Mẫn và tôi - Chương 06 (phần 1)

 

- Bom, nằm xuống!

Tiếng hét nhọn như kim xóc vào màng nhĩ. Tiếng bom huýt dài, kêu rắc như cây đổ. Chưa kịp mở mắt tôi đã làm ngay những cử động thuộc nhuyễn: tay phải chân phải cùng bật ngang ra ngoài võng, ngoặt xuống tìm đất, mình lật nghiêng, cả người rơi sấp. Hai tay đỡ không cho ngực bị tức, thường đúng tích tắc ấy bom nổ, mặt đất nảy ngược rất mạnh hất bổng tôi lên tôi vẫn kịp “hạ cánh” lần thứ hai trước khi mảnh réo qua lưng.

Một loạt tiếng cười rộ. Mắc lừa rồi. Tôi đứng dậy, nhìn những hàm răng lạ chung quanh, nhớ ra trạm giao liên. Ở xã mình, các tay tếu cũng hay tập báo động cho nhau kiểu này, có khi chỉ phá quấy chơi.

- Anh Thiêm! Địch ở xa cứ ngủ yên nghen!

- Anh Thiêm! Dậy trở mình chút chớ mỏi!

Duy Hảo nín cười trước, tuyên bố tôi được xếp hạng A về phản xạ có điều kiện. Tay Hảo còn cầm nhánh cây tươi bẻ gập giả tiếng bom xuống gần lưng người.

- Tao thử trên năm chục lần, mới có 7 người đáng loại A. Đô đốc Thiêm có khác, con nhà võ...

- Thử lần nữa thì vợ mày ở goá!

Tôi gí nắm tay sát mũi Hảo, rồi phủi đầu gối.

- Nhờ trời, vậy còn lâu....Cho qua chuyện khoa học. Tới giờ lên đường, mời đô đốc cho lệnh hành quân!

Trên sạp xếp một dãy bao bột no tròn, ngấm đen mồ hôi ở mặt áp lưng: Một nhóm cõng gạo từ đồng bằng đi lên đã đi suốt đêm, vừa tới trạm. Hảo bị mắt kém, mò đêm chỉ làm khổ anh em hết đợi lại hú lại tìm, nên bám đường dây tiện hơn. Hảo gật gù hỏi kỹ các chặng đường về chợ Minh Huy. Tôi cao hứng vạch luôn sơ đồ trên sân: đường núi hai ngày nhé, qua sông Tranh tới Tiên Lãnh, lại vượt núi về Phước Cẩm, qua một chặng đèo nữa, mất chừng bốn ngày với vài tiếng đêm. Chung quanh lại cười, cười gì chẳng hiểu.

Hảo nói rất kính cẩn:

- Dạ, kính xin đô đốc xếp cái bản đồ lớp đồng ấu lại, để em thưa. Đây là con đường hồi thằng Diệm còn vọc nước đái trong nôi, mà nay đã tới năm sáu mươi lăm đại thắng, nhờ ơn các anh giải phóng...Tao sẽ dắt mày đi bộ mười lăm phút tới làng, mượn xe đạp của ông bạn thợ may, đèo nhau phóng về ngã ba An Lau ăn bún bò quán bà Sô, thẳng đường ôtô xuống chợ Ngọc Nha, mỏi chân thì lên xe hàng đi vài chục cây số cho nhớ mùi xăng. Bữa trưa, ta đánh một trận mì Quảng kèm bia ở chợ Cây Xanh, ngủ một giấc, chiều mát đạp về Minh Huy là vừa.

Tôi sửng sốt tưởng Hảo còn đùa. Trạm trưởng Hùng gật đầu:

- Đi tốt. Anh em mới về nói địch không có chi, sáng trăng đi cho mát thôi.

Tôi vẫn chưa tin hẳn. Cái trạm này...vẫn mái lá mây thưa, sạp tre, nền nhà đầy gốc dựng, cái máng đưa nước suối về róc rách ngày đêm cạnh bếp, con heo ụt ịt cọ lưng vào mông tôi nằm võng. Vẫn là trạm núi. Và con đường Hảo nói, khi tôi rời đất Quảng nó vẫn đeo bên hông cả chùm đồn bót và ấp chiến lược như cành sung đeo trái, tìm một chỗ băng qua ban đêm còn khó, tính chi đến chuyện đạp xe giữa ban ngày. Vùng đồng bằng đỏ gạch những bùn mà tôi ngắm trên triền núi lở, khắc khoải tìm dấu hiệu của sự sống, mới đây thôi đã thay da đổi thịt đến vậy ư?

Tôi nôn nao muốn xốc ngay ba-lô. Hảo bắt tôi cạo râu, thay mặc bà ba đen, đeo súng ngắn và túi dết dưới áo. Lát nữa chúng tôi sẽ đi kiểu “hợp pháp”: đội nón lá, nhét ba lô vào giỏ buộc hai bên chỗ đèo hàng. Thằng địch bị ém, lo giữ các thành phố và căn cứ, càn ít hẳn so với năm ngoái, nhưng hay “du kích” lại ta bằng tàu rà thổi rốc-két và trực thăng chụp xuống bắt cóc người đi lẻ, còn cái sự bom pháo thì chẳng hơi đâu mà để ý.

*

Chúng tôi không vội vã mà vẫn đạp vèo vèo cho say gió. Trên khúc đường đất chi chít những vết xe thồ, chúng tôi in thêm hai sợi dây răng cưa: bánh trước nghịch ngợm lách qua luồn lại, bánh sau nghiêm chỉnh hằn sâu, gợi những dấu chân của trâu mẹ và nghé con trên đồng ruộng. Rồi xe lăn rào rạo trên đường rải đá, về hướng thị xã Tam Kỳ.

Một làng chiến đấu. Nhiều làng chiến đấu. Dây kẽm gai giăng lưới trên đỉnh các trụ cao ba bốn chục thước, chống trực thăng chụp xuống giữa làng, à, một cái mới, tôi chưa gặp kiểu rào trời này ở Bình Định. Hầm tròn nối chuỗi hạt đều đặn bên đường. Các bác đào mương lắc đầu cười khi chúng tôi lái xe đạp chậm qua cá hố chống tăng xếp hình nanh sấu, qua một khúc rào lắt léo chữ chi, qua những súc gỗ to chôn đứng, qua bãi chông chừa một lối đi rắn lượn. Cờ khắp nơi, cổng chào và biểu ngữ khắp nơi, một đám hội của những màu những lời đánh Mỹ. Vùng mới giải phóng có khác, các cô du kích gác đầu làng cũng mới tinh như vừa rời hãng búp bê, quai súng thắt nơ hồng, mũ tai bèo chưa kịp bạc màu và được rút dây bằng ống nhựa đỏ cắt từ nắp bút bi, hầu hết ửng mặt quay đầu khi Hảo đưa giấy và trêu: “Có bắt tôi không?”, áng chừng họ đã quen với hai tiếng “bắt chồng” từ miền núi lan xuống.

Núi lớn lùi xa, ngả từ màu lá sang màu trời. Trời cứ mở rộng mãi ra. Lúa trải thênh thang hai bên đường, những mảng chín sớm nổi sáng vàng tươi giữa cánh đồng đang vô gạo hay cứng gạo. Có cơm mới rồi. Những vồng khoai đan lóng mốt vào nhau thành tấm phên nứa xanh xoay tròn chậm chậm. Cây dầu lai đằng kia cũng xoay, khoe cho hết những cụm lá non trắng xóa như bọt sóng, tãi trên nền sẫm của tán cây. Bọt đọng trắng đầu cành, một nét của lụt lớn...

Tôi tìm dấu nạn lụt. Còn nhiều. Đất chưa lành hẳn, nhưng đang kéo da non hối hả. Sườn núi lở đã đậm màu dưới nắng sấy và cỏ mọc vội. Cát lấp ruộng được cào dồn vào một gốc thửa vun thành đống cao như cái muống đường cát Quảng Ngãi đang rút mật, để dần dà được gánh đổ trên nóc các hầm tránh bom. Một tổ đổi công cuốc vỡ lại khoảng ruộng lấp đầy, con trâu gò lưng kéo cái cộ(1) chở đá và cát đi trút xuống rãnh nước xói. Chung quanh tôi tất cả đều lột da trẻ lại. Mương mới vét, bờ mới đắp, căn nhà tranh bên đường từ nền tới mái đều mới, chiếc cầu sạp tre bắc đè trên cầu xi măng sập cũng chưa kịp sạm da. Đất mình khỏe lạ. Mấy ngàn tuổi mà đất với người vẫn sung sức lứa đương trai.

(1) Xe quẹt

Hơn chục em nhỏ cắp sách đi ngược chúng tôi, cự ly năm thước rất đều để nhảy hầm cho gọn, chào nối nhau như điểm số: “Chào các anh ơ!” Cái tiếng ơ hẳn là dành cho lứa bạn chơi được thay cho tiếng ạ quá lễ phép. Tôi xuống xe, bắt cho hết những bàn tay nhỏ xíu giơ thẳng thành một chuỗi bông hoa năm cánh nở dọc hàng rào dễ thương không chịu được. Tiếng trẻ em là thước đo vui buồn của mỗi làng. Leo qua rào ấp chiến lược ban đêm, tôi chỉ nghe tiếng các em giật mình ré đứt hơi, cắt ngang điệu nhạc du côn hay giọng hát đĩ thõa của đài địch. Làng nổi dậy, tiếng hát của các em cũng nổi dậy, còn vụng nhưng hăng say hết cỡ, cuộc đổi đời nào chẳng vậy. Và đến khi trong xóm ngân tiếng bi bô của các em tập đọc, lúc ấy ngày mai mới thật nảy mầm trong cái hôm nay nhiều đau đớn. Ban nãy tôi ngó qua một căn nhà có tiếng trẻ khóc nhè: người mẹ lật qua lật lại cái áo bà ba đen nhỏ xíu trước mặt đứa con, đứa bé cứ giãy chân lắc đầu, chắc đòi sơ-mi kiểu bộ đội kia. Miễn sao các em không phải khóc đói hay khóc bên xác mẹ, vậy đủ mừng rồi. …

Có tiếng máy bay. Cặp tàu rà quay lại chăng? Tôi nhìn quanh, chợt thấy một cái đầu ôtô ló trên đỉnh dốc với cặp mắt cá vàng. Hèn gì cây cầu xi măng chúng tôi vừa đạp qua còn nguyên! Hai chiếc xe đò nối nhau xuống chậm. Các cửa sổ đầy chật những bộ mặt tươi nở, xoay nhìn theo chúng tôi rất lâu: ai lên đây mà chẳng tìm một nhà người quen “đi giải phóng”? Tôi vẫy tay chào chiếc xe gặp đầu tiên, anh lái hãm lập tức, chắc tưởng chúng tôi muốn soát xe hay lên đi một quãng. Tôi vội xua tay bảo đi, bà con cười ồ. Vui ghê. Chiếc sau - một Xi-trô-en về già - khiến tôi ngứa miệng ngứa tay, muốn chặn xe, lật capô, gắt anh lái xe một mẻ sượng mặt. Máy gõ lóc cóc, phun khói đen kịt như M.113, cứ để như vậy chạy thì bằng đốt xăng nướng xe! Vài cái xéc- măng giá bao lăm mà không chịu thay, hả?

Rồi tôi bật cười một mình, gò lưng đạp. Cũng cái máu “kiến nguy bất cứu mạc anh hùng” của ba tôi, thấy máy bị xài ẩu là nhào vô bênh như bênh trẻ con bị đánh, của ai mặc kệ. Tên là Rảnh mà cả đời ba tôi bận hơn ai hết, thật tội, bởi cứ mua dây buộc mình. Chắc hẳn chủ xe đã tính kỹ: thay méc-xăng mới không lợi bằng chạy liều hao xăng, tụi ngụy thua bạc vẫn nửa đêm đánh “quân xa” tới nhà, ném bừa xuống sân hàng chục can xăng, đưa trả vài trăm cũng cầm vội, đi gỡ. Trong trận càn hôm sau, tụi Mỹ mặc sức mà há miệng giơ tay khi nghe gào trực thăng chở xăng tới gấp, khi đọc báo cáo thấy số xe bốc cháy hình như nhiều hơn số mìn của Vi-xi đã nổ... Cứ sưởi ấm tuổi già bằng xăng Mỹ đi hỡi bác Xi-trô-en sắp về hưu!

Gần đến Ngọc Nha, chúng tôi gặp máy bay ném bom. Hai chiếc AD.6 đang phá nốt cái đồn mà trung đội dân vệ nổi dậy theo ta đã đốt rụi, rõ là chúng tức đến xúc đất đổ đi? Tụi phản lực Mỹ cho đến nay vẫn đánh vùng núi nhiều hơn, mé đồng bằng này còn giao chọn bọn ngụy chó cậy gần nhà.

Chúng tôi rẽ vào vườn mít, tránh thằng L.19 và nghỉ một lát. Tiếp hai người đàn bà quảy gánh cũng ghé vào. Họ đặt gánh, lật nón ra quạt. Tôi còn ngờ ngợ, vẫn kêu thử:

- Kìa, cô Mẫn!

- Trời đất, anh... anh Thiêm đây nè chị Tám!

Tôi gặp lại một cô Mẫn khác hẳn, khác đến nỗi tôi cứ muốn nghĩ đây là cô em, còn dạo trước tôi cùng cứu lụt với cô chị. Hai chị em có vóc người thon dẻo và đôi mày rậm đen giống nhau, nhưng cô em trẻ tươi hơn nhiều, má bầu bĩnh đỏ au, cổ tay tròn lẳn. Cô chị hay dè giữ, khô, còn cô em đang cười nói rối rít:

-Bọn em nhắc các anh miết. Chị Tám rầy, nhắc vậy các ảnh nhảy mũi, đi đâu vấp đó. Bà con cũng rầy em sao không ghi số hòm thơ để gửi giấy cho các ảnh. Em có gởi một lá đề C.215, huyện trả lại còn chỉnh cho nữa, ức thiệt chớ. Kỳ này nhứt định phải ghé Tam Sa nghe anh? Ở chơi lâu lâu, ăn đều mỗi nhà một bữa, giáp vòng mới được đi nghe anh? Mấy anh kia đâu? Chú Dé đâu? Chú Ba Tơ đâu... chú Cẩn hết đau bụng chưa?

Tôi trả lời mấy câu hỏi vội vàng, nghe kể chuyện Tam Sa, mãi không hết thấy lạ. Có phải cái không khí say người của chuyến đi trong vùng giải phóng rộng thênh đã khiến Mẫn cũng ngây ngất như tôi, hay là cô gái Tam Kỳ đã đổi thịt thay da cùng với đất Tam Kỳ? Mẫn vừa ghé xưởng quân giới xin các thứ về đúc thủ pháo, mở nắp đôi bầu cho tôi xem một mớ kíp nổ, nụ xòe, dây cháy chậm, cứ cười dài: “Xin được nhiều, nhờ em mới học lớp binh vận ba ngày đó anh!” Tôi nhìn Mẫn chăm chú, có lẽ Mẫn chợt nhận thấy mình vồ vập quá, vụt đỏ thêm hai tai, ngoảnh sang chị Tám ấp úng:

- Ủa, chị Tám... không hỏi tin ảnh à?

Chị Tám Giàu mải xem máy bay chồm chúi, hay giả bộ xem chẳng biết, quay lại tủm tỉm:

- Nhắm chừng hỏi cũng chẳng được nước non gì...Thì hỏi: bớ hai anh đi đường cái quan, có gặp chồng tôi tập kết về không?

Chị Tám là cán bộ huyện. Tên là Giàu nhưng lại nghèo nhất trong số các chị em cán bộ hay lui tới Tam Sa, tôi nghe nói vậy. Chị có đủ những nét của các chị lấy chồng ba ngày, đợi chồng mười năm: vẫn còn nguyên những cử chỉ e ấp, điệu cười mắc cỡ che miệng, dáng đi óng ả của cô dâu mới năm xưa, trong khi tóc rụng theo lược đã hơi thưa đi trên trán, má bắt đầu nhám và hóp, chỗ lúm đồng tiền tròn xoay dấu chấm đang ngả dần thành dấu phẩy- về sau sẽ hóa ra ngoặc đơn rồi ngoặc kép – mắt bớt trong và đuôi mắt đã hiện nhiều vết khía li ti. Mỗi ngày một ít, chị lặng lẽ hi sinh cái hạnh phúc làm vợ, dâng hiến nốt cái quãng đời có thể làm mẹ cho nghĩa lớn. Chị thương chung anh em bộ đội với cái bao dung của người chị thương lũ em chồng vừa ngoan vừa quấy. Lứa trai trẻ chúng tôi hay đùa ác, thích trêu những sự “mai sau thống nhứt nước nhà, áo đen làm chị áo đà làm em”, nhưng rất hiểu và phục các chị. Chúng tôi hay bàn đến một loại huân chương Chung thủy dành cho những người chị đang phá tất cả các kỷ lục về tình yêu son sắt.