Mẫn và tôi - Chương 19 (phần 1)

 

Đại hội chống Mỹ của chi bộ Tam Sa họp hai ngày, mỗi ngày đêm làm việc ba buổi, mười một tiếng, giữa một làng Cá im lìm, người biến đâu hết.

Làng Cá chống líp lại mà chưa từng phải chống hủy diệt lớn. Bà con chưa làm chòi đến lần thứ mười như các nơi đã nhiều năm giữ chính quyền. Ai cũng biết sẽ đến lúc đất này bị bom na-pan dựng rừng cây lửa, xe ủi đất nạo trắng nhà vườn, đồn to đồn nhỏ của Mỹ xổ đạn xuống mỗi dấu hiệu của sự sống, có cả mây hơi độc và pháo lân tinh. Dân làng Cá hay lên non xuống biển, đã thấy những cảnh ấy và nghĩ: “sắp tới lượt mình đây”.

Cái ác liệt đang đến.

Nó không đổ ụp một lần như trận càn nước lũ, ầm ầm năm bảy ngày lại rút, mà leo từng bước, tăng từng ngày, khá rõ.

Buổi sáng nào đó, một trăm quả pháo nổ túi bụi. Mọi người nói: “À, quân nó lên”. Quân không lên nhưng hôm sau pháo lại bắn một trăm và hơn nữa, mức pháo đổ đồng của mỗi ngày đã lên ngang cái độ pháo càn của thời đánh ngụy, còn lên tiếp. Rồi một chiều hai chiếc AD.6 ném bom dọc sông Rù Rì. Bà con chép miệng: “đã dặn đám đốt than, đụng tàu rà quần đừng có chạy mà!”. Không phải địch nghi hay ta lộ gì cả, từ chiều ấy trở đi, máy bay ném mãi những bom nổ ngay và nổ chậm trên các đường mòn dẫn về Chu Lai. Xe tăng Mỹ bắt đầu đi tuần trên đường Một, lảy đạn 40 ly vào các sườn đồi. Đại đội biệt kích Hai của quận thọc vào Nhơn Thọ, bị đẩy xuống Lộc Thứ, không rút đi như trước mà nằm lì đấy. Thằng Chinh con lên tỉnh học cái gì đó một tuần, trở về Lộc Chánh coi trợn trạo hẳn ra, bắt đánh luôn tám người trong đình, hầm hè: “đất này cắt cho Mỹ rồi, ba thằng du kích nhắm chống nổi một sư đoàn Mỹ không mà bây dám theo?”. Tất cả đều găng hơn trước.

Những ai tinh mắt đều thấy Chinh con có cái gì rối loạn ngay trong khi hắn lồng lộn như chó thiến rắc mảnh chai. Hắn chồm chồm đấy rồi run đấy, cười dài một lát lại khóc. Hắn uống say là chửi cộng sản, chửi cha hắn, chửi bọn tướng Sài Gòn, chửi Huê Kỳ, chẳng sót ai. Mỗi người đoán một phách: cha con hắn có máu điên,hay hắn nghiện thuốc phiện trắng, hay hắn rầu chuyện nhà, hay lương tâm hắn cắn rứt, hay bà con bị giết về “đạp hồn”? Có thể mỗi thứ góp một chút?

Ông thầy Mười xuống ăn giỗ dưới Lộc Chánh, cà rà đổ rượu cho hắn say mềm, nghe hắn kể tâm sự. Hắn biết hắn khó sống dai. “Quốc gia” sắp thua được Mỹ vô cứu, so với việt cộng thì bên tám lượng bên nửa cân, chưa dễ gì ai ăn ai, nhưng cái đám tốt đen như hắn cầm bằng bị thí. Mỹ vô đặc nghịt mà không chịu cụ cựa, cứ đẩy lưng bọn chúng đi đánh cộng sản tới tới. Dân vây kiện ca-nông Mỹ, hắn giơ mặt hứng nước miếng. Bỏ việc ư? bọn quận dọa “trước thôi sau bắt”, mà không vô tù thì cũng đi lính làm thằng binh nhì, cũng chết. Cha hắn trúng đạn vô ót, nằm dài ở Tam Kỳ nhai trầu và ăn báo hại, mỗi ngày không đủ một lít rượu thì nhè hắn mà rủa, hắn sợ rủa miết cũng ứng, phải xoay tiền gửi đều. Hắn chạy chọt kiếm một chỗ làm đỡ nguy hiểm, nhưng đút lót chưa đủ, “thành tích diệt Cộng” còn ít. Hắn đang lập công và vét tiền. Có điều tụi thằng Luân con Mẫn đời nào chịu để hắn kịp thoát. Đám tay chân của hắn khiếp dần, rã dần, tìm đường né chỗ trâu bò húc nhau... Chắc là hắn nói thật. Nhưng thằng ác ôn chán nghề vẫn cứ làm ác ôn, giết người, đốt nhà, dẫn quân đi càn.những đứa như hắn vẫn góp sức làm nên cái ác liệt đang lan nhanh trên vùng vành đai.

Trước mặt làng Cá, bọn giặc nổi ngày càng đỏ như vông đông như tiết. Trong làng Cá những tên giặc chìm cũng bắt đầu ngo ngoe.

Ban đầu người ta chỉ nghe tiếng than thở ngắn của số người lẽo đẽo theo sau phong trào, cách một quãng. Chỗ quen biết cả thôi. Ấy là chị Huyền Nhung, xanh rớt và lắm ghẻ ruồi, dạo xưa theo gánh hát Tân Duyên, chưa kịp lên sân khấu đã chửa hoang, phá thai vụng, ốm nặng, nay buôn vặt, õng ẹo với anh chồng hiền đến nỗi khắp vùng đều cười “chị nhõng nhẽo”. Ấy là ông Năm Sô, được gọi là Năm So vì quá đỗi so đo hơn thiệt, hai chục năm biết cách mạng chỉ rút ra được một kinh nghiệm là phải luôn miệng kêu nghèo khổ ốm đau, làm vậy sẽ được chia ruộng nhiều, giảm đóng góp, miễn dân công, lợi lắm. Ấy là bà Nẫm xóm Đuồi, cả làng quên tên thật mà chỉ biết bà Kênh cúa, bởi suốt ngày bà mếu máo “kinh quá đi”, trông thấy con gián đằng xa cũng nhất định kêu nheo nhéo mới ưng. Ấy là cái nhúm người lạc hậu mà làng nào cũng có hoặc ít hoặc nhiều, khi tăng khi giảm, và ở nơi phong trào mạnh thì cái mức lạc hậu cũng xấp xỉ mức trung bình ở nơi kém.

Địch chọn luồng gió trái ấy để thả hơi độc. Vài đứa xấu bắt đầu ghé miệng vào những lỗ tai xao xuyến. Đường đi của tin đồn bao giờ cũng vòng xuôi lộn ngược, khúc ẩn khúc hiện, càng phăng mối gần gốc càng khó tìm dấu.

- Đêm kia, đài mình chửi Mỹ nát mặt. Nó tính thả chất nguyên tử từ đường cái đen qua tới xứ Lào, đá cũng chảy nước hết, ác vậy để chi không chửi!

- Mình lên Tam Lý mua trâu, gặp ông cán bộ nói trongmách-tin nghe bắt mê. Sao hè...Mười bốn triệu dân đánh với hai trăm triệu, súng một cây chống súng trăm cây, dầu cho chết ráo còn một triệu cũng đánh, một người cũng đánh. Chu cha, thiệt là lập trường tới chữ.

- Cái số bà con mất tinh thần chạy về vùng địch đó, bây giờ Mỹ nó mua chuộc riết lắm. Phát bạc đô-la tiêu lu bù nè, đúc nhà xi-măng cho ở nè, ăn diện vung vinh lắm. Ghét nhứt là tới hồi độc lập họ lại sướng hơn mình...mà chắc gì mình còn sống tới ngày đó mà hưởng, hả thím?

- Mấy anh bộ đội nhắc phải cảnh giác nghen. Mỹ có máy dò người dưới hầm,có máy ép hơi độc xuống địa đạo như bão. Xã gì trong kia đào bảy tám cây số đê hai(1) chớ ít đâu, xuống núp kỹ, bị nó giết chẳng sót một mạng, lấp miệng hầm chôn luôn.

 

(1) Đ2: tiếng lóng gọi địa đạo

 

Tiếp đấy, tùy theo nét mặt và lời lẽ của người nghe, chúng bồi thêm một câu chuyện “nói riêng thôi nghe” hoặc lảng qua việc mùa màng, hoặc nở một nụ cười cố làm ra đần độn: “Ờ, ờ vậy hả, tôi dốt đui có biết gì đâu cứ tưởng...”

Thế rồi liên tiếp xảy ra những vụ đáng ngại. Chị Ba Phi cắp rổ đi chợ, bị thằng Chinh con chỉ mặt: “Mới được giấy khen xuất sắc, được bầu vô chấp hành Phụ nữ giải phóng, xuống đây không sợ tù à?”. Hắn nói đúng y nhưng không bắt chị: “Để rộng cá trong lu cho mập, làm giỗ luôn thể”. Đội du kích xã hay tập trên gò Trúc buổi chiều, một trận pháo chụp khoảng hai trăm trái thình lình đổ xuống đấy từ ba đến bốn giờ, may gặp hôm anh em nghỉ. Trẻ em chăn trâu tìm thấy trên gò Mù U những dấu giày răng chó và dép cao su còn ướt. Nguồn tin của ta trên quận Lý Tín, tức huyện Nam Tam Kỳ, cho biết ở Tam Sa có hai điệp, một cũ gài lại và một mới lãnh việc, chưa dò ra tên. Ban an ninh xã đang cố lần dây moi củ, nghi mấy đứa mà chưa đủ chứng cớ xin trên bắt. Anh Tư Luân thử truy theo một tin nhảm tới cùng, “họ nói là ai nói?”, tóm một tay liên gia trưởng cũ đưa ra cảnh cáo trước dân, tay này không có gì đáng ngờ là điệp.

Bấy nhiêu cái khó mới đều có thực, đều làm căng óc mệt người. Song luồng gió chính vẫn mạnh. Cái đà xốc tới của đợt vật lộn giải phóng Tứ Nhơn còn đang cuốn người. Xong vụ gặt thiếu bồ thừa lúa, cả làng mừng hể hả. Thanh niên vừa dựng bia căm thù ghi tên những người chết vì tay địch: tấm bảng bằng hai chiếc chiếu dày đặc những tên đặt dưới gốc đa, đánh thức nỗi đau khủng khiếp mới cách nửa năm. Tất cả những cồn cào khi ngó xuống vầng sáng lạnh và chờn vờn của căn cứ Chu Lai, những cơn uất khi ngồi dưới hầm nghe pháo giã rung đất, và khó chịu nhất là cái thấp thỏm bứt rứt chờ địch càn lớn, bà con đem trút hết vào những lát cuốc đào đường hầm, xây dựng làng hầm. Càng mỏi tay càng thấy nhẹ người.

- Rên rỉ ỉ ôi vậy, Mỹ có về nước không hả?

- Ối chào, ai chạy đâu kệ họ, tôi chạy xuống sâu mười thước đất, hết Mỹ tôi lên.

- Cái anh ăn no ngồi gác miệng hầm, bom đạn chưa thấy đâu mà cái chết đói coi như cầm chắc.

- Đưa đây rờ thử đã lưng tim lưng mật hay còn đầy?

Du kích đi đóng cọc căng dây. Bà con mỗi xóm chia thành nhiều tổ, mỗi tổ chia ba kíp thay nhau đào cả ngày đêm, xuống một miệng giếng và sẽ xoi ngang hai chục thước đường hầm. Càng đào sâu khó khăn càng lớp lớp. Lát mai xắn trúng mạch nước to bằng ống tre, ộc, ào ào, chỉ kịp lượm đồ leo vọt lên thang, đi mở giếng khác. Đụng tảng đá to, đào vòng mãi bên trái không thấy hết, rẽ qua phải một chút xíu lại gặp đất thịt. Mở hẹp thì đào chậm, mở rộng lại thiếu người kéo đất lên và gánh đi đổ. Ấy là chưa đến lúc xoi ngang với tất cả những trắc tréo không lường hết. Mấy ngôi nhà tre gỗ to còn lại sau lụt đã được dỡ đi phòng giặc đốt, chủ nhà cho mượn đòn tay tre làm cần vọt, đóng thang. Không đủ. Tre sót lại ngoài bụi sau các đợt làm ấp chiến lược nay đốn hết, không đủ. Các thứ ván thừa, phản cũ, cửa gãy, rồi hoành phi, câu đối gỗ, rồi tất cả những thứ gì có thể tháo khỏi nhà được đều nối nhau đi xuống hầm, không đủ.

Bà con bắt đầu xôn xao:

- Coi bộ phải dời nhà xuống đất cái mới xong.

- Ý đừng. Địch càn vô, chụp hình, nó huyên truyền ở với Việt Cộng khổ vầy nè...

- Còn hơn nó chích mồi lửa! Độc lập, ngả cái nóng nằm phơi bụng giữa trời cũng sướng chán.

- Phải đó ta! Mấy nhà trúng pháo cháy kia, còn chết cau mít quanh vườn nữa. Dỡ nhà chôn kỹ dưới sâu là chắc nhứt.

- Đợi thử chi bộ tính sao...

Giữa cơn lốc của tình hình mới, chi bộ Tam Sa đã lên án gay gắt chủ nghĩa cơ hội và bệnh bè phái, mở đợt phát động lớn “toàn quân quyết thắng giặc Mỹ”, bầu chi ủy mới. Một người ngoài cuộc đọc những câu ấy trong biên bản hẳn không thấy có gì đáng chú ý. Đối với mỗi đảng viên và đoàn viên Tam Sa, đó là mạng sống, nguồn vui.

*

* *

Phiên cuối cùng họp trong đình làng.

Vẫn ngôi đình làng Cá nẻ nứt sứt mẻ từ trên xuống dưới mà không chịu đổ. Tường vôi nhuộm bùn loang lổ, cột kèo chơm chởm những mảnh pháo cắm lút thò đuôi, nền nhà lát gạch bị địch phá đào hào chạy ra vườn, tất cả đều đầy những vết đâm, rạch, khoét, đốt. Mái đình cong sụn xương sống, thủng sáng như sông Ngân. Có lẽ các đồng chí khác ngắm ngôi đình này đều nghĩ như tôi: “Nên dỡ lấy gỗ làm hầm, để Mỹ nó đốt uổng”. Nhưng không ai trong chúng tôi nỡ nói cái đều rất hợp lý ấy.

Sân đình có những nét lạ.

Đoàn thanh niên đã dựng sẵn sân khấu cho đêm kịch hát tối nay, dưới gốc đa, rải lá che bớt phần ngoài cho tàu rà đỡ dòm. Ngay trước giàn ván, anh em đắp nhiều dãy ụ đất nhỏ hình cái chuông. Bà con thường đắp những nắm như thế trước ngõ trong mỗi dịp giỗ tết, cắm lên vài nén hương cho những ai chết bơ vơ. Sáu mươi hai cái “mả cô bác” xếp hàng ngay ngắn dự cuộc vui. Sáu mươi hai người chết trôi không tìm thấy xác vì cái ấp chiến lược khóa cổng giữa lụt, vì đạn trọng liên và pháo chụp rắc trên mặt nước, về đây lặng lẽ nói rằng mất độc lập tự do có nghĩa là mất cả đến mảnh đất chôn thây. Chi bộ đã bàn xong các việc lớn, nhưng mỗi chúng tôi thường nhìn ra chỗ sân khấu để tìm câu trả lới cho những băn khoăn còn lại.

Các vị khách đang nối nhau nói chuyện. Chị Bỉnh to lớn của Tam Trân đã lên huyện đội phó, nhắc phải làm địa đạo gấp hơn nữa. Anh trưởng ban kinh tế huyện nhắn rằng năm nay quân ta rất đông ắt phải ăn nhiều gấp ba bốn lần năm ngoái. Chị Tám Giàu thấy Tam Sa chưa chuẩn bị cho bà con giáp mặt lính Mỹ, nhiều người tưởng hễ Mỹ càn thì cả làng chạy xà đùa như hồi xưa chạy Tây.

Mấy đồng chí nữa từ tỉnh và huyện về cũng góp thêm nhiều ý kiến hay, từ lớp học trẻ em đến trái mìn chống tăng đều không thể thiếu. Cứ như vậy, quả núi công việc phình to lên mãi trước mắt chi bộ, trước năm đồng chí vừa được bầu vào chi ủy đang ngồi một dãy kia.

Anh Tư Luân chưa được nghỉ, lãnh phó bí thư chắc phải làm chủ tịch ủy ban tự quản. Năm Tuất to bè, đen trũi, bắp thịt cuồn cuộn vẫn chắc như xưa và lanh lợi hơn một ít. Cậu Năm Ri nheo nheo con mắt vảy cá, sẽ là một xã đội trưởng khá xông xáo. Cô Cang hay cười tủm tỉm một mình, không bớt cân nào, đã thạo cầm quân chính trị, lại ham các việc văn hóa xã hội. Tới Cô Hai Mẫn, bí thư mới, đăm chiêu nghe lời dặn và hí hoáy ghi sổ tay từng lúc, Mẫn của tôi đấy. Với mái tóc kẹp đuôi chồn thả trên lưng cái áo bà-ba hơi rộng - bận thế này, biết bao giờ Mẫn mới mặc vừa áo cũ nhỉ - lại thêm bàn cao ghế thấp trông Mẫn nhỏ xíu như em học trò leo lên ngồi chỗ thầy. Cô gái vào cỡ trẻ nhất chi bộ đã được bầu với số phiếu cao nhất, hơn cả anh Luân. Đó là chuyện không dễ, tôi biết.

Một cuộc bầu, một bài học. Trước hết là bài học cho tôi.

Trong bộ đội chủ lực rất ít nữ. Chúng tôi lại hay đóng xa dân, đi đường rừng. Mỗi cô y tá hay văn công “trên về” bước vào xê mình thường mang theo một luồng gió thương nhớ. Anh lùi xùi vội đi mượn dao cạo râu, anh cộc cằn đâm ra mát nết, anh lười bỏ giờ nghỉ đi vác củi. Có lẽ không phải vì các cô có sức hấp dẫn gì lớn lắm - xin lỗi nhé - nhưng một cô có mặt đã gợi anh em nghĩ đến những người thân ở xa, từ bà mẹ cưng con đến đứa em gái xinh ngoan. Riêng tôi hay nhủ thầm: “Sức các cô làm những việc như vậy là quý rồi, chớ nên đòi hỏi hơn nữa”.

Tôi quen nghĩ đến phụ nữ như bông hoa làm cảnh, như cây lúa nuôi người, không thay được chúng tôi là gỗ lim gỗ nghiến. Đấy nhé, khoa học cũng nhận là trai khỏe hơn gái. Về đức thì chẳng ai chịu kém ai, còn về tài cần xét kỹ xem: người đàn bà chịu mấy ngàn năm ngu dân nay nở mặt được đấy nhưng cũng phải từ từ chứ, chưa đi đã chạy thì chỉ có ngã đau.

Trên miền Nam dần hiện ra khắp nơi những cô tổ trưởng du kích, cô tiểu đội, cô thôn đội, cô xã đội. Đôi nơi đã có chị huyện đội, tỉnh đội. Tôi nghĩ: “Đúng phải khuyến khích riết đi!” Vào họp thi đua, tôi vỗ tay hoan hô chị em du kích rất hăng, sẵn sàng nhường những phần thưởng cao nhất cho họ, bởi họ cần được động viên hơn. Tôi thấy mình rộng rãi lắm. Lại còn đứng đắn nhã nhặn, rất quí các má các chị, không bao giờ ngắt lời một cô cán bộ ham nói cho hết cả tràng lý thuyết mới được học, chưa một lần cợt nhả với mấy cô văn công tỉnh đội mà anh Ba Tơ cố gán cho tôi. Tốt cả thôi.

Ấy vậy mà mỗi khi thay mặt xê mình đến làm việc với các xã đội, huyện đội, tôi cố tránh gặp cán bộ nữ. Đánh giặc phải có súng thép chứ không thể dùng súng gỗ của sân khấu. Tôi chào hỏi cô xã đội rất niềm nở, thổi phồng việc khiêng thương và đem cơm nước cho bộ đội đến mức cao nhất, còn sự đánh chác thì để dành bàn với anh xã đội. Cô xã đội dễ thương hơn anh xã đội lắm lắm, nhưng địch nó sợ đạn chứ không sợ mắt sáng môi hồng, chuyện xương máu xin đừng trông vào may rủi. Đấy, nhường cô đi trực diện chửi giặc cho khoái, binh vận nữa, cày bừa cấy gặt tha hồ còn nhúng tay vào lãnh đạo và chỉ huy thì hãy khoan một chút... Kiểu lẩn tránh của tôi bấy lâu xem chừng trót lọt, chưa vấp nặng lần nào, có chăng cũng chỉ đôi lần bị hờn lẫy, chẳng chết ai.

Tảng lý sự rất vững của tôi gần đây long lở một ít, về đến Tam Sa mới bị rã vụn. Rã vì tôi hiểu Mẫn.

Khi yêu thì dễ quáng gà ưa thấy mây năm sắc hiện quanh người phàm, đúng vậy. Nhưng tôi đã đánh giá Mẫn từ khi chưa yêu, đang tỉnh như sáo và rất xét nét, công tác là công tác không được lơ mơ. Vả chăng tôi không định yêu một người đáng phục, trái lại, tôi nghĩ một cô gái hơn mình nhiều thì nên kính mà xa vậy. Trước khi vào đại hội, anh Bảy quai nón và Tư Luân kéo tôi ra hỏi thử Mẫn có đương nổi vai bí thư không, liệu chi bộ có bầu không. Tôi nói thẳng: Mẫn là cán bộ vững mọi mặt, nhưng e rằng làm việc trên huyện dễ hơn “cưỡi đầu voi” ở một xã sát Mỹ. Tuổi quá trẻ, mau nước mắt, lại là con gái, được đoàn viên và du kích rất tin, còn chi bộ có lẽ coi trọng vừa vừa thôi...