Mẫn và tôi - Chương 19 (phần 3)

 

Còn nữa. Còn lúc xê mình đang đi đường rừng giữa căn cứ, bỗng nghe bộ phận dẫn đầu bắn lốp bốp, báo truyền gặp địch, rồi đạn to nhỏ từ phía trước ầm ầm đổ tới, rung cây chặt cành. Địch bao nhiêu quân, ở đâu, dàn cách sao, rình sẵn hay thình lình húc nhau? Anh em tản rộng, nép sau các gốc cây, lên đạn, trong khi anh Ba Tơ đứng im đấy, mặt lì ra, miệng đếm lẩm nhẩm. Không thể bàn hay giục trong mấy chục giây rất nguy hiểm ấy, anh sẽ quyết định một mình, ăn vua thua chịu. Anh quay lại hét: “Thiêm, nắm bê Một đánh vỗ mặt, trụ chắc nghe! Các bê theo tôi!”. Tôi lao lên đầu vẫn tự hỏi: “Sao anh dám liều?”. Anh dẫn hai trung đội luồn rừng khá xa, dàn cẩn thận thốc vào đúng cái chỗ có bộ đàm gào và súng cối phọt đạn tùm lum, diệt bộ phận chỉ huy và đánh tan cánh quân giặc. Sau đó anh phải mất nhiều công giảng giải, chúng tôi mới hiểu anh nghe súng nổ thế nào mà nhận ra địch có một tiểu đoàn đụng ta trong khi xuyên núi, đang duỗi dài như rắn và nằm bắn bậy ra hai bên. “Tiểu liên nó cắc cắc trước, rồi súng trường, chặp lâu mới có trung liên, tiếp đại liên với cối, phải chưa? Súng bắn như xay lúa mà đạn bay về phía mình có ít, phải chưa? Không nghe cối tám mốt nó giã rung núi à? Hồi ở Hạ Lào mình với Tây lội rừng tông nhau miết..”. Tôi sẽ xử trí được như anh không?

Vẫn chưa hết. Những so sánh đáng sợ cứ níu nhau tuôn về.

Năm kia, sau một trận tập kích ban ngày, anh Ba cự té tát vào mặt tôi rằng tôi cho trung đội tiến quá chậm, tới chỗ chạy thẳng lưng được vẫn còn bò như rùa, để địch sẩy cả mớ.Tôi cãi không tiếc lời. Hai trung liên địch trên gò quạt xuống nóng rát cả lưng anh em, cho chạy lên để nướng lính à, ông nói ẩu vừa vừa chớ. Không ai chịu ai. Anh Ba kéo cả cuộc họp cán bộ ra chỗ đánh - cách hơn ba cây số- đặt hai trung liên ngay trên hai đống vỏ đạn của địch nhả ra, mời từng đồng chí nằm ngắm thử: đường tiến cũ của chúng tôi khá kín nhờ một múi gò che đỡ, đạn phải đi cao quá đầu. Anh còn thách tôi bắn trúng anh chạy thẳng lưng, hoặc tìm trên thân cây được một dấu đạn xuống dưới hai mét. Tôi thử đủ cách rồi chịu thua, xin nhận kỷ luật. Anh lại gắt lần nữa: “Cái thằng, mỗi lần đạp cứt một lần chặt chân đi à?”. Trong chiến đấu, những chuyện như vậy là cơm bữa, qua nửa tháng mọi người đã quên ráo, nhưng riêng tôi nhớ mãi để không bao giờ phạm lại.

“Anh em tin mày...”. Có lẽ anh em tin tôi ở vai trò đại đội phó đấy thôi. Cậu Sanh chính trị viên phó mất đi chưa có người thay, tôi gánh một phần việc của cậu nữa. Đúng là tôi lo việc quản trị được khá, câu lạc bộ quay lên rôm rả, chịu khó dạy văn hoá, lên lớp các bài lý thuyết quân sự cũng xuôi chảy, từng lúc anh Ba Tơ nắm đơn vị không mắc lỗi gì nặng. Anh em tin ở giáo Thiêm, bầu Thiêm, tay Thiêm “lão binh tri súng” và “lão nông tri rẫy”, được thôi. Nhưng tất cả bấy nhiêu hoa lá làm sao thay được cái gốc lõi là tài cầm quân đánh giặc?

Tôi nói thẳng mối lo ấy với anh Ba Tơ. Ngoài sân đình, tiếng đồng ca chợt im, hai chiếc trực thăng rọi đèn pha dọc đường. Một đang kéo qua, cái chổi sáng quét chéo xuống rung rung nhảy nhảy. Anh Ba Tơ châm điếu xì-gà mới, buông gọn:

- Mày coi ai khá, mách miệng đi, các ổng đưa về xê mình cho lẹ.

- Tôi có nắm cán bộ đâu mà biết!

- Vậy cấp trên nắm, thấy mày làm được, lo cái gì. Tao với Năm Cẩn sợ mày kiêu, không nói ra, vậy chớ bàn lẻ với nhau mày lên xê trưởng là đáng. Hồi đầu năm anh Đạt hỏi ý riêng tụi tao nên lấy ai thay thằng Long bị đạn qua phổi, tao bàn rút mày về phụ trách cái hai năm lăm, sau thằng Long ra viện còn đánh được, các ổng thôi. Mày rồi cứng hơn tao... Thiệt chớ. Tao quen đánh đường rừng kiểu chín năm, giờ chơi với ngụy còn được, sắp tới đánh Mỹ coi bộ tao lạc hậu nhiều bề Thiêm à. Thằng Mỹ lắm cái mới, anh em mình phải động não gắt mới ăn được nó, mà tao ít chữ nghĩa quá, đầu óc đặc sệt học không vô, chưa biết tính sao đây...

Anh không còn khuyên tôi nữa, mà đang nhắc lại một nỗi khổ kéo dài của đời anh, vào bộ đội mới thoát mù chữ. Suốt những năm tôi được học ở nhà trường kháng chiến, anh lặn lội đánh giặc ở Tây Nguyên, Hạ Lào, che chở cho lớp đàn em lớn lên trong vùng tự do. Tôi biết chỉ nên nghe, không nên bàn góp bằng những câu anh có thể nói hay hơn tôi.

- Cách nửa tháng tao đưa anh em đi săn tàu bay thử một buổi. Chỗ đèo Eo Gió, phản lực đi đánh miền núi cứ xẹt qua xẹt lại như nhem thèm. Anh em mới học lý thuyết bắn phản lực, ham lắm, tao cũng muốn tập chỉ huy. Một đại liên, hai trung liên, thêm một tổ yểm hộ ở đồi khác... Mày biết không, đón đầu bốn lần bắn trật cả bốn. Tao đổ mồ hôi hột đó Thiêm. Xạ thủ Ba Tơ mà đốt đạn lấy tiếng nổ, nhục quá. Tao lắp riêng một băng Ba(3), hai viên thường một viên khói, đơm súng đợi. Bỏ tụi đi cao, lựa miết mới gặp mấy thằng Thần Sấm phóng tới, tao rẹt thằng gần nhứt. Cha mẹ ơi, đường đạn vuốt mây vuốt gió chớ đâu vuốt được đuôi nó, lọt đằng sau tới mười phân là ít! Còn may tao phục đường về, tụi nó hết xăng hết bom không quần dai, chỉ xịt đùng ít trái rốc-két... Đó, tao lên lớp cho anh em cứ nhắc miết: học yếu lĩnh mới phải rán bỏ tật cũ, bây giờ chính tao không sửa được cố tật bắn tàu bay cánh quạt, lâu năm quá rồi. Còn nhiều gay cấn nữa Thiêm à. Mày hơn tao ở cái hăng, cái mới, cái khoa học. Anh em giữ được mày ở lại xê mình, hỉ hả lắm. Tiểu đoàn trung đoàn thì quý mày đánh gan mà chăm học chăm làm. Mỗi lần tao tự do du kích hay là nổi khùng cãi bậy, các ổng lại giễu tao ngoài bốn mươi mà không chín chắn bằng đứa thanh niên...

 

(3) Ký hiệu tắt cuả trung liên Mỹ Braoninh (BAR)

 

- Chà, thủ trưởng lên cơn khiêm tốn quá ta!

Tôi đùa để cắt ngang cái đà tự vạch lỗi của anh Ba. Anh “hự” một tiếng bực dọc, rồi cười:

- Thì cũng nói cho thấu lý vậy, tao ở tiểu đoàn còn trị được mày chán chê... Trước tiên là tội phá sức. Mày đen thui, ốm nhom, coi thiệt ớn.

Anh đưa tôi cái gương con, càu nhàu:

- Về địa phương vậy đó, làm thì trăm việc tới tay, ăn thì đồng chí chịu khó thắt lưng buộc bụng. Đánh Mỹ bây giờ phải bôn tập từ xa, cõng năm chục ký chạy năm chục cây, mày theo sao nổi? Các cha mượn được người là vắt cho kiệt, hết xài được mới trả cái vỏ chanh. Tay nào bí thơ ở đây? Tư Luân chớ ai nữa! Để lát tao hỏi nó, quen cũ mà tao chẳng nể đâu.

Tôi nghĩ đến cảnh hai ông gia trưởng đụng nhau, cười xòa.

- Bí thơ là cô Hai Mẫn, thương lính lắm anh ơi!

- Úy, con nhỏ chút xíu mà... Chi ủy có nếp có tẻ là vừa, nâng đỡ kiểu đó sụn lưng con gái à! Mà thiệt, dạo chống lụt nó chú chú cháu cháu ngọt như chè hai, hồi nãy gặp tao nó hỏi mấy tiếng ấm ớ rồi lủi mất. Nó bắt chước tay Liệp làm phách cho oai hay sao chớ!

Chết không, anh cán bộ huyện đội Tam Kỳ năm xưa trở lại, lạ nước lạ cái quá đỗi. Tôi phân trần giùm Mẫn rất vội, sợ bất chợt cô em về bị anh nạt cho mất mặt, dần dà lái được câu chuyện sang hướng khác, đùa rằng ở đây các cô chưa chồng đạt tiêu chuẩn bốn tê - đủ sức tự túc và tiếp tế - còn đông lắm, phải cho các cậu “bộ đội phòng không” trong xê mình ở lại bám vành đai ít lâu, ai chứ cô bí thư chắc mừng hơn cả. Ấy cũng là mở đường để nói thật với anh câu chuyện của hai chúng tôi.

Vừa tới đó thì Mẫn bước lên thềm. Chú Dé và Út Hòa đi sau, cười rúc rích.

Trông Mẫn lạ hẳn đi. Mượn đâu được cái áo pô-pơ-lin trắng vẫn rộng hơn người, có lẽ sợ bẩn áo nên Mẫn cầm các-bin và nịt đạn trên tay. Tóc chải dầu dừa, tết hai bím thả trên ngực căng tròn, chắc hôm nay Mẫn không bó ngực nữa. Mẫn tươi ra nhiều, xinh, ừ mà xinh thật, vừa có cái vẻ thẹn thò muốn làm dạn của cô gái đôi mươi, vừa nghiêm nghiêm như bí thư bước vào cuộc họp, khác lắm.

Mẫn khép nép “chào chú”, treo súng và nịt lên đầu con sẻ, vẫy ngay Út Hòa ra sân thì thào cái gì, rồi cả hai băng vườn qua nhà mẹ Sáu. Càng lạ nữa. Tôi đánh trống lảng, trêu chú Dé bằng mấy câu tiếng Co sai nát. Dé đã lên tiểu đội phó trinh sát nhưng vẫn trẻ con lắm, Út Hòa dễ thân là phải.

Chừng mười phút sau, Mẫn lễ mễ bê một nồi cháo vào, Hòa bưng cái mâm đầy thịt gà xé phay và gỏi mít non. À, à, một ai đó đi xem kịch đã báo cho Mẫn rằng anh Thiêm dẫn chú Ba Tơ tới nhà cô, đang đợi ở đấy. Mẫn nhờ mẹ Sáu về trước nấu giúp cháo gà, Mẫn xong phần việc của mình sẽ về mời chúng tôi. Còn cái dáng bẽn lẽn kia... thôi chết, hèn gì, Mẫn tưởng chú Ba Tơ thay mặt đơn vị đến hỏi Mẫn cho tôi! Có thể Mẫn hiểu lầm từ ban chiều nên giữ thế thủ và lẩn mặt, càng hiểu lầm vì chúng tôi đàng hoàng vào chiếm chỗ này như Mẫn đã làm dâu bộ đội trăm phần trăm!

Tôi gặp ngay đôi mắt Mẫn: thương, trách, nũng nịu một chút, và “em lì cho coi”. Tôi lắc đầu, cười, nói luôn:

- Anh Ba về bàn phối hợp Mẫn à. Ảnh nhất định đòi tới nhà xã đội cho đỡ lộ bem, té ra trúng chầu cháo gà, ma cũ không thiêng bằng ma mới đó nghen!

Anh Ba Tơ đã hết bực, cốc nhẹ vào trán Mẫn:

- Chồng con gì chưa, Mẫn? Tao mới nghe mày lãnh cái bí thơ, đang lo giùm đây, chắc con Hòa lấy chồng trước chị nó quá!

- Chú!

Chúng tôi không đợi mời, ăn như rồng cuốn. Mẫn rạng mặt như tất cả các bà chủ nhà của ít lòng nhiều, luôn tay múc cháo, nhắc chú Dé “ăn nữa đi em” bằng cái giọng rất chị Hai. Còn Út Hòa cứ trêu Dé và cười rũ: “Anh ăn chút chút, bằng nhau con gái!”.

Mãi đến hôm qua tôi mới thật vỡ lẽ vì sao Mẫn sợ bị ép uổng. Tôi đi với anh Tư Luân coi khúc địa đạo đầu tiên xoi thông, hai đầu mối cưỡi lên nhau nhưng sửa dễ. Sau khi leo lên, tôi kể luôn tin sốt dẻo của chúng tôi. Anh đứng ngây ra, mắt chói nắng hấp háy. Mảng muội đèn dưới mũi cũng cựa quậy. Anh há mồm một lát mới bật ra tiếng cười khớ khớ, phát lưng tôi một cái:

- Thì mình gả nó cho lão lâu nay mà. Tưởng lão chê, hóa ra mắt tai lão còn tốt. Nghe nói các nước người ta họp con gái lại đấu xảo, thiệt không chẳng biết, có vậy mình dám gửi Hai Mẫn đi liền... Có điều, lão non tay ấn rồi. Thầy pháp sợ ma rồi. Nghề con gái, ưng muốn chết nó cũng phải làm điệu, ừ lập tức sợ người ta coi rẻ. Con Ba nhà mình đó, hẹn hò trót năm với thằng Liễn ở bộ đội tỉnh, tới khi cưới nó cũng than thở là anh Liễn bôn quá, là cha mẹ thương anh Liễn buộc nó lấy chồng, chớ nó tính chờ thống nhứt kia. Mình bày lão cứ cưới phứt, quyền ở lão chứ quyền gì nó, thương nhau cho đủ biên lai tồn căn đi. Lão để lâu sẽ sanh ra nay giận, mai hờn, mốt đòi đổi gác, rối óc mệt người lắm, bà con lại chê là mèo mả gặp gà đồng. Mình kiến nghị với lão một điều thôi: cưới xong lão cho nó ở đây gánh vác phong trào ít năm nữa. Lấy bán than thì phải lên ngàn chớ sao, ác cái chỗ mình kẹt cái khâu cán bộ quá, lão thấy rồi đấy... Nó sợ có con à? Tào lao. Coi bà Bỉnh Tam Trân đó, đẻ cứ đẻ, công tác vẫn cứ công tác. Chị Út Tịch anh hùng cỡ lớn đó. Cả làng Cá không nuôi giùm nó được vài đứa con sao? Cưới ào đi. Ngày xưa người ta đạp cửa vô buồng rồi cũng ăn đời ở kiếp với nhau, con đàn cháu đống. Hễ lão nhịn, con hùm đó dám bắt lão đợi đủ chục năm, nó dựng vợ gả chồng cho em út xong hết mới cho lão cưới à!... Dễ thôi, lão yếu bóng vía cứ để mình đả cho nó thông. Mèo già thì chó cũng già, mi cầm duyên nó mi đà được chi! Lão nhắm tháng nào cưới được?

Tôi ngẩn người khi nghe những lời chí tình mà rất chói tai ấy. Chao, những lề thói cũ còn mạnh đến vậy ư? Tôi quên mất chùm dây leo của phong tục ngày xưa vây quanh người con gái, đã lỏng đi một chút phần nhưng ta bận đánh giặc liên miên chưa kịp dọn dứt gốc, ấy là chưa tính tới các thứ luật hôn nhân và gia đình của địch vun đắp thêm vào. Cái lý nó móc xích khá rõ. Mẫn thú nhận yêu tôi, coi như tôi đã bỏ miếng trầu vào ngõ nhà Mẫn rồi. Một miếng trầu cũng dâu nhà người, tôi xỏ mũi dắt đi càng sớm càng hay, cưới vợ thì cưới liền tay mà. Tôi sẽ bắt Mẫn về nhà tôi, thuyền theo lái gái theo chồng, lơ mơ thì vợ tôi tôi trị, không ai được xía miệng vô. Bỏ mẹ, sao cái quyền nắm dây cương của tôi lại to quá vậy? Ngay anh Luân quý Mẫn hơn ai hết,hễ bàn tới đạo vợ chồng cũng nhận ngay tôi là ông chủ, chỉ mong tôi rộng lượng cho Mẫn ở lại Tam Sa làm bí thư thêm ít lâu! Và cả Mẫn nữa, ngày mới quen còn khá ngang tàng, từ khi yêu tôi bỗng đâm sợ sệt, bởi chưa biết tôi sẽ thống trị Mẫn ra sao... Ở bộ đội, ở những nơi lứa trẻ tuổi sống chung với nhau đông đúc, chúng tôi được học về luyến ái quan mới, về bình đẳng giữa gái và trai. Còn trên mảnh đất hết lụt đến lửa này, từng ngày phải chọi với địch để sống còn, ai lại đi gợi những chuyện ấy cho thêm rắc rối sự đời!

Thế nhưng cuộc sống tự nó cũng thải bớt những cái lỗi thời. Từ ngày về Tam Sa, tôi chưa hề nghe nói tới một chỉ thị nào về cán bộ nữ, rốt cuộc chi ủy mới năm ngoái vẫn có hai cô rất trẻ, được bầu không phải vì cần “có nếp có tẻ” mà vì họ thực sự có bản lĩnh. Từ coi trọng cán bộ nữ về mặt chính trị tiến tới coi trọng người phụ nữ nói chung trong nếp sống nếp nghĩ hằng ngày, khoảng cách hình như không xa lắm. Có lẽ vì thế mà khi tôi khuyên anh Luân đừng vội đả thông Mẫn, anh ngẫm nghĩ rồi cười:

- Cũng phải. Con nhỏ không vừa đâu, ép nó, nó lý cho mình cứng họng liền. Ngựa hay thường có chứng, lão ráng trị cho khéo mà dùng, đừng bỏ uổng. Hồi nào bí tụi mình xúm vô giúp lão.

Nhớ câu chuyện hồi ấy, tôi ngắm Mẫn và buồn cười: ban nãy cô em định sa tiền hay đá hậu đấy? Bây giờ êm rồi. Mẫn ngồi trên góc chõng tre, trao từng bát cháo cho chúng tôi, mủm mỉm nghe chuyện dây kẽm gai căng giữa các ngọn tre chống trực thăng ở Tiên Phước và diều giấy cản đường phản lực ở Điện Bàn, thỉnh thoảng đôi mắt đen lại trùm lên tôi một vầng sáng biết ơn. Được đánh giặc, được yêu, Mẫn chỉ cần bấy nhiêu để vui trọn một đời không hết vui. Mỗi lần chúng tôi nhìn nhau qua khói cháo gà, lại thêm một giọt nữa gieo vào bình vui chung của hai đứa để dành. Rượu quý càng để lâu càng nồng men thôi.

- Cái thứ áo giáp đó Thiêm à, tao bắn thử rồi. Đạn Côn xa mười thước không lủng, còn A-ca, Xê-ca-xê đùi toác hết. Thứ đạn ít thuốc mà xuyên mạnh khiếp. Mẫn thử chưa?

- Cháu đã thấy đâu mà bắn,anh Thiêm?

Tôi lắc. Anh Ba Tơ cau mày:

- Gay đó. Mày bám địch riết rồi quên ta mất. Út Hòa coi đừng đi khoe nghen, địch nó biết chủ lực. Đóng cửa lại.

Chú Dé vác súng quấn kín trong tấm choàng nhựa, ai hỏi chú đáp tỉnh khô: “súng hư, mang đi sửa”. Chú tháo bọc, lấy ra một cây súng trường mới tinh hảo, hình vóc hơi giống cây mút-cơ-tông Pháp hồi xưa. Tim tôi đập gấp khi tôi đưa tay đỡ nó như bồng con, và thấy ngay nó đẹp, rất gọn, nặng vừa phải, cái lưỡi lê xếp mới nhìn đã ưng. Nghe khen hoài các kiểu súng của bộ đội miền Bắc, nay mới được cầm tay, tôi muốn hôn nó một cái. Giá trị ra sao chưa biết, vượt bao nhiêu đường đất vào được tới đây là quý lắm rồi. Mẫn đưa tay vuốt nòng súng, chớp chớp mắt.

Tiếp liền đó thói quen nghề nghiệp trỗi dậy. Tôi khám cây CKC với tất cả cái khó tính của người lính đã bắn qua mấy chục kiểu súng góp nhặt, từ Anh-đô cũ kỹ tới AR.15 của Mỹ mới ra lò, chỉ thua anh Ba tơ có thứ súng Nga hoàng dài thòng và trường Nhật cỡ đạn nhỏ xíu, có vỏ sắt bao kín khóa nòng. Biết ơn miền Bắc cho súng là một việc, đánh giá cây súng tốt hay xấu để dùng phải cách là việc khác. Anh Ba Tơ chỉ cho xem từng chi tiết nhỏ một, chúng tôi xúm hỏi mãi, thử mãi bắt mê, mỗi lúc một thêm hớn hở; cứ như tôi đến tận xưởng đặt kiểu nhờ đúc giùm, và anh em thợ đã thêm vào đấy bao nhiêu cái hay cái mới mà tôi chưa từng gặp. Rốt cuộc, chính anh Ba phải giằng súng cất đi, hẹn hôm sau cho chúng tôi bắn thử, và thì thào bảo rằng xê mình còn nhiều thứ ngon nữa, cả súng chống tăng B.40 bắn chảy thép như đèn sáp.

Mẫn tròn mắt tròn môi:

- Cha mẹ ơi, xã cháu được một cây như chú nói đó, cháu lãnh giữ nó lập tức, coi thử xe sắt còn húc vô nữa hết!

- Lần lần rồi có chớ. Mỹ vô một ngàn súng mình cũng phải thêm đôi cây mới mới... Thôi đi ngủ!

Chỉ trong vài tiếng mà tôi mấy lần bị anh “giật gân sư” này làm cho nổi sốt. Hiểu thêm chút ít về Mỹ, lại chậm chân hơn xê mình một quãng xa rồi, đuổi sao cho kịp đây!

Đến sáng hôm sau, anh Ba Tơ mới ngạc nhiên. Quì trên mỏm đồi gần gò xoài, nơi Mẫn đưa tôi đến nhìn xuống đường nhựa dạo trước, anh xoay ống dòm một vòng xem những quân Mỹ đóng chi chít suốt từ An Hòa đến sông Trà Bồng, từ ven biển đến đường Một, với những chuỗi tàu lớn nhỏ đậu như lá bàng, lá tre sau lưng. Anh buột miệng kêu: “Gớm hè”.

Anh chưa thấy một căn cứ nào to và dày đặc như thế.