Mẫn và tôi - Chương 10 (phần 1)

 

Em nhỏ chăn trâu trên gò xoay cái nón lá, ngó phía biển, quay lại kêu lanh lảnh:

- Mô-ranh(1) lên đó mấy chú!


(1) Tiếng nhân dân quen gọi máy bay trinh sát nhẹ.

 

Tôi vừa xong phần lý thuyết về mìn lõm. Cả đội du kích nhấp nhổm, Năm Ri mau miệng hỏi:

- Cho bắn chớ, anh Thiêm?

- Tùy ông thôi!

Cậu ta cười toét miệng, kéo các tổ săn máy bay luồn cây chạy xuống bờ sông Rù Rì. Ri vẫn chưa quen với vai xã đội phó mới được giao. Thêm cái nếp tôn sư trọng đạo của dân mình mạnh đến nỗi từ khi tôi mở lớp đến nay, cả Mẫn và đội du kích đều coi tôi như ông thầy, như cấp trên.

Anh chị em tản vào các bụi rậm, tập chôn mìn. Anh Luân đã khập khiễng cặp chân thấp khớp đi tìm số trai trẻ Tam Sa lánh nạn quân dịch ở các xã trên, mộ được bốn chục du kích mới. Các cô gái làng đòi thoát ly nhiều, nhất là các cô xinh đẹp dễ bị ghẹo bị hiếp, anh chỉ chọn hai chục “Tụi bây ra hết thì lấy ai vừa đánh vừa đấu! Hồi nào địch bắt lính đờn bà, tao cho Hai Mẫn góp một đại đội con gái, mặc sức bây gõ đầu thằng Mỹ”. Cộng với số du kích cũ, Tam Sa đã đủ mỗi thôn một tiểu, nhưng mới được ba người một súng, đang cố kiếm thêm võ khí.

Chiếc tàu rà lên tiếng từ xa. Một hồi trẻ em khóc eo éo, mấy tiếng ru hời rầu rĩ. Tôi nhìn nó sao cứ nhoè nét mãi. Tôi dụi mắt, chợt thấy bả vai nhức mỏi. Chắc tại thức đêm lội cát nhiều, hay lại trở trời. Để coi tổ Năm Ri bắn ra sao, tập bắn máy bay bốn ngày liền rồi.

. …Cấp thiết hiệu triệu ông Nguyễn Luân và bà Phan Thị Mẫn và toàn thể anh chị em cán bộ và du kích đương nhiên hoạt động Việt cộng hãy cấp thời hồi chánh...

Máy bay kêu rè, giọng thằng xã Chinh cũng rè rè đọc cái bài ghi âm dốt hay nói chữ. Mắt tôi vẫn hoa. Tôi rùng mình liền mấy cái. Bậy rồi. Những con phát-xmô-đi-om trong máu đang phá quấy. Tôi đã đưa liều thuốc sốt rét cuối cùng cho hai cậu du kích chia nhau hôm kia. Biết làm vậy là sai, dễ hỏng việc, nhưng tôi không cưỡng nổi... Chiếc tàu rà xuống thấp, bay dọc sông. Một loạt súng trường lốp đốp. Nó rướn lên. Loạt khác đuổi theo. Nó bay gấp qua đầu tôi, bên cánh trái hiện một mảng sáng. Cô Cang giẫm chân:

- Mẹ cha nó, rách miếng cánh lòng thòng mà cứ bay!

Tôi quay lại, định ném một câu đùa, nhưng hàm dưới bắt đầu lập cập không nói được. Rét. Trong mỗi đốt xương tôi, chất tủy đã đông thành những giọt thủy ngân nặng và rất lạnh, chạy qua tràn lại. Tôi không chịu nằm, cố động đậy chân tay, làm cái gì đó để đè bẹp cơn sốt. “Lướt sốt” nhạy nhất là khi địch đánh úp. Tôi lê ra ngồi chỗ sáng, cái nắng nung người trước đây mươi phút còn đáng sợ, bây giờ chỉ sưởi được một chút những chỗ da để hở. Pháo bắn lên sông Rù Rì, trả thù cho cái cánh rách tụi nó nã hàng giờ là ít. Tiếng nổ lọt khó khăn vào tai tôi đầy hồ đặc.

Năm Tuất đập vai tôi nói gì không rõ, chỉ tay vào bụi rậm. Anh nhắc lại to hơn, tôi bắt được từng đoạn cụt ngủn như văn điện tín:

-..Phơi nắng …nhập vô xương khó lành...nằm võng...chỗ thấp, lỡ văng mảnh...

Anh đã lấy võng tôi buộc vào chỗ trũng có bóng cây. Cô Cang xoắn xuýt hỏi tôi ăn cháo hay cơm, tôi chỉ để ý rằng giọng nữ thanh xói vào lỗ tai ù dễ hơn giọng nam trầm; hèn gì các cậu bị bom ép thích nói chuyện với cô hộ lý hơn với thủ trưởng... Không nên để anh em dỗ mãi vì một keo nhớ rừng. Tôi vào nằm võng lặng lẽ run, thu hình thật nhỏ cho người khỏe khỏi vướng. Năm Tuất vét bốn cái võng nữa đem trùm lên người tôi. Tôi thò đầu ra thở, thấy anh lại chúi vào đống sổ sách và hành hạ cây bút chì: cắn đầu bằng để nghĩ, mút đầu nhọn để ghi. Anh vừa được chỉ định vào ủy ban nhân dân xã, nắm kinh tế, đang lo gỡ đống bòng bong của thằng Ba Thấn để lại. Cô Cang áo trắng nón trắng, xách nồi gạo xuống chân đồi nhen lửa nấu cơm, lẫn trong những bếp đun nước và lò đốt than của đồng bào trong ấp chiến lược ra kiếm củi cắt lá, róc vỏ sim, giấu gạo đem cho chúng tôi, đưa tin địch và gác cho chúng tôi từ bảy giờ sáng đến năm giờ chiều. Phải mất bốn ngày đấu tranh và hai người bị thương nhẹ, cha con thằng Chinh mới chịu mở cổng ấp, còn hẹn năm giờ trở đi chúng sẽ kêu pháo bắn vào bất cứ một bóng người, một búng khói nào trông thấy trên vùng gò đã “bàn giao cho Việt Cộng”.

Ai ra gặp du kích cũng nói:

- Cha con xã Chinh lên râu lên nước hung rồi đó.

Theo lời tả thì thằng xã Chinh nó tinh ma đến nỗi ốm teo ốm nhách, mặt bằng hai ngón tay chéo;bộ râu ba chòm thưa cứ ngọ nguậy quanh năm vì hắn nhai trầu không ngớt miệng. Mới lên bảy, hắn đã biết tránh sai vặt bằng cách “dạ” một tiếng thật to và chạy biến, như có ai gọi ngoài ngõ. Tên cúng cơm là Chàm, đặt tên con đầu là Chình, sau đổi tên chữ mới, bỏ dấu huyền. Đời Việt gian của hắn cũng chẳng xuôi chèo mát mái, ông thầy Mười nhớ kỹ lắm. Thời Tây, nắm triện đồng chưa nóng tay đã bị kiện lạm thuế, bán hai mẫu ruộng đút quan mới khỏi tù. Lên lý trưởng thời Nhật chỉ kịp ôm sổ ra nộp ủy ban nhân dân cách mạng. Mắc kẹt trong vùng tự do dạo chín năm, hắn vô Quốc dân đảng làm điệp, bị ta giam hai năm. Sau Giơ-ne coi như mả phát, hắn vọt lên quận phó được đâu sáu tháng, lập công giết luôn tám người kháng chiến cũ. Vẫn bị phe Diệm đá phốc, phải dắt con vô Phan Thiết trốn ít lâu, rồi về nhận một chức bạc nhạc là chủ tịch Phong trào(2) xã. Năm 63 Diệm đổ, hắn bị Quốc dân đảng xếp loại “thiếu lập trường”, chỉ kiếm được cái ghế đại diện xã, ít lâu sau mới giành được chân cảnh sát trưởng cho thằng con lêu lổng.

 

(2) “Phong trào cách mạng quốc gia” do bọn Diệm tổ chức

 

Con chó bị đánh mãi còn nhe răng gừ với chủ, hắn không gừ. Chẳng phải vì “mả ông nội chôn trúng đất bài ngà, sanh ra máu ưa lãnh việc làng, bị cái chưa đứng số” như hắn nói khi nhậu lai rai với đám quen. Hắn làm tề chỉ vì ruộng.

Những đời cao tằng tổ khảo đã truyền lại cho hắn tám chục mẫu ruộng cùng với cái khát ruộng, mê ruộng, say ruộng khó tưởng tượng nổi. Qua hơn năm chục tuổi đời, trải năm trào chánh phủ- hắn tính các thời Tây, Nhật, Việt-minh, Diệm, và chưa biết đặt tên gì cho cái thời láo nháo hiện nay- hắn càng tin có ruộng là có tất cả. Thẻ bài, đồng triện có thể mất, nhà có thể cháy, vàng bạc có thể bị cướp, trâu bò và cả lũ con nữa có thể chết, chỉ có ruộng là ngàn năm không suy suyển, mỗi năm đều dặn đẻ cho hắn nhà gạch trâu cái. Hắn còn đứng trên ngọn đống lúa tô là còn nhiều người đến van vái xin làm rẽ, vay lãi; nắm nhân tâm bằng chén cơm là chắc nhất. Mỗi chuyến lên voi dù rất ngắn, đều giúp hắn cấu chỗ này véo chỗ kia, đắp cho ruộng hắn tròn hơn, liền bờ hơn, ít ra cũng bù một chỗ sứt mẻ khi xuống chó, hay cùng lắm hắn vẫn dựa chức mà giữ được vốn cũ, chờ thời ngoi nữa. Khi một số nhà giàu bán ruộng để làm giàu kiểu mới, hắn cười khẩy vét tiền mua ngay, rất khoái chí khi các công ty lần lượt vỡ nợ, máy hỏng xe trúng mìn. Đã nói nhứt điền nhì thổ mà!

Cái bệnh nghiện ruộng ấy, cái đạo thờ ruộng ấy chỉ có thể so với nỗi căm ghét dữ dội đối với những ai định lấy ruộng hắn. Từ thượng cổ đến nay chưa hề bao giờ xảy ra một chuyện nào quái gở như vậy, bốn ngựa xé thây không ác bằng trăm tay xé ruộng, hắn kêu vậy. Hắn xuýt lồng lên khi nghe Diệm ra dụ cải cách điền địa, đọc kỹ hắn lại thấy khoái: không động đến gia sản một trăm mẩu tây trở xuống, không động đến những ruộng đất canh tác bằng cơ giới, to mấy cũng được. Ngon quá rồi, thiếu gì mánh lới do gian, chia nhau đứng tên, đặt một máy bơm cũng gọi là cơ giới! Đến thời con cháu hắn vẫn còn rộng đường làm giàu. Cản đường hắn lúc này chỉ có Việt cộng.

Em ruột hắn, chủ mấy chiếc ca-nô chạy sông, một lần về thăm quê vui miệng nói rằng chánh sách ruộng đất của “bên kia “ bây giờ coi bộ mềm dẻo. Giữa đám giỗ mà hắn ném luôn miếng bã trầu vào mặt em, chửi cha thằng chó đẻ tuy cả hai chung một cha một mẹ:

- Mềm với dẻo! Đền với bù! Tụi nó rượt tao chạy xịt khói đen khói trắng, mày ăn gì mà đi bốc thơm cộng sản?

Thằng em chẳng vừa, túm cổ cái chai lít thủ thế, cười mũi:

- Thằng này có miệng ăn cũng có miệng nói, đứa nào hót chánh phủ cứ việc hót thử coi: sát nhơn thì giả tử, ăn đất, còn chống đò chở gạo thì ăn cơm uống nước thiên hạ!

Mối thù âm ỉ từ ngày chia gia tài đến nay mới xì ngọn, lại bị giập ngay, chưa ai đủ sức hại ai.

Hắn không chịu nổi ý nghĩ mất ruộng, dù được bồi thường bằng nhiều cách. Cầm một nắm giấy bạc hay cổ phiếu trong tay, ù ù cạc cạc giữa những cỗ máy và những bài toán, hắn chỉ thấy hắn là cái cây đứt rễ tróc gốc, mớ lá còn dính đấy nhưng sẽ khô dần rụng dần. Hắn chống cộng với cái điên rồ của ông nội hắn bóp cổ vợ lấy tiền mua thuốc phiện, cái đần độn của cha hắn đi ăn cắp từng nắm lúa mót mà để thóc mục từng cót một, cái cuồng tín của hắn đã keo đã quánh lại trong tim óc. Ruột thì vậy, nhưng vỏ hắn lại trơn, hay đổi màu. Tùy lúc, hắn biết cười hề hề, lau nước mắt, mắng một tay sai, dám hỗn với cô bác, khề khà kể tâm sự như cởi ruột ra, và cho giết hết người này đến người kia.

Thằng Chinh con có khác. Hắn cao hơn cha một đầu, biết chút tiếng Anh đủ làm le với các cô chiêu đãi viên, ưa chơi vất tiền qua cửa sổ, quanh năm mặc áo quần lính dù và đi bốt tuy không phải nhà binh, đánh người giết người như chơi thể thao, hay tấm tắc khen cộng sản gan và giỏi để chọc tức cha. Cha con chửi nhau lắm trận ra trò, chỉ vì cha ham ruộng còn con ham rượu ham gái, cha chưa nã hết của chìm mà con đã rạch bụng “đương sự”, cha xỏ lá mà con du côn. Hình như thằng này hoảng sau khi chết hụt ở làng Cá, mất vùng Tứ Nhơn, lại được ủy ban gửi liền hai lá thư khuyên nhủ và cảnh cáo. Cách đấy vài tháng hắn còn than thở với bà con dưới Nhị Lộc rằng mất của hơn mất mạng, tình thế này trước sau gì hắn cũng nhảy vô Sài Gòn, Phan Thiết kiếm ăn, cái xã này “cảnh đã khó, sát nữa càng mau chết”. Hắn gửi hai tút thuốc Ru-by kèm một thư phân trần đến ủy ban trong dịp Tết. Đến nay, tin Mỹ vào và trận càn lớn đã sửa gân lại cho hắn. Hắn dẫn lính đi phục như cũ, bắn bị thương hai chị đấu tranh trong mấy ngày qua, đang mộ lâu la để ráp lại trung đội dân vệ bị đánh nát.

Tôi nằm co con tôm, kẹp tay giữa hai đùi cho đỡ lạnh, vẫn nghe những khúc câu hụt đầu đuôi như đánh điện qua võng kaki. Năm Tuất cầm chắc thằng Chinh cha đi trên tàu rà, cứ nhè thằng ngồi sau mà bắn, không rớt máy bay cũng giết được ác ôn. Một cô cãi bằng giọng ồm ồm. Ấy là Rốt chị tức Hồng Lan, tức Lan B, bí thư chi đoàn của đội du kích xã. Mẫn hay kéo Rốt chị đi cặp kèm để làm loa hô lệnh chiến đấu, tha hồ mà quát đại đội bên phải tiểu đoàn bên trái cho giặc rúng xương. Mẹ cô đẻ sáu con, đặt cậu thứ sáu là út hơi sớm vì sau đó còn cả chuỗi nữa: Thêm, Thừa, Sót, Rốt chị, Rốt em, Hết, vị chi chẵn là một tá. Những tên đẹp trong tiếng ta có hạn, số cô muốn đổi tên lại nhiều vô kể, nên tôi mới tính qua loa đã thấy từng gặp đến tám cô Hồng, năm cô Ngọc, bảy cô Lan, còn Mai thì đủ các màu: Hồng, Bạch, Thanh, Hoàng, Tuyết...

Năm Ri về thở hổn hển, cười, hỏi tôi. Đội du kích gom lại, bàn rất hăng về chầu phá ấp tối nay, tôi cố nghe để nhắc một chỗ bỏ sót nếu cần. Cái giọng the thé kia là của cô Thúy tức Kim Hương, xinh và hiền, rõ thật là tiếng phản người. Còn cậu Chừng nói khàn khàn lại mới mười bảy tuổi, má phính bấm ra sữa. Cả một lớp trẻ rất bốc, táo bạo, dễ thương, phải cái còn vụng, chưa đủ chín chắn. Họ sẽ giật lại Tam Sa từ tay địch.

Quân địch dồn về đây đông nghịt, đông đến phát ớn.

Trong sáu thôn của Tam Sa có hai tiểu đoàn đóng giữ. Kiểu lấn chiếm của chúng ở đây kỳ cục lắm, na ná như nằm vạ. Chúng không càn rộng nống mạnh như mấy ngày đầu, cũng không chịu rút, rào ấp thì uể oải, tuần gác hay phục kích chỉ lấy lệ. Bọn này bị đánh cho đui què mẻ sứt ở Việt An, chạy về đây nghỉ tạm lấy hơi, dựa lưng vào cái căn cứ gần An Tân đã được đặt tên là Châu Lai hay Chu Lai. Các xã chung quanh Chu Lai đều đầy nhóc những đơn vị rệu rã như vậy, vùng này biến thành cái túi đựng lính thất trận của tỉnh Quảng Tín. Chúng chửi tụi sĩ quan như hát hay, tát tai bọn tề và dân vệ, gào đòi ăn, đòi mặc, đòi về ở phố.

Thằng đại úy sẹo má đóng trong nhà mẹ Sáu nhờ mẹ ra gò năn nỉ mấy ông Giải phóng đừng cắc bụp nữa:

- Theo Mặt trận cực lắm, tụi tôi không dám. Rút đi nơi khác thì còn chỗ nào nữa mà rút! Cái Châu Lai sắp sửa giao trụm cho Mỹ rồi, thành phố chật ních, đồn bị hốt... Bà nói giùm các ổng chia tạm cho tụi tôi mỗi thôn một liên gia thôi, ăn ngủ ít lâu cho tỉnh hồn, còn mấy liên gia khác các ổng mần tuồng hát bội mặc sức. Lâu lâu tụi tôi bắn lên trời một mớ, Mỹ nghe mới chịu trả lương.

Chúng tôi nhắn bảo hắn ra gò cắm lều mà ở. Hắn lừng khừng, sợ “ở dồn cục, các ổng bứng cả cụm”. Dù bị bắn tỉa không ngớt, quân hắn vẫn chết ít hơn ở những cái lò nướng lính như ngã ba Việt An. Hắn còn đóng trong làng, cha con xã Chinh còn đốc dân xây ấp, chúng tôi còn đánh cả ngoài lẫn trong. Chị em binh vận đã dắt ra gò được mười một lính, có bảy súng, còn đạn, lựu đạn, mìn thì lấy đủ cho du kích dùng. Ta đang ém địch lại, mỗi ngày một ít.

Còn một chút lấn cấn nữa: nhóm anh Liệp.

Anh với bốn năm cán bộ ngành nằm lì trên Tam Trân với nhiều thứ bệnh thình lình nổi dậy trong người. Chỗ đồng chí ai lại truy nhau cái khoản sức khỏe! Anh Bảy quai nón về họp chi bộ Tam Sa bên sông Rù Rì, khuyên chúng tôi cứ đánh tới tới, để nhóm “đau ốm “ kia nghỉ dài hạn. Bây giờ thằng địch đang duỗi đang nống, chưa nên vội xốc xới lại đội ngũ. Cũng được. Cố kéo họ về sẽ lắm cái phiền: đang vật lộn với địch mà vướng mấy anh treo võng nằm dài, động mở miệng là bàn ra bàn rùn, “cản mũi kỳ đà”, chỉ thêm cực. Còn đỡ hơn mấy năm trước, hồi anh Liệp làm bí thư, anh Luân với Mẫn mỗi tí lại phải chạy lên quán bà Liệp để “xin ý kiến”, mà nào có ra hồn cái ý kiến!

Tuy tạm chịu vậy, nhưng thỉnh thoảng chúng tôi bị vấp. Hôm kia vấp nặng nhất.

Ban cán sự Nhơn Phước ra hỏi về việc tạm cấp ruộng công còn mấy chỗ dở dang. Mẫn bí, anh Luân cũng không nắm được, hứa sẽ hỏi lại anh Liệp. Nhân khi Mẫn sắp về huyện họp, tôi bàn thẳng:

- Không để rụng cái đuôi nòng nọc, con cóc đừng hòng nhảy. Kỳ này đề nghị huyện cử người thay các ổng cho xong.

Mẫn trách tôi nóng. Phải chịu khó đợi họ chuyển chứ. Giằng co một lát, tôi nổi nóng thật:

- Ừ thì tôi là người ngoài không hiểu những chỗ lắt léo, tôi thô bạo... Tôi tàn nhẫn với ông Liệp vì tôi thương bốn ngàn bà con Tam Sa bị ông ta bỏ rơi. Các đồng chí chỉ sợ mất lòng ông Liệp, không sợ mất lòng dân phải không?

Mẫn kêu lên, giọng đã hơi nghẹn:

- Anh làm như chú..như họ là địch hay sao á...

- Họ là máu thịt của ta nhưng mà là thịt thối máu hư vẫn phải mổ để thân mình lành bệnh mà đánh giặc! Bộ đội chúng tôi liều chết cứu nhau, vậy chớ ai rụt cổ không tiến thì xin mời giao chức lại cho người khác lập tức, còn chuyện tình cảm để đó nói sau! Hay các đồng chí tưởng không có ai thay nổi mấy ông “rùa hành chánh” đó? Hay là lỡ ăn mì uống bia ở quán bà Liệp, bây giờ há miệng mắc quai?

- Anh Thiêm!

- Phải, tôi nóng. Nóng mà có lý. Bây giờ viết thơ không kịp, nhờ đồng chí Mẫn báo cáo miệng cho tôi điều này: chi bộ có một đảng viên sinh hoạt ghép tên là Tư Thiêm, hắn đề nghị cách chức Tám Liệp và một số cán bộ khác vì tội không chấp hành nghị quyết bám dân đánh địch mà lại còn hoạt động bè phái. Hễ huyện không ưng thì cứ ghi biên bản, đến khi phong trào Tam Sa nát bét thì lật lại coi hắn có trung thực với Đảng với dân hay không!

Tôi bỏ đi luôn đến chỗ đội du kích tập bắn. Không có cái chén ngọc nào để uống bảy chén nước cho nguôi giận-hình như sách Luân lý giáo khoa thư thời Tây bày vậy – tôi bứt nhai tạm những chùm chà là non,dẻo và chát. Nói toạc móng heo một lần lại hóa hay, giữa lúc hằng ngày máu đổ mà cứ cù nhằng cù nhẩy...Nửa giờ sau anh Luân vào ấp, Mẫn mới ra đi. Tôi nhìn theo cái bóng mảnh khảnh băng đồng một mình, chợt hối đã quá nặng lời. Suốt hai hôm Mẫn đi vắng, tôi cồn cào nhớ Mẫn, thương Mẫn. Trong đợt thử thách mới này, Mẫn chịu khổ hơn ai hết, và Mẫn cũng bị chạm đau nhất mỗi khi “khúc đuôi” phá quấy. Dù đúng đến mấy, tôi vẫn không có quyền đốp chát với một đồng chí như thế...

Cùng với mối lo hỏng việc chính từng lúc giày vò- Năm Ri mới dẫn tôi xuống Chu Lai được một đêm, may sao tụi Mỹ chưa kéo đến- cái nắng đầu mùa cũng nung cho tôi sốt ruột sốt gan.

Từng bước, mùa hè lấn tới khắp nơi với bông trang đỏ tươi, bông vạy đỏ sẫm, đọt sim đỏ bầm, với tu hú lảnh lót trên cành và cuốc kêu khắc khoải trong bụi. Chúng tôi lao đao vì nắng. Những chỗ trũng nhiều cây rậm thường bị trực thăng và pháo bắn, chúng tôi phải ở rải trên gò cây còi, có hôm phơi lưng như dân Quảng Ngãi phơi đường. Nắng trưa rót xuống thẳng đứng, chạm mặt đồi sỏi thì tóe thành lửa hàn, bốc lên những chùm bong bóng vàng bay theo mắt người vào chỗ râm, vào cả giấc ngủ. Ngày trở nên đáng sợ, ngày sau nóng và dài hơn ngày trước. Đêm đã co mình thu ngắn lại, vẫn không thoát hơi nóng của ngày bao vây hầm hập, một thứ nắng đen. Gió nồm là luồng hơi phả từ miệng lò. Năm ba hôm một lần, trời kéo mây khói đen và đổ một trận mưa dông rất to hột, sấm sét đủ cả, nhưng chỉ vài phút đã tạnh, để lại làn hơi đất trắng đặc rất nồng mũi làm chúng tôi chóng mặt và đổ mồ hôi như xông cảm.

Mệt mấy chúng tôi cũng đêm đêm vào làng, không ai chịu ở “nhà”. Đánh bọn lính gác tuần, phá rào ấp, rút kinh nghiệm đợt đấu lý vừa rồi, nhận đạn của các em góp, xử cả những vụ kiện trâu ăn lúa và hàng xóm mất gà, khối việc. Nằm ngoài gò một mình rất chán. Muốn ngủ cũng phải đợi đến một hai giờ sáng mới chợp mắt được. Lúc ấy, mồ hôi ngấm ướt sũng áo quần và võng đã bắt đầu gây một cảm giác dễ chịu như gió mơn trên da, rõ nhất là dưới lưng, nơi vải ép nhiều lớp lại thấy mát hơn tay chân để trần. Những đám mây muỗi đã tan, vòi muỗi chích qua ba lần vải nhoi nhói dưới mông nghe chừng đã no máu, pháo địch bắn bậc thang lùi về giã chung quanh căn cứ. Thiếp được vài tiếng xong phải dậy cuốn võng nấu cơm vắt và ăn luôn thật no phòng địch càn phải đánh suốt ngày, sau đó có thể ngủ ngồi thêm một lát nữa, súng gác ngang đùi và bao đeo trên lưng.

Ban ngày, chúng tôi vượt những giờ thử lửa bằng cách động tay động chân liên miên. Ham làm thì quên nóng. Hết phiên bắn tỉa lại về học. Bài học ngó lên trời mà xếp. Nắng gắt. Lên lớp lý thuyết quân sự. Nắng dịu, ra thao trường. Mưa, căng nhựa ngồi xúm chùm ôn chính trị. Hở ra lúc nào anh em lại đào hầm tránh pháo, đan phên để đưa xuống lát các hầm bí mật vùng cát, vót chông, nấu thuốc bom đúc mìn, men vũng lầy tóm những chú ốc bươu ngoi lên bờ cỏ tránh nước nóng, tìm những chùm chà là non về nấu canh với thứ rau má già đắng cố ăn để giải nhiệt.