Mẫn và tôi - Chương 12 (phần 1)

 

Xỏ xong quai dép bằng lá chà là, Anh Tư Luân rút ống thuốc mỡ trong túi dết, kéo cao ống quần, bóp thuốc trên đầu gối, nắn chỗ sưng. Anh cứ đủng đỉnh như ông câu dầm. Thấy tôi đứng lên dòm lần nữa, anh cười khà

- Chưa đâu, lão. Săn heo rừng phải lì đợi chờ. Hai Mẫn đánh coi như ăn gỏi, con nhỏ lanh kỳ cục lắm đó.

Tôi bị bắt quả tang đang sốt ruột, chỉ cười theo xí xóa. Cái bình tĩnh khi nằm đợi nổ súng bay đâu mất, tôi nhấp nhổm hoài, và cãi gượng với mình rằng tôi bị buộc phải đứng ngoài xem đánh nên mới lo giùm anh em. Tôi không dám truy tới cùng thử coi lo cho ai nhiều nhất.

Một con bìm bịp nhảy trong bụi, thoáng màu cánh nâu chìm vào lá. Một tràng hụp hụp dội ra. Dứt tiếng chim, tôi đoán: “Sắp nổ đây nè, sắp …”. Không nổ. Con rắn mối bò trên đá, đương ngó tôi, óng ánh như một vật chặn giấy bằng sành phủ men xám. Nó há miệng hớp nắng, thè cái lưỡi đỏ liếm mép ngon lành như vừa uống bia vàng, lại chui vào kẽ. Tôi tìm việc làm cho mắt và tai. Cu đất gù ngoài xa. Đám mây hình con gấu khi nãy đã co lại hình mèo ngồi…Đầu tôi cứ tự ý quay về phía làng. Mẫn vào trong ấy đã ba hôm, và chiều nay sẽ đánh trận táo bạo: diệt vọng gác giữa ban ngày, lấy cho được súng, ép địch co lại. Đó là trận mở màn “chiến dịch” mới của Tam Sa.

Anh Luân thích gọi nó là chiến dịch giành lúa. Tôi đặt tên khác: cuộc chạy đua với Mỹ. Mẫn đùa, tuyên bố với du kích rằng ta sắp đồng khởi từng xóm. Chẳng ai sai cả, vì đợt tấn công này có đủ các nét ấy gộp lại.

Đồng lúa chạy dài mé trên đường cái đen đang chín rộ, chín gấp, từng mảng nối tiếp nhau ngả vàng tươi, trông mà bắt cồn cào cả người. Mùa gặt đầu tiên sau lụt lớn đến sát sau lưng, bà con Tam Sa thấy giặc sửa soạn cướp lúa mà phát cuồng. Cha con xã Chinh chưa dám tính chuyện lấy lại ruộng hay đòi tô cũ, chỉ hằm hằm ăn xổi vài chục ngàn ang thóc cái đã. Đồng Nhơn Phước chín sớm hơn, bị một đại đội giặc đổ ra vừa gặt vừa xéo, M.113 chở lúa bỏ chạy tuốt về An Tân, bà con đấu và du kích đánh suốt ngày mới giữ hơn được một nửa. Chín Cang chạy vào báo tin với cặp mắt sưng đỏ. Chậm chân là mất lúa. Sau đó, dù được giải phóng, bà con cũng phải bỏ xứ đi kiếm sống, du kích bám làng chỉ có nước ăn củ chuối.

Riêng tôi cứ nhắc hoài vụ quân Mỹ sắp vào Chu Lai. Sân bay dưới ấy đủ cho máy bay cánh quạt lên xuống, các cứ điểm xung quanh xây gần xong, số Mỹ cai quản lính ngụy lên tới tám chục. Tôi xuống đấy hai đêm với Năm Ri, đoán chậm nhất chỉ vài tuần nữa Mỹ sẽ đổ bộ, tiếc rằng chủ lực ta bận đánh nơi khác, không kịp nện một đòn phủ đầu. Bây giờ Tam Sa nổi dậy khó một, tháng sau sẽ khó gấp đôi gấp ba. Tôi kể lại cuộc chạy đua giữa C.215 với tiểu đoàn biệt động ở Đèo Nhông, ta nhanh hơn vài phút mà dành được cái thế từ trên đạp xuống mặt địch.

Chi bộ họp trắng đêm, quyết định cái điều Mẫn nói: cài răng lược mạnh nữa, dù phải giành chính quyền từng liên gia cũng cứ nổi dậy, lập “xóm chiến đấu” mà đánh! Mẫn được cử làm “chỉ huy trưởng” chiến dịch, vào ở hầm trong ấp. Năm Tuất về vùng cát nắm Nhị Lộc, Tư Luân đóng sở chỉ huy ngoài gò. Anh Liệp về họp với bộ mặt ủ rũ của người đợi bị kỷ luật, cậu Quì xoắn hai tay phân bua mãi phát ngấy. Còn hai đồng chí nữa trong nhóm Anh Liệp lặng lẽ vắng mặt, chi bộ hiểu ngay rằng họ bỏ cuộc, làm Đảng viên trong thời đánh Mỹ này quá khó đối với họ. Cũng được thôi, họ có thể nhận việc khác vừa sức hơn. Anh Luân bàn riêng với Mẫn và tôi, rồi giao Tám Liệp lo chung đợt thu và giấu lúa nuôi quân sắp tới. Tôi thoáng thấy trong mắt anh Liệp một ánh mừng thầm kín, không muốn vội đoán xem anh mừng vì ai.

Tôi bốc, giơ tay nhận làm “Tham mưu trưởng chiến dịch”. Nói xong mới biết mình hớ. Chi bộ cười, Mẫn cúi xuống đọc cái gì trong sổ tay, anh Luân lại vỗ đùi: “Đồng ý cái rốp!”. Tôi quên mất nạn ở chung hầm! Nhưng rồi anh Luân cũng can, vì huyện cấm xã dùng tôi kiểu ấy. Thật tình, nếu không có cái Chu Lai từng lúc gọi giật tôi về nhiệm vụ làm quen với Mỹ, tôi đã biến hẳn thành một cán bộ của Tam Sa. Cái cảm giác hòa tan mình trong một tập thể thật là thú vị, như tôi ngâm cả mình dưới suối giữa trưa hè cho nước ngấm vào từng nếp da mát rượi.

Tiễn Mẫn vào làng dưới sáng trăng, Anh Luân đấm lưng tôi, nói tưng tửng:

- Từ giờ trở đi, ông cố vấn quân sự của tao có nhảy mũi, máy mắt, té lên té xuống, là tại mày nhắc miết đó nghe!

- Chú

- Sáng trăng tôi được chồng ai; tôi cột gốc xòai, ai chuộc tôi cho…May mai mày ra chuộc, nhớ vai mang vò rượu tay bồng con heo, ừ chứ?

Mẫn bịt tai, chạy mất. Tôi ngượng nín thinh, lại muốn nghe Anh Luân nói nhiều về cô cháu gái cưng cho khuây cái ý nghĩ day dứt; Mẫn đi vào chỗ nguy hiểm mà vắng tôi bên mình. Nhưng Anh Luân bắt sang chuyện hai đảng viên vừa rút lui êm. Tôi nghe nửa giờ chẳng hiểu anh nói gì.

Tối hôm sau, cùng đi Nhơn Thọ và về tới giếng Tiên lúc hai giờ sáng, Anh hỏi độp trong khi buộc võng:

- Nè ông lính Binh Định, cắm rễ làng Cá thì tính làm rể luôn chớ?

- Mô Phật!

- Đừng làm bộ! Lâu nay mình để ý kiếm chồng cho Hai Mẫn, ngó đi ngó lại chẳng thấy ai xứng nó. Sắp du kích kêu chị Hai riết rồi coi nó như chị thiệt, đố dám lấy. Con trai đi bộ đội sạch trơn, sót đứa nào lớ ngớ ở làng cũng bị địch nắm đầu đi quân dịch. Thời buổi này, gái ngoan tìm chồng ở chốn ba quân chớ ở đâu. Lão hỏi con Mẫn, chắc nó ừ. Con gái ở đây trầm trồ khen lão bảnh trai lắm đó.

Nếu một ai khác ghép đôi cho tôi bằng cái giọng cha nội ấy, chắc tôi đã cáu. Anh Luân nói, tôi chỉ cười dài, thu thú nữa, còn anh thì lại phát bực:

- Gì mà cười? Chuyện chung thân đại sự mà cứ hả hả hả…..Đừng tưởng con Mẫn dễ đâu nghen. Sáu bảy anh đâm đơn bị bác hết rồi. Mình tính giùm cho lão vậy. Lão bỏ nhỏ một tiếng, tụi mình xúm lấy cuốc vun vô, nó gật một cái là lãi cưới luôn. Lão đi tứ xứ mặc kệ lão, để vợ đó tụi mình giữ giùm, hồi rảnh rang lão về bồng con… Cười nữa à? Nửa đời người không lo vợ con, ở đó nhăn răng cười!

Anh tức thật sự, phẩy cái quạt mo phành phạch một hồi, ngủ luôn.

Chẳng biết các cô “tưởng sự lấy chồng, tỉnh như con sáo” thật không, chứ cơn buồn ngủ cứng mắt của tôi tan đâu mất. Tôi hiểu, anh Luân tự thấy phải lo cho đứa cháu mất mẹ vắng cha, cũng muốn Mẫn gọn bề chồng con để yên bụng làm công tác, khỏi lo già hết duyên, hay là ngại lên cấp cô khó lấy chồng trẻ…Chú Luân ơi, chú tốt bụng lắm, nhưng mà cha mẹ lấy vợ cho chú cách một phần tư thế kỷ rồi, cô cháu gái của chú ngày nay nghĩ về tình yêu và hạnh phúc khác xa chú thím rồi. Thằng Thiêm có thể bảnh trai, được cô ấy anh anh em em ngọt lừ đấy, nhưng nó suồng sã một chút là ăn báng súng các bin M.2 vào sườn cho coi. Lấy cuốc cuốc vào theo lối chú, biết đâu chẳng là lấy cào cào ra!

Tôi xoay lưng về phía ông mối bất mãn, ngáy một lát, con mắt cứ tráo trưng. Đang đánh Mỹ mệt phờ râu, ông lại đi gợi chuyện ba lăng nhăng…. Nhưng lại hấp dẫn mới chết chứ….

Người ta bảo “Dân thợ chậm vợ hiếm con”, có lẽ đúng. Cả họ Đặng phía ba tôi, hầu hết làm thợ, đàn ông đều theo cái lệ tam thập nhị lập, muộn nữa càng hay. Chỉ một người phá giới sớm là anh con đầu ông bác tôi. Mới hăm mốt, làm ét xe hơi, Anh mê một cô hàng xén rất xinh ở An Khê, quyết lấy cho được. Ba tôi khuyên:”Đời thằng thợ, để gia tài cho con có hai thứ thôi: tay nghề là một, thất nghiệp là hai. Ba mày với tao chí thú tới vậy, bây giờ đầu hai thứ tóc vẫn là sống nhờ đất nước ông bà, chết cậy mã tà đi đưa. Mày chưa vững nghề đã vợ đuổi con đeo, liệu sắm bị gậy sẵn đi!”. Anh tôi không nghe, nhà gái thách mấy cũng cố vay mà cưới, ở gửi rể luôn, nghe đâu quần quật bốn năm mới sạch nợ. Bẵng đi rất lâu, hết đánh Tây, mà tôi gặp lại anh về Quy Nhơn tìm việc, ngó mãi mới nhận ra: Anh già sọm đi, vai còng, tóc bạc một mảng sau gáy. Tôi nghe anh kể mà kinh. Anh là cái đầu máy hụt hơi kéo một xâu toa dài thêm mãi: tám đứa con nối vào anh, chị vợ rất đoảng níu vào bầy con, ông già lười biếng với bà già vỡ nợ móc xích vào vợ, đeo thêm vào đấy còn cả chùm những cậu em vợ lêu lỏng về nã tiền nhà, những họ hàng gần xa cứ nhất định tin rằng làm ô tô là hái ra bạc. Đã vậy, bấy nhiêu người cứ thi nhau nhắc ra rả rằng anh lấy được chị là phước bảy mươi đời, mấy đứa con lớn cũng bắt chước nói theo, đau lắm….

Hồi nhỏ đã khiếp, lớn lên tôi gặp vô số cặp vợ chồng Ngâu rất tội, mười một năm chưa một lần được qua sông. Tôi lại lao hết mình theo dòng thác đánh Mỹ. Có lẽ tim tôi không chứa nổi hai say mê lớn, nên tôi quên nhanh những rung động chợt đến trước một đôi mắt bồ câu nhìn tôi khuyến khích, để nghĩ tới cây tom-xơn của tiểu đội Ba trúng đạn toác vành cò. Người cứ nhẹ thênh, rất khoái. Cho đến nay…ma quỷ nào xui mà tôi nhớ Mẫn hoài vậy?

Ừ, nhớ đấy, thì đã sao? Có gì là bậy nếu tôi nhớ cô bạn sắp đánh một trận khó? Nhớ hẳn đi một keo thử coi, đằng nào cũng chưa ngủ được…..

Giả sử tôi nghe lời Anh Luân, tôi đặt vấn đề…. chà, mấy tiếng này cứ khô khốc. Tôi liều gọi Mẫn bằng em chẳng hạn. “Em Mẫn”. Cái báng các bin nằm im, chỉ có đôi mắt rất đen ngước nhìn tôi, luống cuống hỏi thầm: “Có phải …hay em nghe lầm?”. Hãy cứ vơ vào một chút, mất gì. Trong văn chương, tới đó người ta chấm lửng, qua chuyện khác, coi như ai thắng ai đã rõ. Ngoài đời chắc là khác, tôi phải nói thêm nhiều nhiều, chết nỗi nói gì đây? Một chuỗi câu hát rất xưa đến ngỏ giùm tôi. Những câu hát nhẹ như sương mỏng bay qua, phủ mờ khuôn mặt Mẫn, đôi mắt nghiêm dịu lại thành mắt người yêu đắm đuối…Lụt nguồn trôi trái lòn bon: mẹ mất cha còn, em chịu mồ côi. Thương ghê. Khúc dạo đầu đó, rồi tới gặp anh một bữa nhớ anh ngàn ngày. Ngàn ngày là gần ba năm đó nghen. Gặp lại hai chục bữa thì phải nhớ sáu mươi năm…. Màn sương đẫm trăng bạc đọng dần trên môi chúng tôi thành những giọt vui rưng rưng: Anh với em…..

Một chú gà rừng gáy xa thé thé. Bỏ mẹ, gà gáy đầu rồi sáng mai lên lớp tha hồ mà ngáp, con ma sốt rét cứ rình xuống sức mà quật. Vướng. Mang tiếng thấy mồ. Sắp quần lộn ẩu với địch mà định mê gái à? Không khổng khồng không. Tôi cố vẽ trong đầu một số không thật tròn, cảm thấy cái võng tự do đong đưa bay lên, rất dễ chịu. Chân tay tê dần, tới đầu tôi cũng tan trong con số không ấy.

*

- Ai đốt than cháy tới canh này mà chưa chịu hạ lửa, cà nông bắn chết á.

Ai như chị Biền dưới chân dốc gọi lên lảnh lói. Tôi quay nhìn đằng sau: Một cột khói mỏng đang bốc đứng bỗng đứt gốc, phá ngang thành nhiều bung tròn lộn xộn. Đội du kích đang ngủ một giấc “ứng trước”, chắc có cậu nhen lửa đun nước uống, vừa dập vội. Mặt trời gần gác núi. Ba phát cối 60 đã bắt bà con quay về hết ấp, không còn đám khói “hợp pháp” nào để cho chúng tôi nấu chen vào.

Chị Biền vạch bụi leo đến chỗ chúng tôi, bắp chân vạm vỡ bị gai bớm rạch mấy đường, mặt bánh mật đỏ rựng. Chị hổn hển:

- Tôi… các cha ẩu quá…lộ cả xâu cả xốc rồi đó….

Chị Biền đem tin mới. Tin xấu.

Cha con xã Chinh đã cho Ba Thấn về trại hồi chánh, tưởng êm, trưa nay lôi hắn trở lại làng Cá. Thằng Chinh con vừa khịt mũi vừa đánh thằng Thấn hộc cơm rồi hộc máu, bắt khai du kích bí mật: “Nhứt định mày còn giấu ranh lắm, mày chừa chỗ để về sau cộng sản thắng mày khỏi bị tù”! Ba Thấn muốn ngừng trên sườn dốc làm phản, nay phải lăn tiếp. Một lính ngụy mà chị Biền nắm được báo tin tối nạy địch sẽ cho quân đi bắt hơn chục người trong xóm Đinh sáng mai bắt tiếp ở hai xóm kia.

Tư Luân bạnh quai hàm:

- Hai Mẫn ở đâu?

Chị Biền liếc tôi một cái rất nhanh. Tôi hiểu, nhỏm dậy định lảng, Anh Luân níu tay lại:

- Lão là tham mưu mà… Nói hết đi chị!

- Con Mẫn ở hầm nhà tôi. Cho Út Liềm báo động dây chuyền, biểu ban cán sự với số bị khai né tạm xuống xóm Đuồi thôi, đêm nay du kích về trụ luôn mà. Nó bỏ cú hốt vọng gác.

- Hừ, đáng lẽ….

- Lo diệt cái ác đã. Tính quét cả thằng Chinh, thằng Thấn, đánh ngay chỗ cổng đình, giấc chạng vạng.

Tôi giật mình. Anh Luân chồm vai tới, mắt trừng trừng. Đình làng Cá nằm giữa xóm, hai đại đội giặc đóng lúc nhúc như vắt đầu mùa mưa, làm sao lọt mà đánh, đánh xong rút đường nào? Mẫn điên tiết tính đổi mạng à?

Chị Biền kể rành rẽ như một anh lính lâu năm sau buổi lên bàn cát. Thằng Chinh con ưa bắt người vào đúng bữa cơm tối, khi ngoài đường đã vắng, ai ở nhà nấy đông đủ. Mẫn với hai cô nữa bó tiểu liên và lựu đạn trong gánh rơm nếp – nhiều nhà đã gặt lúa nếp- nhân lúc nhá nhem sẽ lọt vào căn nhà nát trước cổng đình. Út Liềm ở nhà khác gần đấy, đợi. Một chị nữa núp trong bụi rình. Khi nghe tiếng chửi mất gà báo lính ra, Út Liềm châm ngay cây đèn gió to như ngọn đuốc, chạy tới cổng đình, kêu có Việt cộng vô xóm. Chắc chắn tụi lính sẽ chặn hỏi Liềm, gọi cảnh sát tới nhận mặt. Liềm cố gắng dằng co sao đó để hai thằng Chinh và Thấn phải tới gần đèn, trước họng súng của tổ du kích….

Tôi nhăn trán, cố hình dung trận đánh rắc rối ấy. Một loạt câu hỏi nảy ra tới tới. Tôi vặn mãi chị Biền, không tin chị trả lời được, nhưng chị nắm rất chắc:

- Dân vệ nằm bên Nhơn Thọ, muốn bắt ai thằng Chinh phải tự đi, xóm đông lính nên nó không sợ…Đánh mìn ban đêm, làm sao giựt cho trúng con thịt lớn?…Đường tiến đường lui êm rồi, tôi lo hết, cây rào nhổ sẵn cắm hờ, rút qua xóm Giữa chớ dại gì chạy ra gò…Súng nổ, cả xóm đánh mõ la làng, nó đốt nhà thì ùa tới dập lửa….Lấy mủ mít dán hai con đom đóm trên đầu ruồi, lỗ ngắm, bắn gần xịt thôi mà….Tụi này quân dịch hết, thứ cá sơn cá chốt đó đâu dám rượt ban đêm….

Rốt cuộc, tôi phải nhận ra rằng Mẫn đã liệu hết các trắc trở có thể xảy ra. Tôi chỉ góp thêm một mũi dương công: nên đặt vài người nữa ở hướng chạy ra gò, khi tổ Mẫn rút thì họ nổ sung kéo địch về phía khác.

- Hay! Mà các ông đừng vô sớm, khua chó sủa rần, đám lính vụn nó hoảng, không dám ra là hỏng ăn đó nghen.

Đôi vai lực lưỡng, khúc gáy đỏ lủng lẳng búi tóc của chị Biền đã khuất sau bụi. Tôi vin một cành sim, rứt dần từng trái non trắng mốc, lật ngược xuôi mãi cái kế hoạch của Mẫn trong đầu. Lâu nay tôi truyền nghề cho Mẫn bằng giọng ông thầy lên lớp. Đến khi Mẫn tự xếp đặt một trận, tôi lại không hiểu nổi. Tôi chưa hề nghĩ đến kiểu hợp đồng rất khít giữa du kích nổi, di kích chìm với những chị Biền, em Liềm, lính ngụy đưa tin, với bà con cả xóm. Chị Biền còn phải nhắc chúng tôi đừng vào quẩn chân những người sắp đánh. Xấu hổ thật.

Anh Luân hỏi lần nữa

- Ngó bộ chắc ăn chớ, ông cố vấn?

- Hết chỗ bắt bẻ rồi.

Tôi nói cho tôi đỡ lo thôi. Tôi không tin còn đủ vô tư để xét việc làm của Mẫn. Đôi mắt sâu của anh Luân lấp láy. Anh lấy giọng như người cha sợ con nghe lời khen:

- Lão thấy chưa? Đâu xa chẳng biết, mấy xã quanh đây khó kiếm được một đứa như nó. Bình thi đua dạo đầu năm, con nhỏ tráo qua tráo lại sao đó, đẩy thằng Ri lên huyện, lãnh được có một giấy khen diệt tám ngụy, cay không. Mình truy gắt, nó mới thú thiệt: cấp trên hay ưu tiên cho con gái, nó sợ đưa miết lên tỉnh, khu, Trung ương, phải đi họp thi đua cả năm mới về, bỏ việc chẳng ai làm. Nghe tức ói chưa! Chị Tám Giàu về hỏi, phải chi nó khai đầy đủ cho giới phụ nữ họ mừng, đây nó kêu quên hết. Sắp du kích tính giùm nó được có ba ác ôn, mười bảy ngụy, hai Mỹ, còn đánh chung cả đội thì chia phần nó đâu được chục ngụy nữa, là hà tiện tới chữ rồi. Vậy mà nó còn cãi bướng: “Cháu lượm hai thằng công an trên đường cái đen, lấy súng, cũng có chị em rình mỏi mắt, có anh em yểm hộ, cháu giành hết thì họ đi chơi không à? Cháu cộng thành tích ăn chung đổ lộn, trên mới thưởng cho xã cái huân chương đó chớ!”. Nó cãi ngang xương, mình lý cả buổi không xuôi, chút nữa nổi khùng. Vậy mình mới nhắm cho lão, tay non cầm cương nó đâu nổi….

Tôi lảng vội:

- Chị Biền giỏi thật, nói như anh tác huấn lành nghề.

- Chưa biết à? Trung đội trưởng du kích hồi chín năm, dẫn quân đi dự chiến phía Bà Ren, Trà Kiệu miết đó. Tù hai năm, bây giờ một nách năm con, nuôi cả anh chồng bị xã Chinh đá giập phổi, cực ớn. Trên đồng ý cho kết nạp đơn tuyến rồi, chưa kịp làm lễ. Địch xúc dân qua bên Mỹ, chị ta cũng theo tới đất Mỹ làm cách mạng, nói cứng vậy đó. Lão thấy chị ta cà rà mượn súng, nhớ đuổi đi thiệt xa nghen, còn ngứa nghề du kích lắm, lộ mặt thấy bà!

Anh đặt túi dết kê đầu, nằm trên cỏ, phủ khăn che mặt. Anh tập được cái nết ngủ rất hay: ngủ say mà không ngáy, nghe tiếng động khác thường là mở mắt tỉnh liền, định ngủ một tiếng thì đúng một tiếng anh dậy, hơn kém chỉ vài ba phút. Anh còn làm chủ được tất cả các đòi hỏi của thân thể: Ăn, uống, ho, đái, ỉa, chỉ trừ căn bệnh thấp khớp là không trị nổi. Im một lát, anh bỗng nói trầm ngâm như nói một mình dưới tấm khăn:

- Lão hỏi đố sắp du kích thử coi: Ai dám đổi mạng, giết cha con xã Chinh rồi chết luôn? Ít nhất một nửa tay xung phong, mình đoán vậy, mà số đông là dân làng Cá, Cái làng thiệt kỳ lão à, một làng hơn hai chục họ khác nhau, hồi Tây Sơn giành ruộng với họ Võ dưới Lộc Chánh hay lắm, lúc rảnh lão hỏi cho biết.

Anh thiếp đi.