Mẫn và tôi - Chương 10 (phần 2)

 

Nhờ không ngớt “vừa báng vừa mài sừng”, đội du kích vẫn hăng sau ngót nửa tháng bật ra khỏi làng, tránh được cái nạn mỗi người một võng nằm thở dài sườn sượt như tôi gặp ở vài nơi. Cô Rốt chị có giọng đàn ông và cậu Sung cao kều được vào Đảng, bảy anh chị em nữa vào Đoàn, ai nấy đều thoải mái cả. Phải cái sức khỏe xuống nhiều. Bụng đói mà suốt ngày không ăn được, “cơm ứ, nước ừ”, chỉ còn bữa khuya bà con mời trong xóm là chén đẫy bụng. Khắp người nổi sẩy, sẩy biến thành những mụn con đỏ lấm tấm, rồi giữa vạt mụn nẩy cái nhọt cứng, nóng và rất đau. Mặt hóp và đen, nổi lên toàn là răng vêu và mắt thô lố. Bà con các ấp ra thăm cứ la trời anh em cực quá, riêng tôi hay bị trỏ ngón tay nhất: “Thì coi thằng Thiêm đó, bộ đội nuôi nó mập trắng mập mềm, về ta mới mấy bữa hóa con cóc đen!”. Tất cả của ngon trong làng theo ngõ tắt kìn kìn đi tìm chúng tôi trong những ngày đầu, rồi cạn dần. Đang lúc giáp hạt, thêm bị bắt đi rào ấp, bị tụi lính cướp ngày trộm đêm, số lớn bà con than thở một lát rồi dặn chúng tôi cứ đến vạt sắn, vườn dưa bở, chỗ đặt nò tôm, kiếm được gì ăn nấy. Đội du kích lại đông lên vòn vọt. Ít thầy đầy đãy, nhiều thầy chia bảy chia ba, nồi cơm của chúng tôi bây giờ mỗi lát khoai khô chỉ cõng được năm ba hột cơm gọi là có. Gặp hôm hụt bữa chúng tôi đem cô Chín Cang ra trêu để “thêm phần lạc quan tin tưởng” bởi cô vẫn trắng và tròn quay như khúc sắn luộc, chỉ ước sao cho xuống bớt ít cân cho dễ chạy và nhỏ bớt mục tiêu.

Cái thú ngâm mình dưới sông Rù Rì phải tạm dứt. Như chim gõ kiến, tụi trực thăng rỉa đại liên vào từng hốc đá bên bờ hiện ra dưới gió cánh quạt, trúng một cậu núp khá sâu. Chúng tôi dời chỗ vài lần, nay về đóng chung quanh giếng Tiên. Một con suối cạn phơi lòng đá trắng mốc còn giữ lại một giếng nước mạch rất trong, mát lạnh, nắng mấy cũng không cạn, chẳng của tiên thì của ai nữa. Chỉ tiếc rằng nàng tiên nào ấn gót sen thành giếng lại có bàn chân nhỏ xíu, nên cứ nửa giờ giếng mới rỉ đủ nước cho một người tắm hà tiện, giá được một vó ngựa Phù Đổng thì hay hơn. Tôi thử tính, thấy đây là cái giếng tiên thứ tư đã gặp.

Những làng quê ta rải dọc miền trung, nằm giữa núi cao biển rộng, bao giờ cũng có một giang sơn thu nhỏ bên mình như chơi non bộ. Làng Cá này chẳng chịu kém ai. Con suối nhỏ có những bông bạc vẫy người kia được đề bạt vượt cấp lên sông. Núi Chúa chỉ là một trái đồi nhỉnh hơn đám bạn bè đôi chút, trên đầu chứa một chỏm rừng cấm. Nếu nó lùi về Tây chừng mười cây số thì mất ngay tên Chúa, cũng không ai gọi là núi nữa. Tôi qua lại vùng gò hoang nhiều lượt, gần đây mới biết dọc đường có tới ba cái đèo, riêng một cái được thổi phồng là đèo Trâu Lăn, nghe mà dựng tóc!

Dù đã quen cảnh mến người, tôi vẫn thấy cần đi nơi khác.

Tôi biết mình là đứa hay sa đà, dễ bị những xúc động một lúc cuốn xa công việc chính. Ở với xê mình không sao, nhiệm vụ với tình cảm cứ xoắn vào nhau như hai tao(3) đánh thành một sợi dây. Khi đi lẻ mới phiền. Áo, quần, thuốc, gạo, gặp ai quá thiếu tôi trút dần ra cho, sau đó lạnh run không có mặc, ốm không có thuốc, đói chảy nước miếng trong. Về xã gặp việc gì cũng ham, cũng lao vào, từ dạy hát cho các em đến kẻ khẩu hiệu phòng bệnh, được bà con khen đấy nhưng giờ nghỉ mất sạch. Bậy nhất là chuyến chuẩn bị chiến trường năm kia. Tôi đưa một tổ về ở xóm gần đồn 96, sửa soạn cho xê mình một đòn hốt xe tiếp tế. Địch càn, chúng tôi rút, bị một ông già mắng: “người ta tay không đánh giặc, các anh súng ống đầy mình mà chạy cong đuôi vậy à?”. Cả tổ cùng nổi tức khí, đằng sau quay, đánh suốt buổi, hạ mười ba khiêng địch. Tôi với một cậu nữa bị thương, phải về đơn vị để lãnh thêm một keo vò đầu rất đáng kể.

 

(3) Sợi con(để bện chão)

 

Cuối lá thư gửi về H.68, tôi viết xin chuyển ra Đà Nẵng, cũng để tránh một chầu sa lầy mới. Lý sự vững chắc lắm nhé. Được giao tìm hiểu Mỹ, lại đụng đầu với Mỹ hoài. Dù muốn biết thêm về ngụy cũng không nên ở đây: cả miền Nam thắng như chẻ tre, riêng Tam Sa lui về cái thời làm ăn rị mọ(4) trước đồng khởi, còn điển hình chỗ nào. Ai dùng đến kinh nghiệm chống líp của xã này, khi quân ta đang vây các thành phố? Và mấy nơi đã mắc những rắc rối trong hàng cán bộ như đây, để hỏi nên gỡ rối cách nào? Tôi cuốn gói là phải. Đà Nẵng là nơi tôi thuộc kỹ từng phố nhờ những đêm đạp xích lô, nơi tôi quen với lớp trẻ nhiều, trẻ thích chụp ảnh hơn già. Đà Nẵng ngập dưới dòng thác lính thủy đánh bộ Mỹ ùn ùn đổ vào. Đà Nẵng ù tai choáng óc vì phản lực Mỹ ngày đêm lên xuống, Đà Nẵng hừng hực khí thế muốn nổi dậy...Tôi tự thuyết phục mình rất hăng, nhằm cố gỡ những ngàn sợi tóc đang buộc tôi vào mảnh đất và nhóm bà con đang một lần nữa mắc cạn. Tôi cũng sờ sợ khi nhận ra mình thương Mẫn nhiều quá. Phải chi Mẫn là con trai thì hay biết mấy, chúng tôi có thể thân nhau hết mực mà không bao giờ vượt qua tình bạn...

 

(4) Mò mẫm, tủn mủn

 

Khó tưởng được cái sức bền dẻo lạ lùng của Mẫn. Mẫn làm và học chung với đội du kích, còn bận thêm trăm thứ việc không tên của người thay mặt chi ủy và ủy ban nắm xã đoàn, xã đội, còn giữ vai người chị Hai thu vén tuy không lớn hơn anh em là bao. Tôi không biết cái võng của Mẫn là cũ hay mới, bởi Mẫn luôn ngủ sau dậy trước. Đi bắn tỉa hay phá ấp về, Mẫn đợi anh em nắm hết mới đi tắm giặt một mình, chớp mắt một lát đã dậy nấu cơm. Cánh con trai ngáy giòn đến khi nước uống rót đầy ống, cơm bày sẵn, tắm xong lại cởi áo rách ném nhờ chị Hai vá, gạ chị Hai bắt ốc hái rau, lén xé sổ tay chị Hai quấn thuốc hút, đủ trò. Mẫn chỉ cười cười trong khi các cô trẻ nổi cáu.

Mẫn hay nhờ tôi bày thêm một ít lý thuyết bắn máy bay và các công thức tính lượng thuốc nổ phá cầu, phá lô-cốt. Tôi ngả lưng, vừa quạt vừa giảng bài. Mẫn ngồi ghi trên đầu gối, mồ hôi đọng từng giọt bằng hột đậu trên mũi, cây bút bi chịu nóng không nổi cứ trào mực ra giấy và tay. Đôi lần tôi mệt quá thiếp đi nửa chừng lát sau mở mắt thấy Mẫn đang may cho con nuôi cái áo bằng vải cũ, hoặc chỉnh riêng một cậu lén bắn gà rừng giữa lúc thiếu đạn. Mẫn cùng anh em gọi đùa tôi là thầy Thiêm, và không hề giấu vẻ mặt tủi tủi khi tôi nói muốn đi nơi khác. Cái buồn lộ liễu của đồng chí muốn giữ nhau, vậy thôi.

Nhiều tiếng nổ to đánh thức tôi dậy. Pháo bầy bắn lộn xộn.

Tôi nghiêng đầu, lờ đờ nhìn qua mép võng. Cái gì cũng khang khác. Tôi nhắm mắt, lại mở, nhận ra chỗ khác ấy. Da trời ngả màu xoài chín, lá cây vàng như giữa thu, ở cuối võng hòn đá trắng tôi đặt ba-lô cũng nhuộm nghệ, tựa hồ một cơn nắng quái chiều hôm đang phủ ánh vàng ủng lên mọi thứ. Tôi chống tay ngồi dậy, thấy trong đầu có một viên bi sắt của xe tải, hai vai nhức như vừa rán cõng gạo thi với một cậu miền núi... Tôi lên cơn li bì hệt một chú lính mới bóc tem, không phải ngây ngấy dun dún một lát rồi hết như lớp kỳ cựu đường rừng đã chai ra với loài muỗi chổng mông trên trời. Con ma sốt vừa làm một chầu truy lĩnh. Bây giờ tôi đang nhìn trời đất bằng cặp mắt đẫm kí ninh vàng, tuy rất thèm được một viên vỗ vào miệng mà nhai rau ráu.

Lại nổ nữa. Sét, không phải pháo. Trên gò sỏi khô trụi, tiếng sét dội rất sắc và giòn, như bình thủy rơi xuống nền nhà. Mây đen đằng Tây đùn lên nhanh, gần đến mặt trời. Lát nữa mưa cầm chắc. Tôi lập cập mở tấm nhựa ba thước ra căng trên võng, rồi vịn cây lần tới giếng, xương ống chân lún vào bàn chân mềm nhũn, khá đau. Tôi rửa mặt, lấy góc khăn cọ lưỡi cho đỡ đắng miệng, vào lật xem mấy cái soong để bên võng. Ban nãy Năm Tuất cắt người ở lại trông nom, tôi gạt đi, sau Chín Cang nấu bữa tối để sẵn cho tôi, À, rất khá, một soong cháo hành to ăn với cá ngừ kho tiêu. Nhờ trời, tôi sốt nặng mấy cũng ăn được nên ít mất sức, anh em xê mình hay trêu: “Hừ ừ ừ..nấu cho tao...hừ ừ..vài lon gạo cháo thôi..” Cháo còn nóng, mồ hôi túa ra làm tan cơn nhức đầu, người nhẹ hẳn.

Ai đó từ phía sông Rù Rì đi lên theo lòng suối khô, nhảy bước ngắn bước dài trên tảng đá. Một em gái nhỏ từ ấp ra tìm chúng tôi, vòng xuống sông tắm, lang thang tìm giũ chà là, giờ mới lên. Tóc xõa quá vai, áo lót trắng không tay, quần vo cao, tay phải bưng cái nón ngửa đầy chà là chín đen, tay trái bốc bỏ miệng... Tôi rửa xoong chén xong trở lại ngồi võng, thấy Mẫn đang đi tới. Mẫn chứ không phải em nhỏ nào cả. Huyện đóng tít gần chợ Cây Xanh, sao mới hai ngày Mẫn đã về. Và...làm lành với nhau như thế nào đây?

Mẫn đặt cái nón ngửa bên tôi cười:

-Ăn chà là đi anh. Buồn ngủ gặp chiếu manh, em đụng mấy bụi chín sớm...Chết cha, sao anh xanh dữ vậy?

- Trả nợ ông thần rừng...

- Mà sao anh Tuất không để ai ở nhà hết? Đêm hôm mưa gió, lỡ trúng pháo… Con Cang tới phiên trực cũng đi mất, tầm bậy quá!

Tôi xuê xoa nói lảng cho xuôi. Vậy là êm được bước đầu, khỏi ngượng ngập lựa lời bắt chuyện. Một lần nữa dáng người Mẫn khác hẳn đi: Bớt cây các-bin và cái mũ tai bèo, tóc xõa và kẹp đuôi vòng lên gáy cho ngắn bớt, để lộ hai cánh tay trần, trông Mẫn nhỏ lại như mười lăm mười sáu, cỡ Út Liềm.

Mẫn đi họp nhanh nhờ mượn xe đạp có đèn của chị Bỉnh, khúc ngoài kia đường tối, đạp ban đêm được, khi về còn kịp ghé huyện đội. Mới thấy mặt Mẫn các anh đã réo: “Nụ xoè, dây cháy chậm, kíp nổ, bày mâm tiếp khách đây!” Mẫn túm nhấc cái khăn tay đựng chà là, lật mấy lớp áo quần, giơ lên khoe một túi nhựa trắng đựng đầy những đầu nổ thủ pháo đúc bằng nhôm nhỏ rất xinh, tôi chưa hề thấy. Ưu tiên cho Tam Sa một ít hàng viện trợ đấy.

Phần tôi được hai lá thư. Tôi nhìn qua nét chữ anh Điển, đoán là giấy gọi tôi đi Đà Nẵng, bỏ luôn vào túi, nghĩ: “Sắp chia tay rồi, Mẫn ơi!”. Thư kia của anh Bảy quai nón, viết ngắn, bảo rằng huyện ủy đã trao đổi kỹ lời đề nghị của tôi – À, à chuyện ông Liệp đây – và thấy lúc này chưa nên vội. Cách chức một số cán bộ kém thì dễ, xóa bỏ được cái luồng tư tưởng sai mà họ gieo tràn lan mới khó, hãy đợi đến đại hội chi bộ tháng sau...Vậy là tốt rồi. Miễn là cấp lãnh đạo thấy rõ sạn rơi vào máy!

Thư anh Điển dài hơn, vẫn cái giọng tửng tửng, đôi lúc châm biếm theo kiểu cù không cười.

Báo cáo của cậu khá dài. Cậu giúp trên hiểu được tình hình mọi mặt trong một vùng Mỹ sắp chiếm đóng. Nhiều nhận xét sâu đúng. Đồng chí Mẫn nói cậu giúp địa phương hết mình, chi ủy Tam Sa đề nghị khen thưởng cậu, cái đó trên sẽ xét. Riêng mình thấy chỗ khác nhau giữa một phái viên chịu lao thẳng vô chỗ ác liệt, chung tay làm nên chiến thắng, với mấy anh chàng ưa xách gói đi khơi khơi, lượm những chuyện đồn đại ngoài rìa. Mình khuyên cậu nên cắm rễ tiếp ở Nhơn Ái, đánh địch, xây du kích, giúp củng cố nội bộ, đợi Mỹ vô.

Đưa cậu ra Đà Nẵng cũng có lợi, nhưng ít thôi. Về một xã vững ở Điện Bàn, Hòa Vang, cậu sẽ tươi phần xác mát phần hồn hơn nhiều. Khi xã lên báo cáo điển hình trong đại hội thi đua, cậu tha hồ tán thêm cho mọi người trầm trồ. Có điều tụi mình đã có nhiều phái viên nằng nặc đòi về theo dõi các lá cờ đầu, còn những nơi trầy trật sần sượng như Tam Sa thì chẳng mấy ai muốn tới, mà có tới cũng phê người ta hết hồn, báo cáo về đen thui. Anh em mình hay mắc cái tật đó Thiêm à, nhìn phong trào cũng như nhìn người, ai tốt sẵn thì xúm vào khen túi bụi, ai chưa thật tốt thì lảng, ngại tốn công giúp người ta ngoi lên, thích lượm sung chín hơn là bón gốc bắt sâu cho sung.

Chắc khi viết anh Điển gặp chuyện bực, có thể bực vì tôi muốn đổi chỗ, nên triết lý hơi nhiều ớt. Đoạn cuối lại viết rất thực tế:

Nhắc cậu đừng đánh bạc với tổng Giôn, nhớ gửi báo cáo đều, giữ gìn sức khỏe, trả đủ sinh hoạt phí cho địa phương.

Vậy là đề nghị thứ hai cũng bị bác luôn. Gãy vụn. Tôi cười một mình, ngó lần nữa nét chữ lởm chởm của anh Điển, chợt thấy một luồng mát rượi tràn qua người. Tôi ngẩng lên. Mẫn đang nhìn tôi đăm đăm, tay lơ đãng bỏ từng trái chà là vào miệng, màu đen làm nổi rõ môi tươi.

- Bao giờ anh đi?

- Sáng mai xin rút dù, chào xã đội!

Mẫn đang cầm que vẽ nhiều chữ thập trên sỏi. Tôi ước được thấy một nét cụt làm nên chữ T hoa. Không có.

- Số anh phải chịu cực hoài...hồi xưa đã đành giờ trở lại cũng gặp khó..công anh vun đắp miết, tụi em chưa giúp được anh gì, nghĩ thiệt mắc cỡ...

Mẫn hứa với anh Bảy sẽ giúp tôi bủa mạng lưới quân báo chung quanh Chu Lai, trao cho tôi một số cơ sở vùng cát, cho du kích dẫn tôi đi bất cứ đâu. Tôi không dám đùa dai, đưa luôn lá thư anh Điển cho Mẫn, chẳng có gì phải giấu, chống một ngón tay vào cằm, từng lúc chớm cười trên khóe miệng- lúc ấy trông Mẫn rất ranh ngầm- bật cười to khi đọc câu cuối, ngửa tay.

- Mỗi ngày hai chục đồng! Mấy khi gặp ông cán bộ lương to, trả gấp đôi lập tức!

Tôi bốc nắm sỏi thả vào tay Mẫn. Lâu nay tôi ép mãi Chín Cang mới chịu nhận nửa số tiền ăn tôi được cấp, còn lắc đầu chép miệng hoài vì đội du kích đang lúc đói, tôi sút cân trông thấy.

Một cơn gió xoáy đổ tới rất mạnh, cuốn lá khô và bụi lên mù trời. Gió nhám sì. Chúng tôi nhắm mắt bịt mũi đợi con trốt đi qua, phủi lá đậu trên người, ra giếng rửa. Đến lúc này Mẫn mới thấy mình vô ý, ngồi trước mặt con trai với áo lót quần xăn. Tay chân Mẫn thon đẹp mà cũng lạ mắt. Cuối cánh tay trắng muốt, không có vết chủng đậu, là bàn tay rám nắng như đeo găng màu hồng nâu. Con nhà nông quanh năm lội ruộng. Mẫn không mắc cỡ khi phơi đùi đỏ au, nhưng hai bàn chân quấn băng và đi tất lâu lại hóa trắng lốp, trông buồn cười thế nào. Cổ Mẫn có ngấn nắng của cổ áo bà ba, lắm ngấn ghê. Mẫn luống cuống rửa vội, mặc áo ngoài, buông ống quần, tháo kẹp cho mái tóc đổ dài xuống lưng, vừa búi vừa nói bẽn lẽn:

- Qua đồng Tam Trân, cái Mô-ranh quần sát quá, em phải giả làm con nít đi chăn trâu. Thấy rõ thằng Mỹ ngồi sau anh à, râu mép nó màu như râu bắp.

Trời tối sầm xuống như cái đèn măng-sông treo phía Tây trời vừa xì hơi. Mưa nặng bắt đầu rơi lộp bộp, xốc bụi trắng xám. Mẫn vào hốc đá soát lại đống bao trùm nhựa, rồi chạy đến núp dưới tấm tăng của tôi. Đội du kích bật khỏi làng giữa mùa nắng, chưa lo sắm tăng nhựa. Hai chúng tôi nhường mãi cho nhau cái võng, sau đứng cả.

Mưa to dần, ít sét, nổi bong bóng trên các vũng, báo hiệu sẽ kéo dài. Tôi chóng mặt đành nằm võng, để Mẫn cúi lom khom nhìn chéo lên mây chép miệng hoài. Mẫn lúng túng rõ. Vào ấp một mình dễ đụng phục kích hay ta bắn lầm, lại lo bỏ “thầy Thiêm” sốt chẳng ai coi ngó. Ở lại đây, chà, biết tôi đứng đắn hay không, đằng nào miệng tiếng thế gian cũng phiền...Tôi thấy cần lấy lại cái giọng ông thầy thuốc gia trưởng dạo trước:

- Mẫn ơi!

- Gì, anh?

- Tụi mình còn đi với nhau lâu, giữ gìn miết cũng vậy. Nay mai gặp hồi bí, bộ cô không cho tôi xuống chung hầm bom à? Cột võng nằm nghỉ đi!

Mẫn tần ngần chút nữa rồi bật cười dài, cười rũ. Nghĩ gì mà cười ngon lành vậy? Cười chán, Mẫn cũng lấy võng ra. Cây thấp quá không buộc được võng hai tầng, đành buộc ngang nhau. Tôi nằm bên Mẫn ban đầu còn ngường ngượng, sau chỉ thấy ấm bên vai như khi ngủ chung với xê mình. Mẫn im một lát, có lẽ đợi qua mấy phút xấu hổ lại khúc khích

- Anh nói chuyện chung hầm, em hết hồn, lâu nay chưa tính chuyện đó.

- Địch vây tôi, cô chịu bỏ à?

- Bỏ sao được. Có điều..họ nói chết..., anh là con trai ít mang tiếng, con gái cực lắm. Để em ghép anh đi với anh Tuất.

Tôi vặn ngay, vặn hơi quá một chút vì muốn cả hai tự nhiên hơn:

- Vậy đó, hồi cần thì người ta dùng tôi mọi việc, khi thấy vướng người ta đùn tôi cho ông kinh tế, đem tôi bỏ kho!

- Gớm, anh ác miệng dữ …

- Mà ai nói Mẫn con trai không sợ tiếng đồn? Lỡ có tay nào nổi ghen, gởi đơn vị một lá thơ nói tôi lăng nhăng này nọ, thì giờ đâu mà cho cán bộ về đây hỏi thử đúng sai? Tôi cũng ngại vấy mực trong lý lịch lắm chớ! Nhưng mà tôi không giữ ý tới mức cản trở công việc. Lâu nay đi công tác lẻ với cả trăm chị em, tôi chưa nghe tiếng xì xầm nào hết. Không có ghẻ, chẳng phải né ruồi!

- Nói như sách!

- Nói như sách, làm cũng như sách. Con trai con gái chơi thân với nhau như bạn, rất tốt, về sau ưng nhau nên vợ nên chồng, càng tốt chớ chết ai. Cô lãnh đạo anh chị em trẻ vững lắm, mà hễ không thông cảm chỗ đó chắc họ cũng nói như thằng nhỏ Tâm: “Chị Hai phong kiến thấy bà!”

- Hừ, phong kiến!

Mẫn quẫy mình, ngồi bật dậy, xoay người đối mặt hẳn với tôi. Giọng Mẫn bỗng có tiếng rung của sắt đập:

- Anh tưởng em chỉ biết có nụ xòe kíp nổ thôi à? Em làm công tác Đảng, công tác Đoàn hằng ngày phải khuyên người này dỗ người kia, phải giúp anh chị em hiểu những chuyện tình yêu tình bạn chớ! Mà dầu không làm cán bộ, thân gái lớn lên cũng phải tự nghĩ rồi đây ưng ai lấy ai chớ. Nói ra mắc cỡ, còn sợ người ta cười đang đánh Mỹ mà lo sự riêng tư, tụi em con gái cứ giấu kỹ, nói quanh, chắc anh nghĩ đám này khờ lắm, hô đi hét đứng thôi. Lầm rồi. Năm ngoái có anh yêu Chín Cang, lại nhờ chú Luân nói giùm, nó chối qua loa cho xong, sau đó tâm sự với em: “Ảnh tốt, dể thương, mình gạt đi cũng tiếc. Bị cái ảnh coi thường mình, không tỏ thiệt với mình, mượn miệng ông bí thơ để buộc mình phục tòng cho mau, mình không chịu được cái phong kiến kiểu mới đó!”. Em phê nó tự ái, nó nhận chắc không chịu sửa. Tụi em cầm súng đánh Mỹ để giữ nước giữ làng, đúng, mà cũng giữ luôn cái quyền định đoạt đời mình nữa, có phải phong kiến không?

Tôi sửng sốt nhìn Mẫn, một khối đen khi vắng chớp, một con người sắc nét và nhiều màu khi trời lóe trắng qua mái nhựa. Tôi vẫn tưởng cô gái này làm nhiều hơn cảm, cảm nhiều hơn nghĩ, nghĩ nhiều hơn bênh vực ý nghĩ của mình...

- Em quen các anh bộ đội về xã, anh nào cũng vui vẻ, tử tế, đôi khi chọc tụi em cãi chơi chớ coi phụ nữ bình đẳng lắm. Em quí chỗ đó, mà cũng nghĩ vậy chẳng biết trật hay trúng: các anh quen sống trong tập thể lành mạnh, tiến bộ, luôn luôn được học cái mới, sót ai kém thì chung quanh rèn hoài cũng ra tốt, cứ vậy miết rồi các anh quên cái khó của tụi em ở xã. Phong tục, dư luận, bao nhiêu thứ xưa bày nay làm, coi vậy chớ còn nặng anh à. Cái đó không tránh được. Hai chục năm nay đồng bào mình đánh tây rồi đánh Mỹ, học đường lối chánh sách nhiều lắm, thử hỏi có lần nào học kỹ về thái độ đối với phụ nữ, về tình cảm trai gái hay vợ chồng hay không? Đạo đức số một như chú Luân đó, về nhà nói với vợ cũng quanh năm mày tao, con gái chú yêu anh gì ở trại sản xuất thì chú bắt phải cắt. Thói quen ngàn năm đâu dễ sửa! Tụi em dỗ nhau: thôi, việc nước là lớn, chuyện vặt dẹp một bên, nước độc lập trước sau gì mình cũng được tự do, mà cũng đừng sốt ruột xin đi thoát ly, hồi nào trên cần sẽ rút, cứ ở lại xã lo dồn sức đánh Mỹ đã …Em giữ ý tới vậy, còn bị tiếng đồn là chửa hoang với bộ đội, đi xã khác phá thai, anh biết không?

- Biết. Thằng Ba Thấn phản rồi, ai tin nó nữa?

- Một đồn mười, mười đồn trăm, ít ai hiểu đó là thắng Thấn phá rối. Anh nghĩ giùm làm sao cải chính đây? Hay là em lên trước mít tinh: “Thưa đồng bào, thằng Thấn gieo tin bá láp, tôi không chửa hoang phá thai bao giờ”?

Mẫn cười khẩy một tiếng khô và lạnh, nín thinh. Tôi đã nghe anh Luân kể qua chuyện ấy, tránh không hỏi Mẫn ngờ đâu chính Mẫn lại nói trắng trợn đến thế. Tôi đợi thấy nước mắt trên khuôn mặt lúc này trắng mờ. Trời chớp. Chỉ có đôi mày đen nhíu lại gần chạm nhau, cặp môi mím giận dữ. Một tiếng ực nhẹ, Mẫn nuốt nước bọt hay nuốt cái nấc trào lên cổ. Hồi lâu Mẫn mới tiếp, giọng rất trầm trong tiếng mưa rơi ràn rạt:

- Anh hay trách em quá bí mật, máy móc, thân đó rồi sơ đó. Làm sao được, em là chi ủy viên, không được đem chuyện nội bộ đi kể với người ngoài. Em mang ơn anh nhiều lắm, mà phải giữ nguyên tắc, anh ghét thì chịu… Bây giờ anh sanh hoạt chung, chú Luân dặn em nói hết, nhờ anh giúp cho, anh đi đây đi đó hiểu rộng hơn...