Mẫn và tôi - Chương 11 (phần 1)

 

Cùng lứa tuổi ấy, nếu sinh làm con gái rốt trong một nhà đủ cha mẹ, anh chị và không quá túng thiếu, Mẫn có thể là một trong những cô Út tôi quen, nhí nhảnh líu lo, ưa làm nũng nhưng cũng thích vâng lời, nhảy chân sáo theo cách mạng như đi chơi hội. Mẫn khác họ. Mẫn là chị Hai trong một gia đình cán bộ rất nghèo, bị giặc phá nát, bước vào trường đời ở một xã bị chà xát nặng. Cho đến nay, Mẫn cứ thèm được chơi đánh ô đánh thẻ, được tập thêu đan bằng hai bàn tay nhiều chai, nhất là thèm học chữ.

Cây cột nhà Mẫn có một vết rựa chặt rất sâu, đất nhét kín mà mép còn rõ. Cha Mẫn giữ trâu bầy cho xã Chinh hơn mười năm, trầy trật mãi mới quăng roi vất nón được, căm lắm. Khi nghe con đầu khóc lọt lòng, ông chém cái rựa vào cột, chắc định thề câu gì rất độc, sau chỉ nói: “Nín con, sợ cái gì, tao chết đói còn hơn cho mày đi ở”. Hồi đánh Pháp, huyện này nằm trong vùng tự do, nhưng cha Mẫn ham tiếng súng hay đi xa, hết dự chiến Điện Bàn, Hòa Vang lại đưa dân công lên Tây Nguyên. Ông làm thôn đội, mù chữ mà say việc, tánh nết như đá lửa, rình sâu con mắt mới tóm được tài liệu Quần dài đen(1) trong rương xã Chinh. Sau Giơne hắn bắt ông lập tức, đánh chán tay mới lập hồ sơ đưa đi Côn Đảo.

 

(1) Quốc dân đảng

 

Năm ấy Mẫn mười tuổi. Mẹ kêu Mẫn lại, nói nhỏ:

- Cha bị tù rồi, con ráng giúp mẹ chút.

Việc đồng việc nhà Mẫn đã làm được gần hết. Mẫn giúp mẹ việc mới: đem cơm và đưa tin cho bác cán bộ nằm hầm sau vườn. Bác này đổi vùng hay đi đêm bị phục, bác khác tới. Khi đứt khi nối, hai mẹ con giữ mãi mối dây còn lại của cách mạng. Địch nghi, soát nhà xăm đất, bắt nhiều lần, giam đánh chán nó lại thả về để cho đứa rình tới mòn gốc lựu đầu hè. Kệ nó. Ba Tâm với Út Hòa không được dính vào: Tâm là con trai một, Hòa nhát gan.

Tới năm 1961, Mẫn bị bắt ở chợ An Tân với hai ngàn viên thuốc sốt rét clô-rô-kin trong người. Đòn gần chết. Mẫn được một chị chung buồng giam cởi trói, lội ruộng băng gò bốn đêm tới Tam Sơn, vùng giải phóng đầu tiên ở ven núi. Mẹ Mẫn ở tù thay con, chế độ địch nó vậy. Mẫn được đưa vào đội võ trang công tác Tam Sa mới lập, chú Tám Liệp làm đội trưởng. Các chú xân xiu(2) với điều lệ, kết nạp Mẫn vào Đảng khi mới mười bảy tuổi, lấy bảy năm công tác bù chỗ thiếu tháng. Các chú còn tống liền liền cho hội đồng xã mấy lá thư cảnh cáo, lá cuối cùng không đúng chính sách nhưng dễ lọt tai hơn cả: “Bây giết gia đình có người theo cách mạng, tụi tao giết gia đình bây, liệu hồn!”. Mẹ Mẫn và mấy người bị bắt nữa được thả rất nhanh.

 

(2) Co giãn, linh động

 

Đó là quãng đời vui nhất của Mẫn.

Mẫn được đánh giặc. Ta đây, địch kia, không còn gượng chào “ông cảnh sát” khi nó sắp treo mình lên xà nhà. Những thằng cấu xé chà đạp nhà Mẫn, hút máu cả làng, nối nhau giãy đành đạch đòi ăn cơm cúng, hoặc “em lạy chị Hai” suốt dọc đường về trại cải tạo. Bấy nhiêu đủ là hạnh phúc lớn rồi, huống chi bà con gặp đâu ôm đó, huống chi Mẫn còn được học đủ thứ, được anh em coi ngang hàng, được sống gần chú Liệp để chú bày vẽ cho từng chút.

Mẫn thương và phục chú hơn hết.

Chú Tám được cảnh nhà đủ ăn, chữ nghĩa hồi xưa tới cái rime(3) là cao lắm. Dạo đánh Tây chú làm văn phòng huyện, sau về làm chánh văn phòng xã cho gần nhà, kình nhau với ông chủ tịch sao đó chú bỏ việc, nể lời bạn chú vào ban thông tin xã, dựng được đội văn nghệ cũng khá. Bà con coi chú là người có tài, ăn ở cũng mềm mỏng. Các bạn ưa tính chú rộng rãi, cởi mở, dám chơi hết mình, chỉ tiếc chú hơi “tài tử” trong công tác. Chú buồn vì bị ép lấy bà vợ già, không con, hay đến chơi nhà Mẫn, nửa đùa nửa thật nhận ba chị em Mẫn làm con nuôi. Gần tới đình chiến chú được kết nạp Đảng, nghe đâu chi bộ hồi đó bàn cũng lâu mới ừ.

 

(3) Bằng tốt nghiệp tiểu học.

 

Địch tới, bắt giam chú chừng nửa năm rồi thả về. Chú không khai báo, có lẽ cũng không biết gì bí mật mà khai. Nhiều người nói nhà chú bán trâu đút tiền cho hội đồng nên được ra tù sớm, khỏi bị xếp loại tình nghi can cứu và treo bảng cô lập, đi lại làm ăn cũng dễ. Giữa hồi điên đảo, chẳng mấy ai để ý cái vặt ấy, giữ mình được như chú là khá rồi.

Vợ trước chết bệnh, chú lấy thím Liệp bây giờ, sắc sảo mà biết điều, buôn giỏi có hạng. Chú biết nhà Mẫn nghèo xác, bị cô lập mà cứ nuôi cán bộ, thỉnh thoảng lén giúp gạo tiền. Mẹ Mẫn đưa chú một thư móc mấu của bác Bảy quai nón, chú nhắn trả lời: “Cơm chưa ăn thì gạo còn đó, xin cho tôi lắng xuống ít lâu, tụi nó bớt rình đã...”. Mỗi lần mẹ Mẫn đi tố cộng hay bị giam, chú đón cả ba đứa nhỏ về nhà, tụi dân vệ nể chú cứng lý và sợ thím đòi nợ nên ít dám gây sự. Chú đặt tên chữ, Mực, Tôm, Hến đổi thành Mẫn, Tâm, Hoà. Thím Liệp đẻ mắn, chú mừng có con mà vẫn chăm nom chị em Mẫn.

Đứa trẻ yêu cha đến mấy cũng có lúc phảng phất thấy cha thương con là sự thường, đẻ ra ắt phải thương. Chú Liệp là người dưng mà ăn ở vậy, Mẫn càng biết nghĩ càng thấm ơn chú. Mẹ Mẫn cũng dặn các con coi chú như cha nuôi, lớn lên trả nghĩa sao cho phải, chỉ tiếc một nỗi chú có bề thủ phận.

Sau cú đảo chính hụt năm 60, một đám tề mới nhảy lên, chống cộng dữ tợn, trị cả bọn “tề mềm” vừa đổ. Chú Liệp bị bắt lên căn vặn về khoản đảng viên cũ, xem chừng chúng muốn khảo của là phần nhiều, nhưng chú biết muốn yên cũng khó yên được nữa. Ta đánh gắt, địch càng thua càng giận cá chém thớt, mạng chú e khó giữ. Chú dựa mấy tay quen, xin được cái giấy đi Sài Gòn làm ăn, khó biết chú muốn che mắt địch hay tính chạy trong(4) như một số khác. Nấn ná ít lâu nữa, tới khi tụi ác ôn đem hai “đảng viên cũ ngóc đầu” ra cắt cổ giữa chợ, chú mới chào bà con đi buôn xa, và “nhảy núi” theo mối dây của mẹ Mẫn.

 

(4): Chạy tránh khủng bố ngay trong vùng địch kiểm soát.

 

Bác Bảy quai nón cử chú lập đội võ trang công tác Tam Sa, chú xin hoãn vì sức yếu, tạm giúp việc ở văn phòng huyện. Thật ra chú chưa muốn lộ mặt vì sợ địch biết chú không đi Sài Gòn, trả thù vợ con. Khi biết mười mươi là thím Liệp với các cháu đã bị quy khu(5) gần chợ An Tân, chú mới nhận làm đội trưởng, chọn được sáu bảy anh em vào đội, theo đà vùng giải phóng mở rộng mà dời lần lần về gần Tam Sa. Anh em thương chú, nhân một đợt vêtêba(6) vào chợ An Tân đã đưa hết gia đình chú lên vùng ta, cõng cả máy may, gánh bốn gánh hàng buôn của thím Liệp. Cả nhà gặp nhau, mừng khóc ròng.

 

(5): Bị địch dồn vào một khu riêng, dành cho gia đình các “phần tử nguy hiểm”.

(6): Võ trang tuyên truyền.


Mẫn thoát tù lên, gặp lúc đội chuyển về Tam Trân mới giải phóng, được ở với chú thím và các em, vui hết chỗ vui. Mẫn giúp thím Liệp dựng quán ở phố chợ Ngọc Lợi, ríu rít với mấy đứa nhỏ cả ngày, chú thím thương xuống và Mẫn thương lên, rất tội. Thím Liệp sẵn vốn, sẵn bạn buôn cũ ở An Tân và Tam Kỳ, đặt hàng gì có ngay hàng ấy, chở bằng ô-tô hay xe thồ đến tận cửa. Thím coi cả đội như con em trong nhà, thiếu áo thím may cho, bị thương bị bệnh thím nuôi cả tháng, chưa lành thím chưa cho đi. Bạn chú Liệp ở huyện và các xã khá đông, qua Tam Trân hay ghé thăm, thím bận mấy cũng đón niềm nở. Địch càn lên vài tháng một lần, chú đi lánh, thím ở lại đấu lý với chúng không cho cướp quán, gang thép lắm. Chú Liệp lãnh đạo anh em rất sâu sát, có tình, lại giỏi sắp xếp nên việc gì cũng chạy ro ro. Làm ruộng tự túc vượt mức, học quân sự chính trị đều, học được cả văn hóa nữa là chuyện ít có, giúp dân cừ, văn nghệ nổi... có rất nhiều tiếng khen về đội Tam Sa.

Chỉ có một mặt đội không được khen mà còn bị chê: bám dân đánh địch kém. Ác cái nó lại là mặt chính. Thiếu nó, đội chỉ còn là một nhóm bà con lánh nạn, đùm bọc nhau mà sống qua ngày.

Huyện thấy chỗ yếu đó, nhắc, giục. Dần dà Mẫn cũng thấy, anh em trong đội thấy. Các xã khác giành chính quyền rầm rầm, Tam Sa vẫn bị kẹp ức lắm. Đội đã mạnh, gồm năm cán bộ, mười một du kích, chi bộ được sáu đảng viên trong đó Mẫn là em út. Bấy nhiêu người mà vẫn giữ mức mỗi tháng vài chuyến thậm thụt về xã, vào những đêm không trăng. Mẫn với mấy người nữa bàn với chú về bám xã, đào hầm nằm trong ấp mà phát động bà con nổi dậy, không cũng ở loanh quanh vùng gò đánh vào. Bác Bảy về thăm đội vũng nói vậy. Bác đi rồi, chú Liệp mới khuyên nhỏ nhẹ:

- Bác nắm cái chung, phải nhắc chung vậy thôi. Xã mình khác. Nằm ngay chỗ cuống họng địch, đường cái đen cắt đôi, động đậy một chút là quân nó kéo tới đen đất chật trời, gay lắm. Bây sốt ruột một, tao sốt ruột mười kia chớ. Có điều, làm cách mạng mà không nắm cái anh thời cơ, không tính tương quan lực lượng thì coi như thí mạng. Thời cơ nào à? Giả như chủ lực mình đánh vô Tam Kỳ, An Tân, địch đổ về giữ hậu cứ, nó vãi đất vãi dân ra mình hốt không kịp. Giả dụ nó đảo chánh, nó ly khai nhau, thiếu gì lúc ăn ngon... Nói cho cùng, nồi đồng sôi nồi đất cũng sôi, các nơi giải phóng hết thì Tam Sa cũng giải phóng, lo gì!

Rồi chú nói bùi ngùi:

- Tao thương là thương tụi bây tốn xương máu vô lối... Mà tụi bây còn dễ, chớ đồng bào mình như cá trên thớt, mỗi lần đổ bể lại bị bắt bị giết cả mớ, nổi oán cán bộ làm ẩu, đâm chờn đâm nhụt. Thì bây coi Tam Thắng đó, hồi bí mật phong trào cứng biết mấy, khởi non một keo, bây giờ cán bộ tới đâu dân đánh mõ la làng tới đó, đuổi như đuổi tà... Dục tốc bất đạt. Cứ xây dựng đội cho vững đi đã. Nuôi quân ba năm, dùng quân một ngày, tới hồi đánh bây phải đánh long trời lở đất kia!

Lần khác, chú kể những gương kiên nhẫn chờ thời hồi trước cách mạng tháng Tám, hồi đánh Pháp ở vùng tạm chiếm, gần đây nhất là hồi chưa đồng khởi, kèm theo đó là những vụ nóng mũi làm ẩu, chết mình mà còn hại dân, rã phong trào. Lý luận chú có thừa, mẩu chuyện sống cũng rất giàu. Mẫn và số anh em đòi đánh chỉ còn trách mình cạn nghĩ.

Rồi cái băn khoăn ấy lại trỗi dậy khi Mẫn được học một lớp đảng viên trẻ mười hai ngày ở huyện. Lần đầu tiên trong đời, từ khi biết đem cơm cho cán bộ nằm hầm, Mẫn tập suy nghĩ bằng bộ óc của mình. Qua rồi cái thời làm công tác chỉ vì thương mẹ, vâng lời chú, bắt chước các bậc đàn anh: thời ấy rất đẹp, nhẹ nhõm nhưng không chút gợn, hết sức dễ thương, nhưng vẫn là tuổi thơ ấu của mỗi cuộc đời cách mạng. Từ nay đồng chí Mẫn phải rèn mình theo điều lệ, làm việc theo nghị quyết, phải tự tìm thấy cái đúng cái sai ở mình và ở mọi người, gay nhất là phải góp sức làm cho cái đúng thắng cái sai. Mẫn rất hoảng khi càng học càng thấy chú Liệp sai. Những cái khôn một xu không đủ bù chỗ dại một đồng được gọi là co thủ. Vì sao chú làm vậy, Mẫn không biết, chỉ đoán là chú ở xa cấp trên, chú bận luôn không được học, chú thương đồng chí đồng bào chưa phải cách, vậy thôi.

Về tới đội, Mẫn gặp riêng chú Liệp, kể rối rít một lô cái mới vừa được nghe. Chú gật gù uống trà, tủm tỉm, sau cốc trán Mẫn một cái:

- Chánh trị đầy mình rồi! Ngang lưng thì thắt phương châm, đầu đội chánh sách, tay cầm chủ trương... Hồi trẻ chú cũng bốc máu như cháu, hơn cháu nữa, con trai mà. Chừng vô việc mới thấy khó cay khó đắng, vấp nhiều cú trẹo vai sái hàm, té ra cuộc đời nó hóc hiểm lắm cháu à. Ngay bây giờ chú mở lớp cho anh em cũng phải nói ào ào như bác Bảy chớ, phải thúc đẩy hết mức, tới hồi họ làm được bao nhiêu thì hay bấy nhiêu, tùy sức họ thôi.

Thùng nước giội êm đấy, vẫn là thùng nước lạnh.

Mẫn cãi không nổi, vẫn ấm ức. Gặp lúc họp chi bộ, Mẫn đưa chuyện bám dân đánh địch ra, được Năm Tuất vun vào, bị một đồng chí bác và giễu, một nửa “lừng khừng, coi chừng đổ bể”, tới chú Liệp kéo ngay qua việc khác, coi như ý trẻ con chẳng cần bàn mất thời giờ. Sau đó chú gặp Mẫn, lắc đầu “Thiệt là nai tơ chưa nếm mùi bẫy kẹp!” Coi như Mẫn đạp vỏ chuối keo thứ hai.

Tới hôm chi đoàn và du kích họp chung, Mẫn lại gợi, gần hết rất ưng, cử Mẫn với hai người nữa “vận động chú đội trưởng”. Chú cười, khen anh em hăng, hứa sẽ xét, cho Chín Cang và Năm Ri về trước, giữ Mẫn lại mắng cho một trận tơi bời. Hỗn, con sứa đòi nhảy khỏi đăng, lau mũi chưa sạch mà chực dạy người đã đội hai tấn thép trên đầu. Chưa bao giờ Mẫn thấy chú giận đến vậy. Mẫn khóc hu hu, chú dỗ, chú cháu tạm làm lành.

Nhưng vết nứt không hàn được nữa.

Phải nói rằng chú Liệp và những người không muốn bám xã cũng có cái lý của họ. Hồi đó ta đang đụng kế hoạch Xta-lây Tay-lơ, khá mệt. Ngay Tam Trân cũng bị càn dồn dập, trực thăng chụp, xe xích rạch ngang xé dọc, địch líp lại mất hai thôn dưới. Bác Bảy nói địch bỏ hở sau lưng, vùng sâu khởi được, nhiều người cứ nửa tin nửa ngờ. Đội cử mấy đồng chí về đào hầm bí mật, đi vài lần thì trúng phục kích, hy sinh một. Đi đường khác, lại phục, Mẫn bị thương nhẹ. Một đồng chí huyện ủy kéo cả đội xuống Tam Sa phá ấp rầm rộ mấy đêm, mìn nổ chết hai người, ngay đồng chí kia cũng bị gãy cánh tay. Mỗi lần đội gặp nạn, chú Liệp lại lo nuôi anh em bị thương và chép miệng: “Đã nói mà...”. Bà con Tam Sa lên thăm đội, đòi đánh nhiều mà khuyên đừng đánh cũng không ít: “Để vắng lâu lâu đã, bây gặm kiểu đó uổng mạng mà đồng bào chết lây”. Bởi vậy Mẫn ít oán riêng chú Liệp chỉ tức chung luồng gió trái cản con thuyền.

Vào hè, có những đêm trời hầm, người bứt rứt khó chịu lắm, ấy là khi “cái bấc cái nồm chống nhau”. Mẫn trải qua nhiều đêm bấc nồm như vậy, với những dấu hỏi bò như vắt đói trong đầu. Tại sao mình lại nghĩ khác bao nhiêu đồng chí trải đời hơn? Hay là mình kiêu, chơi trội, yên hùng lẻ? Điếc không sợ súng? Cho dù mình đúng mười phần đi nữa, có nên đưa đầu chịu báng mãi vì nói cái đúng không? Nếu sau này truy ra đội sai, chi bộ sai, thiếu gì người lớn chịu trách nhiệm, ai trách tới con nhỏ này mà lo? Mà muốn trách cũng chẳng trách được, mình đã trình bày khắp nơi rồi, bị gạt đi rồi, lỗi đâu tại mình? Mấy nơi muốn rút mình, nên bỏ đi quách, ở đây làm được cái gì? Về phụ nữ huyện, đi học y tá, chuyển qua mậu dịch, thiếu gì việc vừa sức hơn, chị em đông vui, xa bom đạn, lại tránh được những va chạm mệt mề? Chờ được vạ thì má đã sưng....

Tới đó, một câu trả lời rất ngắn từ đáy sâu trong hồn cô gái hiện lên bằng chữ lửa: “Mình là đảng viên”. Mình vào Đảng để làm cách mạng và rủ người khác cùng làm cách mạng. Mình vào Đảng không để kiếm chác một chút gì hết, chỉ để hy sinh nhiều hơn. Mình không hề sợ địch, sao lại sợ những lời mắng hay giễu của người thân hiểu lầm? Mình đã dám lãnh thêm cái khổ cái chết khi đòi về bám xã, bây giờ phải bám giữ cái đúng, chống cái sai, tới đâu thì tới! Mình trách những người bỏ chiến đấu chạy dài, nếu mình tìm nơi yên ổn mà trốn thì khác gì họ!

Qua mỗi giờ dằn vặt như vậy, Mẫn mệt và thấy mình khỏe thêm. Chú Liệp lạnh mặt, thím Liệp nói cạnh khóe, mấy anh em khác châm chọc “muốn làm lãnh tụ mà không ai bầu”. Mẫn đau ít thôi. Chai da lì đòn mà. Số đồng chí thấy Mẫn đúng cứ tăng dần. Các cuộc họp chi bộ và đội ngày một găng. Chú Liệp báo cáo lên trên là Mẫn phá đoàn kết nội bộ. Chị Bỉnh ở Tam Trân quí Mẫn cũng hỏi: “sao họ kêu mày đá lung tung?”. Mẫn chỉ cười trừ. Hột đậu có nứt, cái mầm mới lên thành cây được.

Hồi ấy cơ quan huyện dời ra cách Bắc đang mở(7) mạnh, ít có cán bộ về Tam Trân, Tam Sa. Nhưng, thật khó ngờ, cái sức ép bắt chú Liệp chuyển lại đến từ vùng bị kèm kẹp.

Không bị quấy rối, tụi ác ôn Tam Sa thả sức làm mưa làm gió, hạng chót như một thằng liên gia trưởng cũng dám đánh người nã của. Dân vệ xã lên tới một đại, chưa ăn đạn nên rất hăng đi phục kích kiếm tai cán bộ lấy thưởng. Dân la trời nhất là cái ấp chiến lược hai sông ba núi. Nhà giàu mất ruộng, nhà nghèo mất cả ruộng, nhà, vườn, công làm ăn. Bà già sáu mươi còn bị bắt đeo mõ cầm đèn đi gác. Nhiều người phải dỡ nhà lấy tre nộp cho đủ số cây rào. Đi kẻng về kẻng, gánh phân vòng rào mỗi buổi chỉ được hai gánh đổ ruộng, đất phải bỏ hoang một nửa trong khi con nít khóc đói... Bà con Tam Sa lén lên tìm đội, thúc phải đánh...