Mẫn và tôi - Chương 12 (phần 2)

 

Ông thầy Mười đã chữa sốt rét cho tôi. Ông lấy mảnh chai lể năm huyệt trên lưng tôi, xoa lá trầu, cắt ba chén thuốc nam chỉ cay và ngọt chứ không đắng. Cái lạ nhất là tôi dứt cơn sốt khá gọn. Hôm lể lưng, ông kể một đoạn sự tích làng Cá, hay thật. Thêm một ít thương nhớ nữa dành cho nghĩa quân Tây Sơn. Những người đồng hương lẫy lừng của tôi đã in dấu chân trên đất này, rất chậm.

Thời ấy, khúc đường thiên lý từ Quy Nhơn ra Phú Xuân rộn ràng lắm, quan quân đi về không ngớt, tiệm quán mở dày. Bắc Bình Vương trẩy qua làng Cá nhiều lần, nhưng ra thẳng Tam kỳ hay vào luôn Châu ổ. Các cụ thường gặp Đức Ngài ngủ trên Bành Voi, hễ bước xuống là họp tướng, kiểm quân, hiểu dụ dân chúng không biết mệt.

Một lần, hình như sau chuyến ra Bắc diệt Trịnh, có ông đô đốc Tây Sơn dừng chân nghỉ tại làng Cá. Đó là chuyện lạ, vùng này mới có hai làng: Lộc chánh là dân cố cựu chánh tri, thuần một họ Võ, ông thần hoàng được sắc phong hẳn hoi, còn làng Cá toàn dân tứ chiếng góp lại, cày rẽ ruộng nhà giàu Lộc Chánh, đến cái tên chữ cũng chưa có, đình làng chỉ bằng điếm canh xứ người. Ông đô đốc tên gì chẳng nhớ - cái lệ kiêng húy tai hại - chỉ biết họ Trần, ham vui hội vật làng Cá mà rẽ vào, mặc kệ hào lý Lộc Chánh bày hương đón trên đường quan. Trần Đô đốc đóng khố bước vào bãi, quật ngã hết các đô vật tới thi, sau bị Sáu Thìn làng Cá hất nhào ngửa, vỗ đét vào rốn. Bà con sợ mất máu, tưởng anh trai cày rụng đầu đến nơi. Nhưng ông Đô đốc cười lớn, mặc khố đứng giữa bãi, túm vai Sáu Thìn mà phong làm chưởng đội ngay tại chỗ.

Dân làng Cá rất khoái ông đô đốc chưa tới ba mươi tuổi, gọi Bắc Bình Vương là “Anh Huệ” làm các cụ già giật thót, đi chơi với Sáu Thìn như bạn vai vế, đặt tên làng Cá là Thiên Ngư thôn, nhân hỏi thăm về đàn bà góa mà chém luôn một tên mọt dân. Cuối cùng, ông làm việc rung chuyển cả phủ Tam Kỳ: Ông tự tay thảo tờ lệnh khoanh cho làng Cá tất cả các phần đất từ đường thiên lý lên tới sông Rù Rì, ai cày rẽ đám nào được giữ luôn đám ấy. Nghe nói tờ lệnh ấy văn dở chữ xấu, nhưng được con Ấn đỏ chói đóng vào, đằng sau con ấn lại có lưỡi gươm rất nhạy, nên quan tri phủ cũng chịu phép. Dân làng Cá mừng mà khóc, gánh rượu thịt tiễn quan quân mấy chục dặm đường vào.

Làng Thiên Ngư mở mặt từ đấy, xây đình to, tạc bia ghi công đức Trần đô đốc, mộ dân lưu lạc về vỡ ruộng thêm mãi, lan thành nhiều xóm phía Nam. Đám nhà giàu dưới Lộc Chánh kẹp dù đi kiện, rồi kéo tráng đinh đi gặt ào, keo nào cũng thua. Anh Sáu Thìn lâu lâu cưỡi ngựa về thăm làng, bà con lại gửi quà biếu ông Đô đốc: Phần ông có thứ chè nhỏ của Tam Kỳ, thơm mộc mà đậm, còn bà Đô đốc được hồ tiêu, con ông ăn bột chà là với chuối mít khô. Ông đô đốc giữ ý, thỉnh thoảng nhờ Sáu Thìn đưa về một lượng bạc, nói là biếu quả phụ cô nhi.

Bẵng đi một dạo, làng vắng tin Sáu Thìn. Nghe đâu vua băng, việc trào lộn bậy hết, viên quan Tây Sơn mới đổi về lại ăn tiền như mỏ khoét. Rồi giữa một đêm mưa lớn, Sáu Thìn đánh voi về làng. Ông đô đốc tử trận nằm trên bành, mặt vẫn tươi như Bắc Bình Vương xưa ngủ trên lưng voi, tay còn nắm chuôi thanh kiếm dính máu đen và mẻ mấy chỗ. Bà mẹ Sáu Thìn chẳng gọi ai, một mình cầm đuốc dẫn voi lên núi Chúa. Hôm sau quân Nguyễn Ánh tràn tới, theo dấu voi vào vây núi, xỉa giáo vào từng bụi cây một. Ba người một voi đã biến mất. Từ đấy, trong những đêm mưa gió, dân làng hay nghe tiếng voi rống và tiếng gươm khua loảng xoảng trên núi Chúa….

Ông thầy Mười hẹn sẽ kể tiếp phần giữ ruộng về sau nữa. Tôi nghe rât mê, ông cũng cần một người chịu khó nghe như vậy, bởi “Sắp nhỏ bây giờ dễ quên ráo ông bà”. Nhiều đêm tôi lắng nghe tìm những tiếng của thời Tây Sơn vọng về, chỉ nghe những ngón tay mưa gõ trên mái nhựa và gió hú rất thường so vói gió Trường Sơn, chưa đủ gợi nên thần thoại khi lọt vào đôi tai quá quen với máy nổ và sung nổ. Tiếc lắm chứ. Thế nhưng tôi bắt đầu ngắm trái đồi trọc chừa chỏm cây bằng cặp mắt kính nể, cũng không tức cười nữa khi lội qua sông Rù Rì hay đèo Trâu lăn: có lẽ người xưa phong chức cho sông núi hơn là đặt tên. Tôi vừa mở hé cuốn sử ghi những chuyện anh hùng qua rồi mà không hề đứt đoạn, đã mừng gặp ngay cái tên Tây Sơn rất yêu của tuổi nhỏ….

Anh Luân nhỏm dậy gọn như chưa hề ngủ, trải khăn trên tay lau nhanh bộ mặt xương, lau cả cái đầu trọc, kiểu rửa mặt khô của người quen ở hầm.

- Đi hè, lão!

Bóng núi đằng Tây đổ dài qua đồng, trùm lên làng Cá. Lúa vàng tươi càng sẫm màu thêm, chín thêm một ít nữa để giục chúng tôi đánh gấp. Nền trời nổi sáng gắt. Bốn chiếc phản lực đón nắng dưới bụng trắng lóa – Bụng chúng khi đi gắn lổn nhổn những trái bom đen, bây giờ trơ trụi – Sà qua đầu chúng tôi với cặp cánh phụ cụp xuống cản gió, xì đuôi khói đậm dần. Chúng còn rướn ra đến tàu mẹ đỗ ngoài khơi, mới có tụi cánh quạt đáp xuống sân Chu Lai. Tôi nhớ cái đèo Rập cu ở Quế Sơn: từng bầy cu đất nối nhau lao qua chỗ yên ngựa giữa hai sườn núi, đâm vào tấm lưới dăng cao, rơi xuống túi dưới, đập giãy tóe lông trắng trước khi vào lồng. Ước tới cao xạ thì quá cao, nếu có mươi cây 12 ly 7 mà dăng ở đây một tấm lưới lửa dập tàu bay nhỉ!

Đội du kích cuốn võng cho vào bao, xuống đồi theo chỗ bóng khuất, tránh hằn nét động trên nền mây đỏ bầm. Năm Ri dẫn một tiểu đến chỗ bến phà Gò Trúc, sẽ bắn vào tụi lính gác cổng ấp, chia lửa cho tổ Mẫn. Anh Luân với tôi rẽ qua phải. Một em chăn trâu đợi trong bụi, dẫn chúng tôi vào ấp. Địch ở ngay trong ấp mà vẫn sợ, từ bốn giờ chiều đã khóa các cổng, bỏ khúc giữa và khúc đuôi con cá, kéo về dồn cục ở khúc đầu, vây quanh con mắt lồi là gò Đình. Chúng tôi đi dọc xương sống làng Cá, hỏi lượt nữa các đồng chí sắp kéo dân nổi dậy, rồi đi đón Mẫn. Đèn dù lác đác xòe sáng trên ruộng, thứ đèn nhỏ của cối 60. Địch chưa nghỉ, Mẫn đang chĩa súng vào cổng đình…

Chỗ đón là một dải ruộng hẹp chia xóm Giữa với Xóm Đình, được gọi rất đúng là ruộng mang cá. Nhóm chị Biền đã nhổ rào, moi mìn, dọn một khúc đường ruộng băng ngang, nối vào lối đi xuyên qua các vườn mít vườn chè rậm chông tới tận rốn địch.

Tôi hồi hộp quá. Chưa bao giờ tôi đợi tiếng súng mà trống ngực đập dữ như đêm nay. Tôi tự nhủ một cách cả vú lấp miệng em rằng trận này có phần táo bạo, vả lại người ngoài cuộc lo cho người trong vòng chiến vốn là quy luật của tình đồng chí. Tôi dối mình rất vụng….Các bin! Không lầm được! Các-bin M.2 kéo một tràng cắc cắc, tới nửa băng mới chen tiếng tuyn cải tiến pằng pằng hệt búa máy tán ri-vê. Ăn rồi!

Tôi sững người khi đại liên nổ tiếp liền. Óc tôi quay tanh tách như máy tính, dừng ở cây đại liên trong lô cốt góc sân, chĩa họng dọc con đường làng. Chúng nó kịp nhấc súng qua lỗ châu mai khác ư? Không có nghe tiếng vỗ tiếng réo băng qua đầu tôi. Nó bóp cò từng loạt ngắn lấy tiếng nổ thôi, khác hướng. Đã nghe tiếng ó ré dội xa. Lựu đạn nổ ba bốn trái, của ai, chắc là của ta, tụi ngụy không nhạy rút lựu đạn đến thế. Bây giờ thì các cỡ súng đều bắn, đạn đi cao không chém lá, chắc chị em quật được mớ lính đổ xuống trước nhà, đủ chặn làn đạn thấp để rút cho êm. Ngón trỏ của tôi vẫn gác trên vành cò cây P.38, nhưng bốn người còn lại cứ bóp chuôi súng ngắn muốn toác vỏ nhựa nâu. Mắt tôi xói mãi vào chỗ rào trổ bên kia ruộng, nơi tổ Mẫn sắp vọt ra. Súng địch quét như bão. Lưới lửa xuống thấp rồi, một chòm lá cau chợt rung giật ràn rạt như có bầy sóc ngủ bị đuốc soi. Trận mưa chì bọc đồng xối vào lưng người. Nếu ai đó bị thương… nếu Mẫn ngã trẹo chân…Cần người cứu…Địch đuổi, chị em đuối sức, ai không chạy nổi thì trao súng, nằm đợi, rút lựu đạn đánh trận cuối đời…Không được!

Tôi nói vội: “Anh Luân ở đó, tôi đón”. Mới buông miệng, tôi đã vọt lên khúc bờ ruộng ngắn, tới rào tre ven xóm Đình. Có người chạy tới. Chân nhẹ. Một người thôi sao? Từ trong vườn tối om, một bóng nhỏ nhô ra, tay vẫy khăn trắng, suýt húc vào ngực tôi. Út Liềm! Tôi túm vai Liềm làm cô bé hoảng, kêu “ứ” trong cổ, quẫy mạnh.

- Anh đây, Thiêm đây, Chị Mẫn đâu?

Liềm lắc đầu không nói, chỉ thở dồn. Nguy rồi. Tôi cuống lắm rồi. Mùi phấn ở đâu thơm gắt nhỉ. Một xuồng đạn xối qua vườn mít, cành gãy văng tới bên tôi. Liềm hít mãi mới ấp úng ra lời, tôi ghé tai sát miệng mới nghe lõm bõm:

- Khô-không biết…. Em ném cây đèn…. chạy trước…

Tôi chồm qua chỗ rào trổ, nhưng còn đủ tỉnh để dừng lại, bước lùi. Sai nơi hẹn, rất dễ bắn lầm nhau. Nhất là khi tai ù và súng ồn rất khó nghe mật khẩu. Tôi kéo Liềm lui về xóm giữa. Vẫn cái hoa gì nở đêm bay thơm như phấn.

Mười hai phút, Cối địch gõ tang trống không ngớt, trái bung dù trên trời, trái nổ ngoài gò. Hướng này chưa lộ. Mười lăm phút, mười lăm năm đúng hơn. Mười bảy, mười tám. Thôi thế là xong! Chúng nó đang rọi đèn pin tìm xác, ồ, à, Cộng nữ bay ơi, cây các bin nó đây…Tôi đứng gượng trên đầu gối mất gân, chẳng hiểu sao lại đau buốt ở hai khoeo tay. Súng địch cứ xổ ào ào, băm vằm tôi mãi; Cho đáng kiếp, ai bảo tôi nằm đây như con bò chết trương để Mẫn luồn sâu đánh nhau với hai đại đội! Út Liềm lặng lẽ cởi áo, cởi mãi không hết áo, lớp này tiếp lớp khác, có lẽ mắt tôi nhìn loạn đấy thôi.

Bên kia ruộng có tiếng cười rúc rích. Nói chuyện rì rầm nữa. Một bóng bà ba đen đi qua lỗ hổng đen giữa rào. Súng lách cách. Bắp chân trắng, khăn trắng buộc tay. Có lẽ thật. Thật rồi. Hai bóng, ba bóng nối nhau bước chậm như dạo xem ruộng. Anh Luân hỏi to:

- Quốc?

- Hận!

Cái giọng lanh lảnh ấy còn của ai vô đó! Làm người ta gần phát cuồng, lại cứ cười, cười, cười nữa kia…

- Chú Luân hả chú? Liềm về chưa? Anh em đâu hết? chu choa, đánh ngon quá thể…Đi vô xóm cháu kể, nó động bắp chuối rách áo uổng….

Tôi lẳng lặng nối vào cuối hàng, chân tay mỏi không muốn nhấc. Phải chi tôi được ôm Mẫn như ôm anh em xê mình sau một cơn cháy ruột chờ nhau! Pháo 105 tới giờ mới lên tiếng, đạn mài gió xèn xẹt qua xóm, cũng đánh trống ngoài gò. Chúng sẽ bắn suốt đêm. Của đi thay người mà.

Ngồi bên miệng hào cẩn thận, cả ba cô mới kể thôi là kể, cười từng chùm cười như giũ chà là rào rào trên nón ngửa.

Họ đánh gần đúng như đã bàn, còn vượt mức hai chỗ. Một là bắn nhào thằng Chinh cha chứ không phải là Chinh con, luồng đạn từ ngực Ba Thấn chạy rẹt qua xã Chinh, gục cả hai, chắc mặc áo gỗ hết. Trận đánh kéo dài không phải vì địch chống cự mạnh, mà ngược lại, vì chúng đạp nhau chạy. Khiếp là phải, như đang ngủ ngon bị ong bầu chích giữa bụng hay con rết cắn trong nách. Các cô nổi ham, chạy ra khỏi nhà, ném lựu đạn túi bụi vào tụi lính trong sân đình, chụp vội được hai súng rớt trên đường làng, thêm một điểm “tăng năng” nữa. Mẫn chép miệng tiếc hoài những cây súng không kịp tìm, nghề đời là vậy, cá đầy giỏ vẫn còn thèm cá sẩy…Tôi xem cây Tom-xơn kiểu cải tiến và cây ga-ran M.1, lại ngắm ba cô gái lấm lem, nhận lấy bài học đánh tiêu diệt rất tuyệt. Một tổ đặc công của bộ đội có thể lập công gấp bội, nhưng khó lòng chọn mặt gửi đạn như các cô. À, ra vậy, tiếng đại liên nổ thùng thùng mở đầu cơn hoảng của tôi ban nãy chỉ là cây tuyn của cô Xuân kê trên cái thùng sắt Tây gỉ, lượm ngay trong nhà bỏ hoang. Cái trò này địch biết từ lâu, đem ra chơi vẫn được việc như thường, ngay tôi cũng lầm.

- Sao đó thầy Thiêm, trật đường lối chỗ nào?

Tôi cười trừ. Mẫn sẽ không bao giờ biết tôi đã một lúc rụng rời vì Mẫn. Nếu biết chắc Mẫn giễu hơn là thương, bởi tôi được xếp lẫn vào cái số đông “anh em” trong bậc thang tình cảm của cô ấy, giỏi chen cũng đến sau lưng Út Liềm. Công bằng thôi. Một anh bộ đội mới tới, có giúp đôi chút nhưng chưa phải chung đắng ngọt vui buồn nhiều năm với Mẫn….

Anh Luân giục Liềm:

- Thôi, biến đi cháu. Đừng ra láng cháng với du kích nghen.

- Dạ, cháu về đây ông.

Út Liềm đi khuất mà mùi phấn còn bay nồng. Cô em út của chi đoàn này đổi dạng rất khéo: da mặt và cổ vốn nâu được xoa phấn dày như quét vôi, lông mày quét than đậm; tóc ghép thêm cái chang búi tròn sau gáy, người to ra gấp đôi với bộ ngực độn và sáu lớp áo. Sáng mai, tụi lính sống sót sẽ lùng trong xóm Đình, tìm “cái con mập ú, da trắng, mày rậm, tóc búi”. Gan lì thiệt, vừa kêu có việt cộng vô, vừa giơ đèn gió thiệt cao trước mặt hai con mồi cho các chị quét, cứ tỉnh rụi, một cô Mẫn nữa đang lớn gấp.

Tôi đi giúp bà con sửa lại bờ đai ấp thành công sự “xóm chiến đấu”. Súng nhỏ đã ngớt, chỉ còn cối và đại liên bắn mãi ra gò. Đồng bào cầm rựa vác cuốc tuôn tới bìa xóm, các khoanh kẽm gai địch để chất đống cũng mang ra giăng hết. Từng tốp kéo qua, rậm rịch, lào xào, hổn hển.

- Nặng kinh mấy cha!

- Ai áo trắng lên trước cho theo với, tối thui đây.

- Để kêu nó bắn thêm đèn, ước lính…

- Còn mấy khoanh trước nhà bà Vành?

- Nát bét. Bả tưới nước dưa mấy lần, căng đâu gãy đó.

- Mỹ thua bà già…Nè, tránh chớ!

Một cuộc khởi nghĩa rất lạ, không đèn lửa, không tiếng súng tiếng loa, khác xa những năm xưa đồng khởi, nhưng vẫn là nhân dân nổi dậy phá kẹp. Và làng Cá bị hai đại đội giặc đóng chốt vẫn cứ được giải phóng hai phần ba, có đủ chính quyền, du kích, xóm chiến đấu.

Cuộc đánh vật bắt đầu đêm nay. Ai sẽ làm chủ mảnh đất bàn đạp gần căn cứ Chu Lai?