Mẫn và tôi - Chương 21 (phần 1)

 

Bay khỏi thôn Nhơn Thọ một quãng, chiếc C.47 lừ lừ vòng lại.

Đít nó xì một luồng khói đen dài. Tôi nín thở, nhớ ngay mấy lần cứu độc ở vùng ven núi. Chú Dé vẫy vẫy, ném cho tôi cái bao nhựa trong lắp túi lọc không khí, treo bán nhiều ở các chợ vùng giải phóng. Địch muốn diệt ngay Tam Sa bằng hơi độc ư? Khó tin…Cái đuôi khói đứt rời, nở dần, loãng màu khói xám, hiện những chấm li ti như cặn bùn, rồi như hạt cát, càng xuống thấp càng trắng ra, hứng nắng nhấp nháy. À, truyền đơn. Bốn đám mây truyền đơn trùm lên các thôn Tứ Nhơn. Gió hây hẩy thổi, từng tí một vẫn lùa gần hết bấy nhiêu tấn giấy ra đồng. Lâu nay tụi ngụy chỉ dùng L19., rải ban đêm “cho dân chúng dễ lượm”, sáng ra mặt ruộng phủ trắng những lá bèo chữ nhật lạ mắt, trẻ em ra mương ỉa khỏi phải bứt sẵn lá mua mang theo.

Thằng C.47 quần hình bầu dục, dòm. Rồi nó lấy đường nhựa làm cữ, bay thấp hơn, đùn ra bốn luồng khói khác. Hình như cố ý sao đó, ngọn gió nồm bỗng dứt hẳn. Bầy bướm chết cứ vậy lúc lắc rụng xuống mặt đường đen, biến nó thành tấm vải rằn dệt ô nhỏ. Gay hơn nữa là súng dưới đất bắt đầu nổ lốp bốp khi nó sà lần hai. Nó vẽ thêm một số 8 do dự trước khi quay về Chu Lai. Chúa đã theo Việt Cộng rồi ư?

Tôi đang cười thằng tâm lý chiến, chú Dé bỗng gọi nhỏ mé trên:

- Mỹ lên, anh Thiêm!

- Gì?

Dé đưa tay chỉ phía núi Sàm. Tôi rút súng ngắn, lách bụi đi tới lom khom. Dé trao cho tôi cái ống dòm:

- Mỹ chỗ trắng kia, bằng nhau nhiều con kiến.

Cứ tưởng tụi thám báo sục lên trái đồi chúng tôi đang núp!

Một cánh quân khá đông từ Chu Lai đang băng trảng cát keo đến ấp cô Tươi. Chừng sáu trăm lính bộ. Mười sáu xe M.113, có bốn chiếc phủ bạt đi cuối, chắc để chở đồ ăn uống và lượm tụi say nắng, chờ trực thăng đến bốc. Hành quân tuần tiễu sau lưng quân ngụy thôi, mà Mỹ làm như cố chọc thủng vòng vây Việt An, dùng hat u mở đường, đội hình tản rộng, tiền vệ trắc vệ đủ hết. Có thể chúng lên tập trận, hay sẽ càn thẳng lên Nhị Lộc. Ấp cô Tươi có một tiểu đội du kích bí mật lâu nay ngứa ngáy vì bị khoanh vùng “chưa được đánh”', vừa rồi đã nhận lệnh sẵn sàng nổi dậy phá ấp. Chị S22, bác S24 và ngót hai chục cán bộ bí mật khác mạn Bắc Chu Lai đang nắm quân chìm, nao nức đợi giờ nổ lớn. Phía Bình Sơn cũng vậy. Căn cứ Chu Lai nằm lọt giữa một bãi mìn điện chôn rất kín, hai đầu dây nằm trong tay ta đang nhích dần tới khối pin.

Từ Tam Sa đổ xuống biển, hàng vạn người đang sốt ruột chung chung, chờ. Mới có ba người biết giờ đánh: Bí thư Tam Sa, cậu xê trưởng đặc công mới hăm mốt tuổi đang nằm trong xóm chị S22, và tôi. Sáng mai, trưa mai, tối mai, tin tối mật sẽ loang ra từng nấc, mười một giờ bốn mươi đêm mai sẽ bấm điện.

Cũng như ngọn đòn trả thù sau lụt, kế hoạch của tôi đưa lên bị vỡ vì quá chật. Nó phình lên thành một chiến dịch nhỏ. Đánh máy bay trong Chu Lai, đánh bến cảng, đánh sư bộ sư hai Ngụy, cắt một loạt cầu trên đường Một, nhiều nữa. Riêng cái trận tốt lõi được giữ nguyên: C.125 sẽ diệt đại đội Mỹ đóng trên núi Sàm trong một cuộc đấu lê ban đêm.

Sau khi rà số quân địch quân ta như một tổ trọng tài khó tính, ban chỉ huy trung đoàn mới ghép cho xê mình ba mươi bảy chiến sĩ nữa để bù chỗ chênh lệch, nhưng không chịu thay những cậu đang sốt rét. “Bộ đội mình sức khỏe vậy đó, súng ống vậy đó, không thêm bớt gì hết, dám một diệt một với Mỹ thì oánh! “. Cả đại đội hoan hô rầm một góc rừng, lao ngay vào tập đánh đêm. Tiểu đội trưởng Thùy tung ra thuật đánh xẻng – cậu ta hết đạn, đã giết năm ngụy ở Việt An bằng cái xẻng đào hầm mài bén ngọt – gây được phong trào rất mạnh. Tháo mìn định hướng, chống ra-đa, né pháo sáng, lấy M.79 bắn lại địch ngay … tất cả phải luyện xong trong một tuần.

Anh Ba Tơ nhường tôi chỉ huy. Tôi thú thật là không đương nổi, chỉ xin phép theo giúp anh thôi. Xa anh em ba tháng, cả đi đường và ở Tam Sa, tôi đã tụt hậu kha khá rồi, phải cay đắng mà nhận vậy. Trên bằng lòng. Xong trận này tôi sẽ về H.68 dự tổng kết năm bảy ngày, rồi trở lại nắm xê mình.

Sau khi tiễn anh Năm Đông tới sông Rù Rì - anh đi thăm làng Cá suốt trưa đến tối, cậu Ri nảy ra sáng kiến dẫn anh xem địa đạo thật nhiều, nói chuyện với bà con đào hầm, tránh được loạt pháo chiều gần trăm trái – anh Điển đã kể thật với tôi:

- Nhiều nơi muốn rút cậu lắm. Quân báo, địch vận đòi căng nhứt, rồi tới ông tác huấn, ông Giải phóng xã, cả Hát sáu tám nữa. Ông Năm biểu đừng, cứ để cậu ở đơn vị lợi hơn, nhưng phải thúc cậu học nhiều và giao việc nặng. Ổng thấy cậu nhìn thằng Mỹ được chiều sâu mà thiếu chiều rộng, dân Mỹ chống chiến tranh rầm rầm, cậu lại cho lính Mỹ ít chịu ảnh hưởng, ví dụ vậy.

- Tôi chưa thấy nét nào…

- Tất cả chúng ta đều chưa hiểu rõ kẻ thù mới, đang mò mẫm tìm cách nào đánh Mỹ ít tốn xương máu nhứt, thắng gọn nhứt. Võ đoán là dại. Tuy vậy, những quy luật chung vẫn không thay đổi. Cậu cứ vẽ một cái bảng giống như bảng Men-đe-lê-ếp trong hóa học, điền vô những nét về Mỹ đã nắm được, để rồi coi, trong các ô trắng sẽ lần lần ghi thêm: chống lệnh, chạy trốn, binh biến, đầu hàng!

Anh Điển vẫn là ông thầy năm xưa, sẵn sàng viết thư dài tám trang trả lời câu hỏi của một cậu học trò đã rời trường nhiều năm. Anh nói kín đáo, cũng đủ cho tôi hiểu rằng anh muốn rút tôi, còn anh Năm khuyên nên để tôi chiến đấu và mạnh dạn đề bạt. Mấy tháng qua anh khen tôi rất ít, đòi hỏi nhiều, nhưng đằng sau những câu văn điện tín giao thêm việc, tôi đọc thấy một ý lặp đi lặp lại: “Mình tin cậu nên mới giao”. Anh thương tôi kiểu ông cha nghiêm, và tôi thích thứ tình cảm gân guốc ấy.

Sở chỉ huy của anh Điển không đặt ở làng Cá, hòn đảo này dễ bị vây kín. Anh cắm nó trong một thung lũng rậm cây, lút giữa rặng núi chia đôi hai tỉnh Nam Ngãi, cận đường liên lạc giữa hai vùng Bắc và Nam Chu Lai. Trước khi chia tay, anh lại búng vào tai Mẫn:

-Thoát nạn lính cùi chỏ, nhớ làm gà ăn mừng nghen. Nội bấy nhiêu súng ngắn, cô thích có một cây Pê băm tám thôi!

Mẫn không mắc cỡ như tôi tưởng, nói bướng:

-Súng nào bắn giặc nhiều, cháu thương!

…Một cây trọng liên trên núi Sàm bỗng xổ đạn thông thốc xuống phía Nhơn Phước, tiếp mươi trái cối 106,7. Cô Cang vẫn gài du kích bắn tỉa phía đó, nay đã ngừng, có lẽ địch nã theo con cầy con cáo nào thôi…Không phải. Các cỡ súng Mỹ rộ lên một lát, rồi hai chiếc H.34 đến quần trên đồn.

Anh em trinh sát dồn cả lên chỗ quan sát, chuyền tay nhau cái ống dòm. Xem Mỹ tắm dưới trực thăng phun nước mấy lần rồi mà vẫn tò mò. Tôi phải buộc các cậu tản bớt vào các mương xói, phòng một trái M.79 rải bất tử. Tôi đã thấy cảnh ấy nhiều lần dưới Chu Lai, ghi thêm được một thời cơ nện cối vào Mỹ và hạ trực thăng treo đứng, kiểu tắm có vẻ sang đấy, thật ra rất chán, bởi trận mưa giả bị gió cánh quạt thổi xuống rất mạnh, ban đầu xốc bụi mù mịt, về cuối lại tóe bùn lỏng, đứa nào tắm xong cũng vấy bùn tới đầu gối là ít. Cũng như cái nạn nhà lầu thiếu thang máy thôi: Mẹ Sáu tin rằng dân thành phố ở gác năm gác sáu là sướng nhất, ăn ngủ ỉa đái trên đầu người khác mà!

Chiếc trực thăng thứ hai hạ xuống thu quần áo đi giặt đã rời sân đồn. Đại đội Mỹ bên kia co hết vào chỗ mát, chỉ còn thấy những lô cốt loang lổ màu sẫm và những bao cát trên đen dưới xám sau mưa. Kẽm gai đọng nước nổi thành chuỗi đốm sáng li ti. Mấy cây sàm còn sót lại cũng sáng từng chùm lá. Một trái đồi to nằm ven đường Một, mé trên, được gọi nâng đỡ là núi. Những cây sàm mọc qua kẽ đá, thân vặn vẹo nhám nhúa, lá nhỏ và rất dày, bóng như nón mới quang dầu, đã bị xốc trụi hết. Trong mươi ngày, tụi Mỹ dựng xong trên núi Sàm một đồn khá to, bằng quân ngụy bắt dân làm kỳ cạch ba tháng. Chúng sẽ bị diệt trong vòng nửa giờ.

Trưa đứng bóng rồi. Tôi luồn dưới bụi mua định ngủ một giấc, chú Dé lại xuống gọi:

- Anh Thiêm, du kích…

- Đâu?

- Du kích chị Mẫn đi đánh, chưa xong qua đường xe sắt.

Tôi chồm dậy, bươn nhanh lên lùm gai bờm rậm sau lưng Dé, đón ống dòm.

Một múi gò bên trái che mất làng Cá. Chỉ thấy hai bóng người cắm lá rậm đang men các bụi cây đi xuống. Cặp tàu rà vẫn xoay như đèn kéo quân, gác trên ấp cô Tươi, vòng quần mở rộng gần tới Lộc Chánh. Chiếc thứ nhất vừa quay đuôi, hai bóng kia phóng ngay qua đường nhựa, chạy khom giữa các vồng khoai đắp rất to cao của vùng cát, lại thụp vào một cụm lá tránh chiếc thứ hai sà tới. Đằng sau họ vài chục thước, có hai người nữa. Rồi hai nữa. A, đội du kích Tam Sa chiếm Lộc Chánh! Tôi hiểu. Bọn biệt kích ở đấy đã rút đi dẫn Mỹ, trong buổi sáng bỏ trống quãng đường Một và cái ấp chiến lược đang rào lại nham nhở. Tin lên làng Cá, du kích ập xuống ngay. Chiều nay, cánh quân Mỹ sẽ thình lình bốc trúng than lửa. Vào đất Tam Sa phải tóe máu phòi ruột cho coi. Đánh giữa vùng cát phẳng, địch vây bốn mặt, thiếu hầm hố, chọn được buổi chiều là hay nhất.

Chộp ngay thời cơ như thế, dám tấn công vừa liều vừa khôn như thế, tôi biết chỉ có Mẫn nghĩ ra trước. Năm Ri chưa tới cỡ đó.

Tôi bò thằn lằn thật chậm đến một bụi sim đằng trước, thẳng hướng lỗ châu mai bên núi Sàm ngó qua. Chúng bắn có lúc chứ.

Thấy rõ làng Cá rồi. Từ ngõ nhà cũ chị Biền nay bỏ trống, du kích từng đôi chạy đến gần đường sắt, núp, vọt qua cái ta-luy đắp cao, núp, đi men bờ bụi tới sát đường ô tô, núp, xẹt ngang dải nhựa đen và các bãi khoai, núp, tuồn vào ấp Lộc Chánh. Hai người đứng nép chỗ góc vườn nhà chị Biền dưới cây mít bị pháo chặt ngọn, chỉ trỏ. Bóng cây giữa trưa đen đặc lại, khó nhận ra ai. Một người nhô ra nắng, cái báng cong trên súng lóe tia nắng. Mẫn đi à? Mẫn cũng đeo vòng ngụy trang rậm lá không xăn quần đến gối như mọi khi – giấu vết thương chưa lành – chạy theo một cặp gần cuối. Người thứ hai tập tễnh đi vào làng Cá. Anh Luân ở nhà.

Ngõ xóm đã vắng.

Các vườn cau trong làng Cá thưa hẳn sau những trận pháo từ trăm quả trở lên, đất đỏ pha vàng hiện lỗ chỗ. Mỗi ngôi nhà biến đi để lại trên nền cây xốp ấy một cái giếng sâu, thành giếng sém nâu và đáy đọng tro đen nếu là nhà cháy, thành xanh đáy vàng khi chủ nhà tự tay dỡ nó, lấy gỗ lát địa đạo và tre lá dựng cái lều nhỏ trong bụi rậm. Làng gần hết sạch mái nhà. Ống dòm của tôi soi chéo xuống hòn đảo dài, chỉ gặp mảng ngói đen điểm trắng của mái đình cong võng, nhô lên đấy như người làm chứng già đứng kể tội giặc. Đường hầm dưới mười thước sâu đã thông hẳn. Bà con đang hối hả lắp cửa chống hơi độc, moi hố chống thả thuốc nổ, khuân xuống những chum vò chứa nước, gạo, than, mắm, dầu, cả sữa hộp và chõng buộc sào tre làm cáng cho người bị thương. Những người đào đất ngày đêm và chi chút lo cho cuộc sống trong lòng đất ấy, khi địch tràn vào sẽ ở lại bên trên giữ kín các miệng hầm, níu kéo không cho giặc phá làng. Cán bộ và du kích Tam Sa đã có thêm nhiều cây số rễ ngầm để bám chắc vành đai. Rễ chính có, rễ phụ còn mọc thêm mới, sẽ nối liền vùng Tứ Nhơn, vùng gò, xuyên qua đường Một…

Tôi bò trở về lùm gai bờm, lật mũ tai bèo ra lau mồ hôi mặt đầm đìa. Mồ hôi vã nhiều khi tôi xem Mẫn vọt qua ta-luy đường sắt. Mẫn với tôi năn nỉ nhau đừng liều, cũng chẳng đi tới đâu. Mẫn sẽ đáp gọn lỏn rằng bí thư cần có mặt trong trận chống Mỹ đầu tiên của Tam Sa, rằng ném sáng kiến ra cho người khác làm thì khác nào mồm miệng đỡ chân tay, rằng “anh như em, anh còn xách súng chạy lên trước nữa chớ!”. Hòa cả làng. Ngủ thôi.

Ba giờ chiều, anh em lay tôi dậy. Cánh quân Mỹ ra khỏi ấp cô Tươi, lên Lộc Chánh. Đại đội biệt kích áo quần đen dẫn đầu. Rất tiếc, anh em đang khao khát bắn lính Mỹ kia.

Tới cách bờ đai ấp một cây số, tụi ngụy tách sang con đường đất bên cạnh, tuôn lên nằm dọc đường Một như mọi ngày, xem kiểu đi đủ biết chúng mù tịt về ta. Quân Mỹ tản rộng, theo sau lũ M.113 vào ấp. Sướng rồi.

Chiếc xe đầu sùng sục băng cát, xốc hai luồng bụi trắng như rẽ bọt hai bên xích, hệt tàu đít vuông vào bờ. Tôi chăm chú xem nó, một mình nó. Nó chồm chồm trèo qua các luống khoai, nghiến hai vệt đen trên bãi mè rộng. Tránh đường. Cách cổng vào ấp chừng trăm thước, nó dừng lại, dòm. Vào ấp do ngụy giữ, nếu húc bừa hàng rào thì bọn “da màu” sẽ cười Mỹ nhát, và có thể cãi bay nếu Mỹ dẫm mìn, tụi ac-vin(1) là chúa đểu. Hẳn nó nghĩ vậy hoặc thằng chỉ huy đằng sau nhắc vậy, nên nó leo lên mặt đường, xịt một hơi khói đen cạnh sườn, tỏ ý chẳng sợ, rồi cho cặp xích loang loáng ngoạm đất. Bầy xe ghép hình dẻ quạt, tiến theo. Lưng tôi lạnh dần. Cặp tàu rà xuống sát ngọn tre, nghiêng cánh xoay tròn. Mười bốn chiếc xe đầy lính tung bụi ùa tới, chĩa súng chơm chởm. Du kích không có súng chống tăng…Mìn? Mìn lớn đâu có đủ để chôn khắp các hướng. Anh Biền chuyên cưa bom đúc thủ pháo đã bị giết. Nếu có tôi trong cuộc, tôi sẽ…

 

(1) Tiếng Mỹ gọi quân nguỵ, theo chữ viết tắt ARVN “quân đội Việt Nam cộng hòa”.

 

Trái mìn nổ, không phì khói tròn mà phụt thẳng đứng, dựng cái lọng rất cao. Mìn lõm của Mỹ! Chiếc xe chồm như ngựa chứng, đổ nghiêng, bụi trùm kín nó. Chung quanh mấy chiếc đi gần bật lên những đốm lửa tung tóe. Đòn phủ đầu khá lắm. Lựu đạn ném sai nhiều quá đấy Mẫn ơi! Súng trên xe bắn dữ. Hình như du kích thụp xuống hào tránh đạn. Đừng tránh Ri ơi, xe nó xóc mạnh, lính đang hoảng hồn thụp đầu, chồm lên mà đánh! Ri, kìa thằng Ri, coi đạn quạt vào lưng chừng cây tre đó, trúng trật gì, xốc tới mau! Tôi gầm nhỏ trong họng, rướn mãi tới. Cậu Lập nắm vai tôi kéo lại: “coi chừng nó thấy”. Nó nào nhỉ…Mày bỏ lỡ phút này, chết đó Ri…A, hay lắm! một bựng lửa khá to bùng giữa một khoang xe, cả khối sắt bốc cháy tức khắc, như khói đen biếc của dầu nhờn. Cát bay mù trời trước cổng ấp. Màn khói bụi vẫn đầy những tia lửa lằng nhằng. Của địch cả. Tôi suýt reo khi thấy chớp lửa to màu da cam của thủ pháo. Anh em luồn trong đám mây đặc ấy, nện tiếp. Rất khá, đừng xài đạn, để dành lát nữa, chỉ trái nổ thôi nghen Mẫn…