Mẫn và tôi - Chương 21 (phần 2)

 

Làng Lộc Chánh đã ngập một nửa trong khói. Cối và phóng lựu M.79 của quân bộ ngoài trảng phóng vào như mưa đá. Nhiều đám cháy. Bốn chiếc trực thăng phản lực bay tới, quần do dự trên cao, chắc sợ trúng đạn cả đôi bên. Tôi xem mãi đến hoa mắt, phải trao ống dòm cho anh em, chợt thấy tim đập dữ và ngực đau, có lẽ tôi quên thở quá lâu. Các tiếng nổ nhập cục lại thành sấm đất, bây giờ tôi mới nghe. Tai còn vo vo bung bung. Người xem đá bóng lắm khi mệt hơn cầu thủ.

Cậu Lập thay tôi theo dõi trận đánh, hết ứ trong mũi lại áiđằng mồm. Tôi muốn gắt cho cậu ta im, sau chỉ hỏi:

- Tới đâu rồi?

- Nó phóng một loạt trái mù. Rút … Rút thiệt rồi.

- Mi-tăng(2) thôi, hay là…

- Xe quay đầu. Quân bộ cũng lui... Gut-bai Vi-xi(3). Đường về Chu Lai còn xa lắm, co-ca-cô-lâ đã cạn từ lâu...

 

(2) Nghỉ giải lao giữa cuộc đấu

 

(3) Tạm biệt Việt Cộng!

 

Tôi phì cười. Gần năm giờ, tụi Mỹ chuồn thôi. Pháo Chu Lai nổi gầm từng loạt. Giai đoạn thù vặt bắt đầu.

- Chắc đồng bào hỏi miết đâu rồi bộ đội.

Câu nói lơ lửng của chú Dé làm tôi nhói ruột. Thôi chết, lúc thường mang súng dài súng ngắn dạo khắp xóm, Mỹ lên đốt đuốc tìm không ra ông nào, tránh sao khỏi… Ai đó sẽ lên tiếng: “Cái tay Thiêm ăn cá uống bia lâu nay đó, đâu rồi ta”?. Ai khác cười mũi: “Hì, một tấc đến trời!”. Mẫn đỏ hai tai, nâng các-bin lên ngắm để khỏi nhìn quanh. Chẳng lẽ Mẫn kêu toáng: “Anh Thiêm đang theo dõi cái núi Sàm để tối mai khiêng chống chầu(4) về diệt, đừng nói bá láp!”'. Ừ mà cho đến nay tôi vẫn là phái viên của H.68 về bám Tam Sa, có gì khác trước đâu. Tam Sa đánh Mỹ lần đầu, cũng là trận chống Mỹ đầu tiên của khu vực Bắc Chu Lai, tôi đã để bao nhiêu kinh nghiệm vàng ngọc tuột khỏi tay! Rủi, rất chi là rủi, đành vớt vát thôi.

 

(4) Đón bộ đội chủ lực

 

Trung đội trưởng Lập lãnh bộ phận này, nhưng vì tôi có mặt nên cậu cứ quên vai trò chỉ huy, nay xin trả lại cậu. Tôi chỉ mượn cây AK với hai trăm đạn, cây súng này làm tôi mừng sửng sốt khi bắn thử. Chú Dé đòi theo, tôi không chịu, chú xịu mặt ngay. Tiểu đội phó mà trẻ con vậy đó.

Tôi gặp Dé năm ngoái khi về chuẩn bị đánh đồn ở Trà Bồng. Chú dẫn tôi đi, đón tôi về. Tôi chưa thấy một ai có mắt, tai, mũi lạ lùng như Dé, tinh nhạy đến phát sợ, thua người chỉ cái miệng. Chú mến tôi, rồi mến xê mình, cứ nhất định “nhập ngũ anh Thiêm” thôi. Bao nhiêu lần chúng tôi đã trầm trồ với nhau: “Thằng nhỏ, đúng là trời sanh ra làm trinh sát!”. Cái đồi núi Sàm kia, chú đã vào ngoay ngoáy tới tận ruột nó tới bốn lần. Tôi hay chọc Dé là “khôn chợ dại nhà”, chọi với địch một ngàn mánh khóe mà ở với ta chỉ biết tít mắt cười hề hề. Cái cười ấy, cùng với bộ mặt bấm ra sữa và giọng Kinh chưa sõi đã giúp cho Dé được các mẹ cưng nhất trong xê mình.

Tôi về đến làng Cá lúc gần tối.

Đường làng đầy ngập những nhóm vừa đổi phiên địa đạo, lấm lem từ đầu đến chân. Hai người phủ bột đỏ, vác cuốc. Năm cô sàn sàn nhuộm bùn lỏng màu xám lợt. Một tốp nữa toàn đất sét vàng, trên khô dưới ướt. Giống nhau chỉ có bộ mặt vằn vèo muội đèn và bộ râu Hít-le đen kịt dưới lỗ mũi, tuy đã thắp dầu phụng cho đỡ khói. Bà con chỉ bàn thì thào – cách mạng miền Nam ai làm nấy biết, quen nếp rồi – mà cái khoái cứ xì qua giọng nói:

- Pim pim! Tránh xe ủi đất nghen!

- Chỗ đó rút tấm ván cầu, thằng nào nhảy xuống … éééo!

- Tò te là tum cốc...

- Nó tàu bay, mình tàu lặn, thử coi ai ăn ai!

Đội du kích chưa về. Nhiều cặp hát u thả đèn dù và bắn như xay lúa dọc đường Một. Tụi ngụy áo đen suốt buổi chiều dạt về mạn bắc, nằm giữa trảng cát cho máy bay dễ nhận, không dám đến gần ông bạn Mỹ vụng như gấu mà rất đa nghi. Bây giờ pháo đang nện gắt vào chỗ trảng ấy. Tụi ác-vin chết mặc kệ, miễn là chặn được đường lui của Vi-xi, chắc tên chỉ huy Mỹ nghĩ vậy.

Tôi bám anh Luân đi xem suốt lòng địa đạo, soát lại các cửa đã ngụy trang rất khéo, xong còn ăn cơm nhà mẹ Sáu và tắm một chầu, đội du kích mới về. Anh em vòng hình chữ U vào phía Nam tránh pháo và trực thăng. Tuy đã thắng được những cơn sốt dồn dập, lúc này tôi vẫn đâm bổ ra đón. Một khiêng lúc lắc, võng buộc vào cây tre. Một cái đầu băng trắng. Cậu Diêu, Mười Diêu ở Nhơn Lộc hi sinh. Đã cho khiêng thẳng về làng. Địch hả? Mấy người đếm, ít nhất mười bảy, nhiều nhất hăm lăm xác, số nhào trong xe chưa biết được. Từng khuôn mặt lấm, cười lóe răng, diễu qua cái luồng sáng đèn dù xen kẽ với bóng cây lá, ném cho tôi một câu hối hả. Các cô được tản đi tắm giặt trước, cánh con trai khiêng thưng và lo việc linh tinh. Phụ nữ làm bí thư có khác. Mẫn đi gần cuối, ấn luôn vào tay tôi một cái xắc cốt rộng và dẹt, nói như đang dở câu chuyện:

- Thầy Thiêm coi giùm đi. Nó rớt ra, cát lấp, bà con bới tìm súng mới đụng. Họp nhà xã Chinh, mười giờ…

Mẫn đi thẳng. Ngại tôi bắt bẻ, không muốn tôi thấy rách, bẩn, hay giấu một vết thương mới? Đố biết.

Năm Ri ẩy vào nhà xã Chinh hai tên trói ké, một đứng tuổi mặc bà ba đen, một trẻ mặc tây rất sang. Anh Luân thắp thêm ngọn đèn ve rượu bạc hà, soi lại hai bộ mặt tái xanh, gật đầu:

- Ngon rồi, bắt gọn không?

- Ụp xuống là tới thăm nhà lập tức. Thằng Hòe đang diện bảnh, dắt xe đi đón ông nội Huê Kỳ, bản đồ với thẻ công an chìm nhét trong quần lót. Thằng Cống làm heo, nấu xôi, để sẵn sáu két bia. Anh em đại liên một trận, dàn quân hơn tiếng đồng hồ Mỹ mới lên. Tài liệu chôn dưới chuồng heo, cả mớ vàng với tiền đây nữa.

Cậu ném ra gói giấy bạc một trăm mặt xanh mặt đỏ, và xâu nhẫn vàng chừng hai chục cái. Anh Luân xổ mớ thuốc rê xuống mặt bàn, lấy cái túi nhựa trong bỏ các thứ vào, thắt lại:

- Để giao Năm Tuất làm tiếp…Hỏi chưa?

- Rồi. Nó biết Mỹ sắp càn Tứ Nhơn, không biết ngày giờ.

Năm Tuất vào, “à” ngay một tiếng nhẹ nhõm. Vẫn rất củ mỉ, lớp lang, anh đọc cho hai tên điệp nghe giấy bắt của huyện. Thằng Cống buôn mắm. Thằng Hoè chích dạo(5), đã được bà con Lộc Chánh bám sát lâu nay. Thế nhưng chi ủy không tin hai đứa này dò ra tông tích chị Biền. Ngay tôi là “cố vấn” đáng tin cậy cũng chỉ nghe Mẫn kể sau khi vợ chồng chị bị giết. Các đồng chí khác về vùng cát vẫn yên ổn.

 

(5) Tiệm thuốc rong

 

Cũng chẳng phải thằng Chinh con “giết lầm hơn bỏ sót”. Không, hắn ăn gan chị Biền, uống say, nói toáng rằng mụ này mới kết nạp, gan đảng viên nằm vùng béo hơn đảng viên nhảy núi là nhờ “ăn cơm quốc gia thờ ma cộng sản”, ở núi ăn lá thì gan dai nhách.

Vụ án chị Biền vẫn chưa tỏ. Tên địch giấu mặt nào đó đớp lấy một câu sơ hở như cá đớp bọt, lặn ngay, chưa mò ra.

Anh Tám Liệp đến sau, vẫn chững chạc trong bộ quân phục ka-ki, lẳng lặng đếm tiền, đếm vàng, rút giấy viết biên bản giúp Năm Tuất. Bàn tay anh có cái gì đó ngượng ngập khi đặt tờ giấy kín chữ trước mặt Mẫn: còn khi hỏi Tư Luân mấy việc gấp về kho lúa, anh có vẻ tự nhiên hơn. Anh chưa quen làm việc dưới quyền cô con nuôi. Cũng không quen chào chung một tiếng và rút êm để chi ủy họp. Mẫn ngước nhìn theo ông chú đi ra cửa, chớp chớp, mắt hình như kín đáo thở dài.

Tôi đã hiểu vì sao anh Bảy buộc Tám Liệp phải ở lại Tam Sa để dọn những chỗ xả rác. Những cán bộ lâu năm như anh Liệp, công rất nhiều, khi sai cũng không ít tội, nhưng họ khác xa lũ Ba Thấn, họ đủ tỉnh táo để bước lùi trước cái vực đen của sự phản bội. Chiếc xe bò ì ạch thật đấy, nhưng khi nó chuyển thì lại vững và khỏe hơn xe đạp gấp mấy. Tám Liệp đã chuyển. Anh về ở hẳn Làng Cá, xóm Đuồi, trong mươi ngày đã sắp xếp gọn đống bòng bong kinh tế mà Năm Tuất suốt hai tháng ròng không gỡ nổi. Bây giờ anh đi từng xóm giải quyết nốt số ruộng công, tổ chức làm mùa tháng năm. Những tiếng trách và giễu xung quanh lặng bớt, nhưng khen thì chưa. Ở nơi hằng ngày động đất này, bà con coi người trên việc làm. Không ai rỗi hơi để nhắc hoài chuyện cũ, cũng chẳng tội gì mà đi bốc thơm một cán bộ đã bỏ dân khá lâu.

Từ nãy tôi thắp đèn riêng một góc, trải tấm nhựa trên nền sạch, soạn lại xắc-cốt Mỹ. Khi mới tới, Mẫn đặt trên bàn một nải chuối tiêu to, mời: “các chú ăn nếm đi để cháu ăn với, đói kinh”. Một kiểu mời rất nông dân. Đợi chú Liệp đi khuất, Mẫn mới dám bẻ chuối ăn, vừa nhai vừa đọc biên bản. Ký xong, Mẫn dặn:

-Anh Năm xin trên một phần tiền, mua sữa trứng gửi cho hai cậu bị thương, mua thuốc cho du kích nghen…Nhắc ai giải tụi nó, hễ cởi trói cho đi ỉa như thằng Ba Thấn thì vô trại cải tạo luôn do…Đứng lấy du kích, một tổ phụ nữ vác dao phay đủ rồi, mượn vài trái lựu. Anh cầm luôn cái tờ em lấy cung hỏa tốc hồi trưa, đây. Khiêng thương hai cáng sáu nguời…Dạ, anh đi.

Mẫn bẻ mấy trái chuối đem lại cho tôi. Ngoài sân ai đó kêu to “tàu rà”. Ở vùng tàu bay dệt cửi trên đầu này, hai tiếng được rút gọn thành “tơra” ấy mới đáng coi như báo động. Đèn tắt phụt, trong xóm đèn lửa vẫn để nguyên. Tụi tàu rà thuộc làng đến độ ban đêm có thể nhận ra những đốm lửa khác thường và gọi pháo bắn. Tôi quờ tay cầm chuối, nắm cổ tay Mẫn. Mẫn ghé sát tôi, giọng hơi lẳng và đậm mùi chuối chín:

- Thấy tụi em đánh không?

- Thấy, giỏi một cây. Năm-bờ-oăn(6). Băng chân…

- Rồi. Anh bớt nóng ruột chưa?

- Nóng chuyện khác thôi.

- Gì

- Lấy vợ!

 

(6) Số một, hạng nhất.

 

Một loạt tiếng đập nồi đất trên không. Tôi buông tay Mẫn khi đèn chùm bật sáng, soi qua các cửa sổ đã tháo tháo hết cánh đưa xuống hầm. Một bóng người cao lớn nhô trước cửa chính, thở phì phò, chân tay quờ quạng như say rượu. Từ sau bóng lạ, tiếng Rốt chị dội tới:

- Chị Hai đâu? Có người hỏi chị Mẫn, hay anh Thiêm cũng được!

Mẫn ra cửa. Cặp tàu rà để nguyên đèn hiệu lượn trên làng. Cái bóng to ngồi thụp xuống thềm, lắp bắp:

- Tôi…Xáng đây…

Tôi nhận ra chồng cô S.16... Mấy luồng sáng trắng quét qua một bộ mặt đầy vết máu chảy trên da nhợt. Áo rách thành mớ dài treo trên cổ, cũng vấy máu. Xáng hổn hển:

- Mỹ vô … hiếp vợ tôi…không chịu, nó đâm chết…

- Trời, con Tươi bị! – Mẫn kêu rít răng.

- Tôi trốn trong buồng, nhảy ra cứu, không kịp, tôi bóp cổ, cắn, đâm…

- Anh có sao không?

- Gai cùng mình…chạy qua bãi xương rồng…đáng kiếp, đau đáng kiếp…

Tôi thấy một chùm gai xương rồng xóc gãy trên vai Xáng, so le như chòm râu lạ. Xáng giết được một Mỹ, thoát, núp nhiều chỗ, ban nãy mò lên lại bị mấy thằng biệt kích ngụy chụp bắt ngoài ruộng, cách bìa làng Cá ba trăm thước phía Bắc, vật lộn nữa. Xáng chạy được, chỉ bị gai lún sâu thêm vào thịt, đau dựng tóc. Địch không bắn theo. Trinh sát hay quân vây?

Năm Ri cho người đi tuần và giao út Hòa cứu chữa cậu Xáng. Cậu lắc đầu nói mãi: “Tại tôi, tại tôi hết…”. Bị gai xương rồng, phải tắm xà phòng thật sạch, lấy nhíp nhổ râu rứt từng cái một, các mũi gãy sâu thì để làm mủ mới nặn ra được. Tôi dặn nhỏ Út Hòa cho cậu uống một liều an thần. Mẫn ngồi vào bàn, tay chống cằm, nhắm mắt hồi lâu trong khi anh Luân nói cho Ri với Cang biết về cô Tươi.

Sau mấy phút choáng váng, tôi day chỗ bắp thịt rút đau trên má bên trái, cố dồn óc vào công việc. Tôi thắp đèn pin xem lại tấm bản đồ vùng Chu Lai trải rộng. Không có chữ hay dấu gì ghi trên ấy cả. Trong kẹp chỉ có giấy tờ linh tinh: Phiếu trả lương cho trung úy Rô-bớt S. No-ton, biên lai chuyển tiền, một số báo Sao và sọc, mấy cái thư, mươi thẻ kẹo cao su dài dẹt như quân bài tổ tôm xấp tư.

Tôi chợt thấy trên mặt nhựa cứng của chỗ đút bản đồ có chữ viết bằng bút chì mỡ đỏ. Chút nữa quên. Tôi gập tấm bản đồ thật đúng nếp cũ, khu vực càn hôm nay nằm trên cùng như trước. Nhét lại dưới lớp nhựa trong như kính. Những chữ đỏ nổi rõ ngay trên nền giấy xanh lá đầy các con số tọa độ và điểm cao.

Tên Mỹ ghi trên góc 26th – 3 pm.., khoanh tròn, kéo một đường vào Lộc Chánh. Đè luôn trên hình con cái quẫy của Nhơn Ái có đề 27th – 7 am. Hai mũi tên chĩa vào đấy. Mũi hướng đông có chữ ACars – Mar. Mũi từ bắc xuống đề ARVN. Trên gò Mù U còn thêm một cánh cung phòng ngự:Hel-Mar.

Tim tôi từ từ thắt lại. Tôi nghĩ một lát, cầm bản đồ tới đặt trên bàn cho chi ủy xem. Anh Luân nâng kính dòm vào:

-Gì hè…Hăm bảy, tháng bảy âm. Nó cũng theo lịch âm ta hả?

Quân Mỹ đã đến Lộc Chánh chiều ngày hăm sáu, ba giờ, đúng kế hoạch. Sáng mai hăm bảy sẽ đánh vào làng Cá, tấn công hẳn hoi chứ không phải nghênh ngang đi tuần. Mũi đường Một lên có xe bọc sắt và lính thủy đánh bộ Mỹ. Mũi bắc giao cho quân ngụy. Trực thăng sẽ đổ lính thủy đánh bộ xuống khóa gò Mù U. Còn vùng đồi hoang hẳn là giao cho máy bay và pháo nện vô tội vạ.

Năm Ri buột miệng:

- Mắt quá mắt thánh! Anh học hồi nào tài dữ vậy?

Anh Luân và Chín Cang cũng khen vùi. Mẫn im, mắt lóng lánh. Trong một phút, người nghe có thể tưởng đọc được tấm bản đồ còn quan trọng hơn đánh thắng trận càn ghi trên đó.

Tôi viết thư, giao Ba Tâm chạy đêm tới sở chỉ huy anh Điển trao cái kẹp. Mẫn đang tính lại số mìn với Ri, dặn với theo: “ở lại luôn đó nghe em, lỡ có hỏa tốc…”. Tâm tảng lờ không nghe, phóng ngay. Chú ta là người của huyện kia mà.

Mẫn đằng hắng, nói nghiêm nhưng chỉ nhìn ngọn lửa:

- Chi ủy họp nhận định về trận Lộc Chánh chiều nay, bàn cuộc chống càn sáng mai. Tôi mời đồng chí Thiêm dự, giúp chúng ta…

Tàu rà vẫn treo đèn dù trên vùng gò và đồng Tam Trân, sẽ thay nhau quần đến mai. Trực thăng rọi pha dọc đường nhựa phành phạch. Những luồng sáng lạ chạy không ngớt qua các lỗ hổng của nhà xã Chinh, tôi thoáng nghĩ tụi Mỹ soi pin tìm ác ôn. Chỉ có cối trên núi Sàm bắn ra chung quanh dàn pháo Chu Lai ngủ sớm để mai dậy sớm.

Hai giờ sáng, Ba Tâm ra bãi mìn mới đặt tìm tôi, đưa mấy dòng lổn nhổn chuyện buôn bán và cày cấy của anh Điển. Du kích Tam Sa phải cố chặn không cho Mỹ vào làng, nếu vào cũng không được đóng lại, để trận núi Sàm tối mai – tối nay đúng hơn – khỏi bị vướng đường tiến đường lui. Tôi sẽ ở lại giúp Tam Sa chống càn, kiếm kinh nghiệm luôn.

Nhất rồi còn gì!