buồng riêng; đồng chí kia đã khỏe, học tới lớp bốn mà biết năm thứ tiếng của các dân tộc Tây nguyên nên không thấy khó chịu khi chúng tôi nói với nhau. Trong câu chuyện của Hảo thường pha chút giấm chua giễu cợt:

- Cho mày cái mô tô, mày sẽ tháo lấy còi hay đèn pha chơi, còn vất hết. Mày dùng cuộc đời cũng vậy thôi.

- Mày hay khoe tánh mày ruột để ngoài da, đây là một bằng chứng.

- Tao tưởng các siêu nhân không bao giờ đi bằng vai người khác chớ.

Hằng ngày săn sóc tôi là Thu Yến, mới ra vùng giải phóng được vài tháng, còn nguyên mái tóc uốn sóng dài bỏ xõa và cái e thẹn hơi đỏm dáng của cô nữ sinh Đà Nẵng. Theo Hảo đi khám bệnh, Yến bưng khay thuốc đứng mé sau, im lặng giương đôi mắt bồ câu nghe chúng tôi đấu mép. Yến hay ở lại bên tôi hỏi chuyện rủ rỉ. Cô quý chung các anh bộ đội, nhưng coi thích riêng anh bộ đội có chữ nghĩa và gốc thành phố hơn. Ban đầu tôi hơi ngại anh em thương binh nghĩ khác, sau mới biết chính họ nhắc Yến ngồi trực chỗ tôi càng nhiều càng tốt, bởi tôi bị nặng nhất. Dần dần tôi quen với nụ cười hồng khi Yến băng cháo đến và nhại mấy tiếng Nhật nói giọng Pháp của cậu Hảo:

- Đôdô, ôtabênaxai!

- Arigatô(1)!

 

(1) Mời ngài xơi

 

   - Cảm ơn

 

Và lát sau chúng tôi gật đầu chào nhau: Xayônara(2). Tất cả đều tinh tế, nhẹ, êm ả.

Bệnh xá đóng trong làng Cẩm Tú khá giàu, mới giải phóng, chưa hề bị bom pháo. Tôi ở nhà tên quận phó đã đem vợ con chạy trốn. Sau bấy nhiêu năm hết ở rừng với ngủ hầm, bây giờ tôi được nuôi mập trong căn buồng quét vôi xanh nhạt, nằm trên giường tây có đệm và mùng tuyn, với một lô sữa trứng, chuối đặt trên cái bàn mặt đá vân, bên cây đèn dầu to phủ chao lụa hồng. Cách mạng miền Nam mà sang vậy đó. Nếu bớt đi tiếng máy bay ầm ù trên cao, thêm đèn điện, tôi dễ tưởng đang điều trị ở Sài Gòn hay Hà Nội. Và dáng người áo trắng, mái tóc uốn, lối đùa hơi kiểu cách của Thu Yến lại rất hợp màu hợp nét với khung cảnh trang nhã của căn buồng, càng tạo nên cái yên vắng vây quanh giường bệnh. Tôi chỉ còn nghe pháo đánh nóc hầm giữa giấc chiêm bao.

 

(2) Tạm biệt

 

Mất một tháng rưỡi tôi mới đứng dậy được. Các vết thương khép miệng, kéo da non đỏ hỏn. Đồng chí cùng buồng đã ra từ lâu, thương binh còn ít nên Hảo xếp tôi ở một mình. Rảnh việc, anh chị phục vụ mỗi chiều hay đèo nhau xe đạp ra dãy quán dọc đường ô tô chơi, họp bà con nói chuyện phòng bệnh hay tập múa hát cho trẻ em trong làng. Yến ít đi đâu, hay đến buồng tôi hỏi về đời bộ đội, cô rất chăm nghe và dễ xúc động. Anh Hai của Yến là chính trị viên tiểu đoàn, về hoạt động quanh Đà Nẵng, đã đón Yến ra khi Đà Nẵng đang sùng sục vì những vụ lính Mỹ hiếp phụ nữ.

Bà con Đà Nẵng coi anh giải phóng quân như thần, Yến cũng vậy.

- Con Lan hay đi biểu tình với em, hai đứa quanh năm mặc áo cùng kiểu cùng màu, nó thề chính mắt nó nhìn thấy tàu ngầm bên ta nhô lên khi chạng vạng, cho xuồng cao su lắp máy chở mấy anh “mũ sụp” chạy vô Sơn Trà, biến mất. Đêm sau các anh đánh rụm mấy chục tàu bay ở Đà Nẵng.

Yến cười thẹn thò, mặt rất hồng bên cái chao đèn lụa.

Tôi đọc nghiến ngấu những tập Văn nghệ giải phóng và hai cuốn truyện mỏng, thèm quá. Sách báo đã ít, qua bao nhiêu lần dời chỗ lại mất dần hết, theo Hảo nói thì một số anh em ta vẫn khoái cái câu “lấy sách không phải là ăn cắp”. Yến mượn trong làng cho tôi được nửa bộ Thủy Hử, tôi ngoém hai ngày là hết, không biết các ông tướng quen rượu rót bát to, thịt xắt miếng lớn ấy sẽ nổi dậy ra sao. Ăn không ngồi rồi quả là một cực hình. Tôi viết thư cả mớ, gửi má và em Hiền, gửi ba và anh Hai ngoài Bắc, xê mình, bạn gần bạn xa, gửi Mẫn ba lá rất dài. Tôi chưa ngồi được lâu, đi vài chục bước các vết thương đã đau nhức, thường đọc nằm, viết nằm nên mau mệt. Rốt cuộc món giải trí hàng ngày vẫn là những câu chuyện rủ rỉ của Yến trong giờ trực.

Thu Yến có khuôn mặt xinh xắn, da trắng xanh với những nét gì như gọt tỉa quá kỹ và hơi mỏng mảnh. Sống mãi trong thành phố bị chiếm đến mười tám tuổi mà Yến vẫn nết na, hiền và ngoan, có lẽ nhờ mẹ và các chị kèm riết. Đôi lúc còn những cái cũ chưa gột hết: ông tỉnh trưởng, bà Nhu, văn hiện sinh hay lắm, nghe nhạc dịu Sài Gòn có sao đâu. Nhưng vượt lên trên bấy nhiêu vặt vãnh, tôi nhận thấy Yến khao khát được lao vào cuộc sống lớn đang bày ra trước mắt. Con chim mới ra ràng, từ trong tổ nhảy lên được cành thoáng, đang đập cánh muốn bay cao bay xa. Yến hay lắc đầu bướng và hơi nũng:

- Các anh chị ở đây coi em như… con búp bê. Việc gì nặng nặng khó khó là gạt đi không cho em rờ tới, nói mày con nít làm nhiều khó lớn. Da mày bạch tạng chưa quen ăn chịu, để mày lo động viên các anh thương binh thôi.

Người hay ngăn nhất là Duy Hảo, tôi biết

Nhiều lần, tôi bắt gặp mình nhìn ra cửa đợi Yến đến. Tôi bắt đầu áy náy khi sờ cằm thấy nhám râu hay phải mặc bộ bà ba vá đụp nhiều chỗ. Khi soi gương, tôi không còn khó chịu vì nước da bụ sữa đã quay lại, lớp sạm phong trần bay mất. Lại còn thấy hay hay nữa, điển trai một chút đã sao, tôi đã tới ba mươi đâu. Tôi tự giễu mình đổi nết, đâm ra trai lơ và ham bề ngoài, nhưng giễu mà vẫn tha thứ cho những “tật xấu đáng yêu” ấy.

Hảo nói tôi khắc khổ, sớm già, có lẽ đúng chăng?

*

Cậu Sang, cán bộ của H.68 đến thăm tôi lần nữa với quà và thư anh Điển: “tính để cậu nằm cho yên ít lâu, nhưng đành phải tới rút ruột cậu một mớ…”. Kèm theo là mười sáu câu hỏi về Mỹ và kinh nghiệm đánh Mỹ, tôi sẽ đọc và trả lời cho Sang ghi, coi như dự tổng kết từ xa.

Tuy Hảo không bằng lòng mấy, tôi vẫn nằm làm việc trong hai ngày liền. Càng nói càng bốc, có lúc tôi chồm dậy, cố thuyết phục Sang rằng tự làm mìn chống ra đa rất dễ, mà du kích cứ nghĩ dễ dùng ni lông gói mìn vỏ gang là địch không ngửi ra, bị mất cả lô rồi đó. Tôi hầm hè cãi nhau với ai đấy vắng mặt rằng chớ nên bị ám ảnh bởi giày đế sắt và áo giáp Mỹ mà bỏ chông. Chông sắt vẫn xuyên được phần da trên đế, chông tre chông cau sẽ xóc bụng và chân tay Mỹ khi chúng nhào sấp tránh đạn ta… Sang đi rồi. Tôi nằm soài đấy, mệt phờ nhưng nhẹ tênh tênh. Tôi còn có ích đấy chứ. Cái vốn hiểu Mỹ của tôi tuy nhỏ xíu nhưng vẫn được dùng, may lắm.

Tiếp đó, một anh địch vận của tỉnh mang đến cả chồng tài liệu Mỹ mới lấy được năn nỉ tôi dịch. Lần này Hảo cấm hẳn. Tôi nghĩ ra một mẹo: trước mặt Yến, tôi đưa bản hướng dẫn phòng bệnh của lính Mỹ nhờ Hảo dịch hộ. Cậu ta ngứa nghề, làm luôn, còn đi lấy từ điển Anh-Pháp và Pháp-Anh để tra kỹ. Từ hôm ấy, pho từ điển dày cộp nằm lại trên cái bàn mặt đá vân cùng những tập sách Mỹ không quan trọng mà anh kia bỏ lại. Hảo răn đe chán chẳng được, sau bắt tôi hứa chỉ làm việc vừa đủ óc khỏi gỉ.

Tôi chợt nhớ số giấy tờ lấy trong cái xác Mỹ bỏ lại giữa những vết xích xe. Giữa lúc tôi mê, anh em thay cái áo đẫm máu đem giặt… Tôi tìm ra cả xấp trong đáy ba lô. Thằng này chết vì hai viên AK của tôi trúng cổ, nó thò đầu hơi cao trên thành xe.

Lính Mỹ lắm giấy thật, chẳng bù với anh em mình… Tôi xem kỹ tấm thẻ căn cước dán nhựa cứng cả hai mặt, có dán ảnh chính diện chụp cái đầu cắt trọc với bảng đen đề tên bằng phấn kê dưới cổ, như tù đeo biển số. Hình như bọn cầm quyền muốn tập cho lính quen chịu nhục từ khi phát thẻ trở đi. Những dấu lăn tay gợi cảnh phu mộ bán xác đi tân thế giới. Con người không còn cha mẹ, không địa chỉ quê quán trên đời, biến thành con số dài thòng: SB.24943715. Thêm hai câu chữ xanh in theo chiều dọc, kẹp hai bên: Tài sản của chính phủ Huê Kỳ. Tôi muốn nghĩ tài sản ấy là tất cả thằng lính Risớt L. Cácxơn chứ không riêng tấm thẻ.

Tôi đọc lần lượt những mảnh bìa bằng cỡ sổ tay in chữ nhỏ. Có thẻ ăn, thẻ mua hàng, thẻ xem bói bằng chữ ký, thẻ ra vào trại, thẻ y tế, nhiều nữa. Tất cả những quy định và lời khuyên vặt đều in thành thẻ. Mới tinh, có lẽ chưa đọc lần nào, là cái thẻ dạy đường cư xử gồm sáu điều, mở đầu bằng việc bảo vệ lối sống Mỹ, chấm dứt với lòng tin ở chúa và ở nước Huê Kỳ. Thằng lính chẳng bỏ thì giờ xem những dòng lít nhít ấy, để lo tập nói toi xin đàu hang lợi hơn nhiều chứ.

Thằng Risớt này mới sang ta đã nhận nhiều thư. Cô Giâynơ gửi một lá thư tình đánh máy hơi gượng gạo, nhắc dài tới những tối nào đó lắm muỗi ngoài vườn nhà bà cụ N., cô này viết tắt và nhớ muỗi hẳn không chỉ vì mặc kiểu áo váy ít vải nhất. Kèm một chuỗi ảnh dính nhau, chụp rẻ tiền bằng máy tự động ăn xu đặt đầu chợ, của một cô gái vẽ đôi mắt quá dữ và có nhiều đường nhăn bao quanh miệng, trông sớm héo. Tới thằng em trai viết rằng ba say rượu và đánh con nặng tay hơn trước, hỏi anh đã nghe tiếng húppi(3) rùng rợn của Vi xi chưa? Và sáu thư liền liền của bà Bétty… Tôi đọc lướt, rồi đọc kỹ từng lá thư theo thứ tự ngày tháng.

 

(3) Tiếng thét xung trận của người Anh điêng, tức da đỏ (Whoppel)

 

Đây rồi, cái nét mà anh Năm Đông bảo rằng tôi đã coi nhẹ khi tìm hiểu lính Mỹ:

… Người ta bàn cãi khắp nơi, mỗi người một phách. Chú Étdy nói thời nào cũng có chiến tranh, tránh sao khỏi, xưa chú đánh Đức thì nay lứa con cháu đánh cộng sản thôi. Ông chủ cửa hàng của mẹ vui lắm, vỗ vai mẹ khen có đứa con anh hùng, các bạn mẹ đều nói ông có nhiều cổ phần trong ngành máy bay, sắp giàu to rồi. Ba con như người điên, uống say lại đập cốc, kêu trót dại lấy vợ đẻ con làm gì, đứa làm đĩ, đứa chết ở Triều Tiên, tới thằng Đicky(4) cũng mang bệnh giang mai và ma túy về nhà, sao không chết hết một lần cho rảnh. Mẹ chỉ biết khóc và cầu Chúa…

Đến một thư khác:

 

(4) Gọi tắt và thân tên Risớt

 

… Mẹ sợ lắm, mẹ không ngủ được. Tờ giấy đòi rút các con về nước mẹ để ngót tuần nay trong ngăn kéo mà không dám ký. Cái hội gì đấy tên dài lắm đã gọi điện cho mẹ hai lần, nhắc phải cứu con gấp. Chị Bácbara cũng đến khuyên mẹ một tối, chị là người ngoan đạo và đáng kính nhưng bị mấy tờ báo trong bang gọi là cộng sản. Mẹ biết làm sao con ơi? Ba con thất nghiệp lâu quá rồi, nếu mẹ mất luôn chỗ bán hàng này nữa thì cả nhà chết đói mất. Mẹ đã phải bỏ xe trôlây, đi xe buýt vòng xa hơn, tránh qua nhà các chủ nợ, lão Lông Cừu Vàng đòi găng nhất và dọa đưa ra toà…

Lá tiếp theo không có gì hay. Đến lá mới nhất, có chữ thằng Ri-sớt ghi nhận hai ngày trước khi chết, bà Bétty viết hối hả giữa cơn sốt:

Thế là mẹ, như người ta nói, đã dấn thân rồi Đicky ạ. Chủ nhật vừa rồi mẹ đi biểu tình trên phố Loxơn và bạn bè tới năm ngàn người và người hàng phố còn đứng hoan hô nhiều lắm, họ giơ hai ngón tay chữ V và đưa ngón tay cái khen ngợi, chỉ có vài đứa bĩu môi thôi. Thì ra những người lương thiện đều chống cuộc chiến tranh của L.B.J. cả con ạ. Chúa thiêng liêng soi xét lòng mẹ, dù mẹ bị đuổi việc hay bị xem như cộng sản hay mẹ đang làm cộng sản thật đi nữa thì con mẹ sẽ không bị đày hỏa ngục vì nhúng tay vào máu người vô tội mà thằng Đicky bé bỏng sẽ về với mẹ…

Tội nghiệp cho bà Bétty! Thằng Đicky đã nằm lại làng Cá, trong góc vườn mẹ Sáu, đợi bà. Hai viên đạn AK của tôi là cái dấu hết - một gạch, hai chấm hai bên - cho cuộc đời cướp biển còn rất ngắn của nó. Dù nó bị ép hay lầm lẫn, tội ác vẫn là tội ác, bản án cứ phải thi hành thôi.

Tôi ghi địa chỉ của bà: Bétty A. Cacxon, 1625 đại lộ Loxơn, thành Đantơn, bang Gioocgia.

Khi có dịp, tôi sẽ gửi thư an ủi một bà mẹ Mỹ đáng kính và đáng thương, còn bây giờ tôi phải lo giết thêm thật nhiều lính Mỹ chưa buông súng, dù biết có nhiều đứa giống thằng Đicky. Trước hết tôi phải thương những cháu Hoàn bị xé xác tìm không đủ xương thịt, thương tất cả những ai trên trái đất này đau khổ vì gót giày sắt của thằng Đicky đã đạp hay đang dọa đạp tới, tôi thương cả mẹ nó trọn đời long đong khốn khổ, nên càng cố bắn cho trúng nó. Tôi vẫn đo chiều dài của đời tôi không phải bằng năm tháng, mà bằng số lính Mỹ tôi sẽ bắn gục hay trói giải về. Bà hiểu không, hỡi bà mẹ Mỹ mà tôi rất muốn xoa dịu nỗi đau quằn quại?

Tôi buông xấp thư, nằm im nghe chỗ bụng rách đang ngứa vì kéo da non, nghĩ về lời nhận xét của anh Năm Đông. Rất đúng. Đài và báo ta nói nhiều về nhân dân Mỹ chống chiến tranh, tôi vẫn nghe và đọc đều. Khi ở thành, tôi cũng tìm xem không ít sách báo tiến bộ về nước Mỹ. Tại sao tôi lại cố dẹp đi những cảm tình đã có đối với người Mỹ? Tôi chưa lúc nào muốn “tỏ vẻ lập trường vững”. Có lẽ chỉ vì tôi mắc cái bệnh “hẹp van tim”. Tim tôi hẹp, không chứa nổi cùng một lần nỗi căm uất ghê gớm và lòng nhân đạo mênh mông của người cộng sản. Tôi chưa đủ sức cùng một lần thương chị Biền bị moi gan với bà Bétty bên kia trái đất.

Ngày xưa, tôi tìm đọc về nước Mỹ như một người trẻ tuổi tò mò muốn tìm hiểu một xứ rất trẻ, dù nó là cái bồ đựng chế giễu và khinh miệt của châu Âu thầy cũ, dù nó tự phơi thân làm trò cười cho thiên hạ trên những tờ quảng cáo phim: hình như trên đất Hoa Kỳ con trai chỉ lo bắn nhau bể sọ dừa, con gái chỉ biết cởi truồng, tên vua dầu lửa bụng phệ chỉ mút xì gà gộc, người da đen chỉ đứng hầu ngơ ngác, và cảnh sống quái gở ấy luôn luôn diễn ra trên cái phông đầy nhà tổ ong của đồng cỏ đang cháy. Tôi đã phải chọc thủng cái bức màn vừa đểu vừa ngu ấy để tìm đến những người Mỹ lương thiện. Tôi mến Giắc Lơnđơn và Mác Tuâynơ, rồi gặp Hêminguê, sau mới khám phá ra cả cái kho tiểu thuyết lên án xã hội trước thế chiến hai. Tôi đau nỗi đau ngàn đời của người nô lệ da đen, khao khát được sống như Hariơt Tớpman và chết như Giôn Braonơ(5). Tôi theo những người thất nghiệp bới rác kiếm ăn, lết từ bang này qua bang khác. Tôi cùng nổi dậy với dân thợ mỏ ở quận “Haclan đẫm máu”. Đó, nước Mỹ thật, nước Mỹ của bà Betty đã xuống đường!

 

(5) Herriet Tubman, đàn bà da đen và John Brown, đàn ông da trắng, đều nổi tiến tronglịch sử đấu tranh giải phóng nô lệ da đen ở Mỹ.

 

Anh Năm nói phải. Ta với địch cài răng lược nhau suốt từ Chu Lai đến Nữu Ước, tôi lại cứ muốn gạch một đường ranh giới thẳng băng theo kinh tuyến, gạt tất cả người Mỹ sang phía bên kia cho gọn, đâu được.

Tôi cười một mình, thiu thiu ngủ dần với những nét ngoằn ngoèo chạy dưới mi mắt.

*

Tôi được thư Mẫn vào một buổi trưa, sau bữa cơm.

Trống ngực tôi đập gấp khi cầm cái bì nhỏ có nét chữ tròn hin, người thon thả mà chữ lại giống cô Chín Cang mới kỳ, đề rõ trên đầu là Hai Mẫn. Ba thư của tôi đều gửi anh Tư Luân cho kín đáo một chút, cũng để anh hiểu tôi hơn. Còn Mẫn lại rất bạo, hay nhỉ.

Mở ra, tôi cụt hứng. Chỉ được mươi dòng ngoáy vội. Mẫn nói tới nay mới biết được số hòm thư của bệnh xá, thương nhớ lắm mà chưa đi thăm được, bận quá. Lá thư đầu tiên của Mẫn gửi tôi từ ngày quen nhau đấy, thăm người yêu vừa thoát chết đấy, chán không. Tôi buông mảnh giấy rách bụng từ sổ tay xé ra, thấy tủi không thể tả.

Lâu nay tôi háo hức đón hỏi tin vành đai Chu Lai, tin Tam Sa, xoáy vòng trôn ốc để hỏi tới cô bí thư. Tuy vắng đi những cơn nhớ sấm chớp ngày trước - có lẽ nằm lâu quá, tình yêu cũng mềm đi cùng với con người chăng - nhưng hình ảnh của Mẫn lại lắng sâu hơn, kết tinh hơn. Tôi sốt ruột đợi thư Mẫn với cái thu thú của trẻ con đợi trái ổi lồng chín cây, càng lâu càng ngon. Mãi Mẫn mới chịu ném cho tôi mấy chữ miễn cưỡng thế này: Em búi việc quá, mong anh thông cảm… Rốt cuộc Mẫn vẫn có lý. Có lý mà thiếu tình. Hay nếu chỉ có tình đồng chí đồng bào thì Mẫn yêu mấy chục triệu người chứ yêu riêng gì tôi mà thương với nhớ! Tôi giận Mẫn rồi.

Mẫn đổi lòng ư? Khó tin. Nhưng trận nào chẳng phải tính tới tình huống xấu nhất!

Câu chuyện của trung đội trưởng Lập hôm xưa, kể thì thào dưới bụi cây rậm gần đồi núi Sàm, vụt trở lại với tôi rõ từng lời:

Cậu yêu một cô ở quê, giúp cô nhiều. Lập đi bộ đội, hai người vẫn thư từ với nhau suốt ba năm đằm thắm. Năm ngoái cậu về phép thăm nhà, gặp lúc cô vừa trúng vào huyện ủy. Cậu lại dò dẫm tìm đến cơ quan huyện ở khá xa, phải qua vùng đang bị càn. Trạm giao liên không nhận vì giấy phép ghi là về xã, chẳng có công tác gì mà phải gặp huyện, cho cậu vào thì lộ địa điểm, mời ra trạm thì cán bộ huyện mắc họp cả. Lập cáu nhưng đành nằm đợi, viết thư nhờ cầm vào cho chị Liên Hoa. Sáng hôm sau trạm mới có người đi, đến trưa đồng chí kia trở về với một câu nhắn vội: anh chịu khó chờ, mai chị mới ra được. Lập cuốn võng, xốc ba lô đi biến, gửi thư cắt luôn.

Nghe chuyện, tôi chỉnh cậu một mẻ. Vợ thăm chồng chịu khó chờ được, chồng thăm vợ đợi chút đã sao. Lập cãi:

- Mới đầu cũng có nóng mũi thiệt. Qua cơn nóng, tôi cứ thấy cắt là phải. Tới hồi cô ta lên tỉnh lên khu còn búi gấp mười, tôi không đủ thì giờ đi tìm, rồi còn chầu chực, rồi biết đâu người ta chẳng xấu hổ vì thằng chồng cấp thấp. Về lâu về dài, chắc tôi phải lo hết heo gà cơm nước, vì công tác của cô ta bao giờ cũng quan trọng hơn, đưa lý ra là tôi cứng họng… Thôi, nồi méo úp vung méo!

- Phong kiến dữ ta!

- Anh lâm cảnh tôi mới biết. Mà lâu nay ta kêu gọi đàn ông đảm đang việc nhà cho vợ đi cứu nước lần nào chưa? Hay là tôi giải ngũ về giữ con?

Tôi cười ngất. Lập cho biết thêm cô Hoa đã gửi cho cậu bốn lá thư phân trần và trách móc. Tính cậu Lập bộc tuệch, dễ vui, đòi lìa cô Hoa Sen mà chẳng thấy vương tơ lòng chút nào.