Mẫn và tôi - Chương 06 (phần 2)

 

Duy Hảo ngồi lật xem một xấp thư, mặt tỉnh khô, ra vẻ “tao né một bên rồi đó”. Khi nghe tôi nói với chị Tám kha khá, cậu mới chen vào:

- Cô là Phan Thị Mẫn ở Tam Sa, đúng chớ?

- Dạ.

- Có thơ của Út Hòa gởi.

- Thiệt hả anh? Đâu?

Mẫn vừa kể đã cho hai em đi xa vùng ác liệt ít lâu, lớn thêm chút nào hay chút ấy trước khi về cái xã từng giờ xô xát của mình. Ba Tâm làm giao liên cho huyện, được việc lắm, bị cái nhác học. Còn Út Hòa mới mười ba tuổi, khai lập lờ theo tuổi ta là mười bốn, đã được vào lớp cứu thương của tỉnh, nhờ học khá nên các ảnh cho theo tiếp lớp y tá bốn tháng. Đọc lá thư em gái – bì, giấy chữ đều và nhỏ xíu - Mẫn cau mày, rồi chớp chớp mắt, rồi chớm cười bên mép, khi đưa thư cho chị Tám mới cười hẳn:

- Chao, miếng giấy bằng bàn tay mà hết ba phần tư xã luận! Nó hằm hằm về xã, không chịu ở lại bệnh xá, mà nói y cái giọng bà già dạy nàng dâu, kinh chưa chị!

Chị Tám ỡm ờ:

- Thì bắt chước chị nó chớ ai bày!

- Em mà bà gia?

- Không bà gia cũng quá cha dì ghẻ. Anh Thiêm nhớ không, dạo xưa hễ nó gặp anh là mặt cứng như gỗ, nói lạnh như đá, phải chưa?

Chúng tôi cười rân. Mặt Mẫn đỏ tía mà chị Tám chưa thôi:

- Cứ như mặt trời mọc như vậy mới dễ coi chứ. Anh thấy bây giờ nó xinh ra, nó trẻ người trẻ nết....

- Lạy bà, cho con sống với!

Mẫn giúi chị một cái nên thân.

Đã hết máy bay. Hảo nháy tôi, bàn đi bộ một quãng cho dẻo chân. Hình như chị Tám với Hảo cố ý dắt xe đi trụt đằng sau. Mặc kệ. Tôi nói nửa đùa nửa thật:

- Cô.. bí mật số một đó nghe.

- Bí mật?

- Cô lạ lắm. Muốn trẻ thì trẻ, muốn bà cụ non cũng hóa bà cụ liền, chị Tám nói đúng. Khi thân thì thân, hễ làm mặt lạ với nhau...

Tôi chợt bắt gặp nét buồn đến rất nhanh khiến mặt cô gái tối sầm. Buồn, không phải giận. Đôi mắt rất đen ngước nhìn tôi, lại nhìn xuống đất. Vẫn đôi mắt muốn kể gì đấy mà tôi không hiểu. Mẫn xoay đòn gánh đổi vai, ngập ngừng:

- Hồi nào anh về làng em lâu lâu...Chuyện hơi dài…thôi để sau đã.

Tôi hối đã làm Mẫn mất vui, mà vẫn không hiểu gì hơn về cô bạn. Bạn chiến đấu thôi, tất nhiên.

Đến ngã tư chợ Ngọc Nha, chúng tôi rẽ hai hướng. Tôi bắt tay Mẫn, đọc trong mắt Mẫn một lời gì như cầu cứu hay đòi hỏi. Có thể tôi lầm. Con trai chúng tôi dễ lầm bởi hay đoán đằng sau những đôi mắt đẹp chỉ có những ý tình đẹp. Mẫn cười lần nữa, hơi gượng. Tôi ngắm hàm răng trắng bóng và nhỏ đều, nghĩ đến cái tên Ngọc Nha ai khéo đặt, và chỉ nghĩ bấy nhiêu.

Đến phiên tôi đạp. Duy Hảo ngồi sau, lên tiếng cà rà:

- E hèm, bây giờ mới gặp ma ăn giỗ. Nàng là người có đôi mắt huyền của công chúa Ả- rập, ừ rất Ả-rập. Thân thể đẹp như vũ nữ ba-lê. Vui ra vui, cũng mau hờn tủi khi chàng đóng vai Đạo Đức Thiêm hơi kỹ. Cây mới ươm phải bón phải rào. Tao rào cho nàng một bí danh rất bí là Sêhêrađát(2), xin tặng mày ít chục giấy hồng thơm, bì thơ có hình bồ câu và tim các cỡ to nhỏ...

 

(2) Tên một hoàng hậu trong chuyện cổ Arập

 

- Tầm bậy! Quen sơ sơ thôi.

- Chàng là kẻ đa nghi, nhớ câu tin bạn mất vợ...

- Vợ thiên hạ, vợ của tao đâu mà mất!

- Hỏi thiệt nghen, mày giấu mày chết: tao giới thiệu cho mấy thằng còn mồ côi vợ ở bệnh xá, mày ưng không?

- Rất ưng. Cần thì tao thuyết giùm cho. Cô này tốt lắm mà tánh nết không hợp với tao, xin kính nhi viễn chi thôi.

Hảo cụt hứng không vặn thêm nữa.

Cậu ta mới lên vùng giải phóng chưa đầy một năm mà đã quen đất quen người ghê. Đến chợ Cây Sanh, Hảo kéo tôi vào quán mì Quảng “ngon nhất trong vòng mười cây số bán kính”, hỏi các món, gắt anh chủ quán bằng cái giọng người nhà:

- Thứ cao lầu Hội An mà đặt tên phở xào thập cẩm là bắt chước dại! Cho trước hai tô coi thử. Ừ, bia “băm ba”, hai ly pẹc-nô. Mày uống pẹc-nô hay quăng –trô?

- Thôi đừng quăng tao xuống ruộng!

Tôi bông lơn để tránh nói rằng tôi mù tịt.

Đời sống thành phố cũng lạ: một người đói lả ngồi bên một kẻ khổ vì thừa mỡ, đùi sát đùi trên tàu xe mà vẫn nguyên vẹn hai thế giới riêng. Hồi ở Đà Nẵng tôi hay mắc vào một bi kịch nhỏ. Bị cơn đói hành hạ sau buổi đạp xích lô, không dám ăn vặt vì bầy con ông cậu chưa đủ no, khi phải ghé nhà Hảo tôi rất sợ cái mùi xào nấu thơm lựng làm nước bọt ứa đầy miệng. Tôi chỉ bấm chuông hai lần bốn tiếng như đã hẹn, đứng bên cổng dặn Nga việc gì đó cần làm, xong chuồn gấp về nhà kiếm ít cơm cháy. Mộng Nga không bằng lòng, nhưng chỉ thấy tôi hơi tỏ vẻ “ly kỳ rùng rợn”, làm sao hiểu được bụng dạ của người thiếu bữa.

Hảo thổi bọt bia, cười cười:

- Uống bia mới, nói chuyện cũ...Mày nghĩ kỹ chưa?

Tôi nhớ. Năm ngoái, Hảo tìm gặp tôi ngay sau khi ra vùng giải phóng Quảng Đà. Chúng tôi mừng lắm, buộc võng nằm ngoài vườn, uống bia và rủ rỉ suốt đêm. Hảo ngạc nhiên khi biết tôi là trung đội trưởng. Cậu hỏi rất thật:

- Hay mày bị phốt(3) gì, lên chậm?

 

(3) Lỗi

 

Tôi chẳng có gì nổi bật, nhưng phốt cũng không. Hảo đắn đo lâu lắm, khi sắp ngủ mới thấp giọng:

- Tao chân ướt chân ráo, mới vỡ lòng làm cách mạng. Hễ mày không giận thì tao góp bậy một câu... Ai quen mày cũng phục mày thông minh, nhiều tài. Mới lớp bảy mà đã dịch được tiếng Pháp tiếng Anh, biết cả chữ Hán, thêm nghề thợ gia truyền nữa. Con Nga tới tiệm hình, thấy mày cãi róc róc với tụi Mỹ, tụi Gia-nã-đại, nhờ mày dịch mấy bài nhà trường đều ăn điểm cao hết, nó tôn mày làm thầy không bằng cấp... Yên, yên, tao nói hết. Chắc sai chánh trị hả? Mày lại theo cách mạng suốt bấy nhiêu năm, từ hồi hiệu đoàn đến giờ, cực thôi là cực, sao tới nay... vậy đó... Dốt mà hư một cây như thằng Lãng ghẻ ruồi, đi võ bị Đà Lạt, tháng trước ghé qua tao thấy đóng lon thiếu tá rồi. Không, tao không cho các ông trên đánh giá mày sai. Tao tiếc mày chọn nghề không hợp, dùng tài không đúng chỗ, mày xếp hết mọi thứ giỏi để đi cầm súng, thiệt uổng.

Tôi muốn kể thật cặn kẽ vì sao tôi cố xin nhập ngũ, được vào bộ đội thì cố xin ra trận, nhưng rồi chỉ cười dài. Quả thật cái triết lý sống là điều nói ra dễ chạm nhất, dễ có vẻ thầy đời nhất, bởi những chữ lớn như Tổ Quốc, giai cấp, căm thù, anh hùng, đọc chỉ mất vài giây mà học trọn một đời chưa hiểu hết nghĩa. Hảo và tôi đã nối nhau bước vào trường đại học của cách mạng, mỗi đứa một khoa, cầm súng hay cầm xơranh đều tốt nghiệp thành con người mới... Tôi gói gọn tất cả vào một ham thích riêng cho xuôi tai Hảo, và tôi không nói dối. Tôi mê bộ đội lâu lắm rồi, từ khi lũ trẻ chăn trâu chúng tôi ùa theo níu tay các anh mặc xi-ta xám kéo qua làng... Không, lâu nữa kia, từ khi chú bộ đội đeo ba-lô trước ngực để dành lưng cõng tôi dọc đường Gò Găng ra Bồng Sơn, luôn miệng dỗ: “Nín cháu, nín, tàu bay nó nghe nó bắn”. Cái mẫu người ấy in sâu đến nỗi khi nhớ lại những anh tốt bụng mà tôi gặp hồi nhỏ, tôi đều mường tượng thấy họ mặc quân phục...

- Kìa Thiêm, uống đi mày! Buồn ngủ cứng mắt rồi à?

Tôi trở về với phút đang sống. Cái phút rất thú vị: tô cao lầu đứng trụ bộ ở giữa, chai bia và ly rượu thơm yểm hộ hai sườn, và tôi đang đói ngấu. Tôi ăn, khen ngon. Hảo gọi làm tiếp, tới đợt ba, sẽ chuyển qua phở gà. Tôi chợt hết thấy ngon. Hôm tôi đi, xê mình đã cắt người tìm chỗ dọn rẫy cũ, trồng sắn. Đơn vị đông, hễ kéo lên núi là lo chạy ăn chật vật, địch rải chất độc nhiều hơn trước, anh em kiếm củ sắn ghế không? - Vớ vẩn, ai khiến mày lo đời vậy - Mót sắn ở các rẫy cũ, phát cả gai rách tay rách mặt, đào thật là sâu, lôi lên được ít củ to nhưng lại toàn xơ là xơ, sắn ăn nhả bã

– Thì mày chung đói no với anh em đã lâu, ăn vài bữa ngon đã sao, đồ gàn!

Một cậu Hảo trong tôi đang bực với thằng Thiêm lẩm cẩm. Thằng Thiêm không cãi chỉ nhớ thôi, nhớ cồn cào. …

Tôi không nhớ riêng cô gái nào. Tôi biết tính mình đã yêu thì say, na ná như những ai chưa hề bị sốt rét thường bị cơn đầu tiên rất nặng, nên cố hoãn cái thứ tình cảm đáng ngại ấy đến quá tuổi ba mươi cho đỡ vướng bận. Mãi cho đến nay tất cả thương nhớ của tôi vẫn chỉ gồm hai mảng lớn. Một là gia đình họ hàng, với má tôi ở giữa. Những người bạn đường dài hợp thành mảng thứ hai, ở đó anh Ba Tơ nổi lên như tảng đá xù xì, thêm chú Dé, thêm mấy cậu nữa, còn ở trung cảnh có Hảo, Dư, Mẫn, Mộng Nga, có ba cô du kích Quảng Ngãi được xê mình gọi lóng theo màu da là Út Bông, Út Than, Út Nghệ… Sau chuyến đi dài từ Tam Quan ra đến Tam Kỳ, sao tôi bỗng nhớ xê mình buốt ruột đến thế?

- Hảo hả? Phải Hảo không?

Một anh mặc bà ba xám chợt xấn xổ đi vào, túi dết đầy căng nẩy trên mông. Anh thở phì phò, quạt cái nón mới đến đứt chỉ rắc rắc, hỏi dồn:

- Có xăng không? Mượn gấp vài ba can, làm giấy đàng hoàng, mươi bữa nửa tháng mình trả...Thì xăng chạy máy chớ, đâu phải xăng đổ bật lửa

Hảo rót bia mời anh cán bộ kinh tế, cười:

- Nhè thầy thuốc mà hỏi xăng sao ông?

- Thì lâm bệnh phải bái tứ phương, thần nào nghe thần nấy giáng! Mới giải phóng năm bảy cái thị trấn mà đã lắm vấn đề, tới khi làm chủ Đà Nẵng, Tam Kỳ mới búi to. Cối xây cối giã của đồng bào quanh chợ để mọt ăn hết, mình phải giữ cho máy xát gạo chạy đều chớ. Máy bơm nữa nè, đội chiếu phim sắp về nữa nè…

- Ờ, ờ, nghề nào khó nấy. Ngang lưng thì cõng gói hàng, đầu đội phiếu xuất vai mang chứng từ...

Tôi ghẹo một chút chơi. Anh kinh tế được dịp khoe thêm rõ nhiều rằng cái thời gói hàng trên lưng qua rồi, bây giờ phải tính bằng xe bằng thuyền kia. Anh than thở, nhưng cặp mắt cứ lóng lánh như một bà mẹ đang kêu nuôi bầy con cực ớn, đậu sởi đủ thứ mà sao tụi nó cứ lớn phổng lên chẳng biết.

Máy bay địch vẫn cứ ồn từng hồi. Không cần xem cũng nhận ra trên đầu có ba tầng địch. Trên cao là tụi thần này ma kia đi đánh vùng xa, luồn hối hả qua các cụm mấy trắng và tảng mây đen, một bầy cá niên trốn lưới chạy ngược lòng sông đá. Máy bay tải và trực thăng chiếm từng giữa cùng với số chiếu đấu cánh quạt của ngụy. Thấp nhất là những cặp tàu rà quanh năm dòm ngó. Máy bay tăng vọt so với năm ngoái. Thế nhưng cuộc sống trong vùng ta cứ ngồn ngộn, sôi sục trào mãi về hướng Đông. Bước ngoặc lớn của cách mạng miền Nam đã hiện ra trước mắt, ngụy đang rã, Mỹ sắp vào, có thể kéo theo một lần rẽ ngoặt nữa trong đời tôi nếu như anh Ba Tơ đoán đúng, biệt phái rồi từ biệt xê mình đi luôn. Đã rẽ thì không thấy gì nữa đằng sau. Đành vậy. Con chim ra ràng ắt phải rời tổ thôi, phải tự làm quen với gió lớn và chân trời mở rộng.

Chúng tôi dắt xe ra đường, đạp thong thả về chợ Minh Huy.

Cái ngày rộn rực này còn dành cho tôi một lần gặp nữa. Gặp người không quen. Đang đi bộ qua mộ quãng đường viền chông, tôi chợt để ý hai cái bóng áo trắng quần đen, môt lớn một nhỏ, từ trong xóm chạy tuôn ra theo bờ ruộng. Người đến trước là một chị khoảng ba mươi, dừng lại ngó tôi trân trân, thở, rồi quay đi nấc dồn. Em gái tới sau gắt hổn hển:

- Mẹ… cái rổ đâu? Con biết... không phải là cha mà...

Người mẹ cãi ấp úng, rất khẽ:

- Mày thấy mặt cha mày hồi nào đâu...

Hảo cười. Tôi không cười được. Cháu nhỏ tinh hơn mẹ, thấy tôi trẻ quá, còn mẹ cháu vẫn nhớ mặt chồng hồi mới cưới nhau. Những người thân không bao giờ già đi trong lòng ta, họ chỉ già đi khi ta gặp lại. Cũng khó hiểu vì sao sau phút nao nao đã lặp lại nhiều lần ấy, tôi không nhớ về xê mình mấy nữa, mà sốt ruột muốn mó ngay vào việc mới đang chờ.