Mẫn và tôi - Chương 02 (phần 2)

 

Chiếc trực thăng phản lực sà thấp qua xóm, không đánh. Hai cây đỡ dưới bụng nó như trượt trên một tấm kính. Tôi quệt vội mồ hôi chảy thành dòng trên mặt, lại ngắm. Nó muốn chơi trò mèo vờn chuột? Nó chùn tay, nhờm tay khi sắp giết dân? Một lần nữa nó vòng lại, cao hơn trước nhiều. À, nó chỉ sợ đạn bắn trả. Tôi đẩy thước ngắm lên ba trăm. Chắc tụi biệt động đã gọi bộ đàm báo tin có du kích quanh đây. Tôi co ngón tay, bóp cò nấc thứ nhất, vẫn đợi...

Khoảng cách chừng nửa giây. Hai luồng khói của nó vừa phụt, súng của tôi cũng phì khói. Cặp rốc-két rít ra tiếng giũa cọ lưỡi cưa, chìm ngay trong tiếng nổ túi bụi dưới đất. Mẫn bắn cây Các-bin M.2 ngay bên tôi, từng loạt năm viên rất giòn. Cậu Kỷ chưa bình tĩnh mấy, một băng trung liên chỉ sổ một hơi. Ngọn đòn trả thù quá đột ngột và quá dữ. Chiếc “xe tăng bay” lạng đi, gượng ngóc đầu, lạng nữa. Chúng tôi bắn mãi đến khi nó rơi tõm xuống đồng nước lụt. Một cái phễu trắng vọt lên, rã vụn, tưới xuống rào rào. Sóng cồn to. Những con sóng cuốn chiếu chạy xa chỗ máy bay rơi, đập vào gò bóc bách. Cánh quạt lưng quẫy sùng sục mấy giây nữa mới ngừng. Tôi che mắt tìm hai thằng lái, không thấy, chúng mắc luôn trong cái xác trực thăng còn nhô khúc đuôi. Sướng không thể tả. Nhưng tôi không dám ngó lâu hơn. Mạng bà con đang treo sợi tóc.

Tụi biệt động vừa được tiếp thêm đạn, bắn tơi bời. Khói đạn cối bốc dày ở quãng đồi chúng tôi bị trọng liên quét ban nãy. Xuyên qua lớp mù trắng tỏa ngang, một luồng khói màu lam từ từ bốc đứng lên. Mẫn chỉ về phía ấy, ngón tay hơi rung:

- Có cây rơm to trôi lấp ló đó. Chắc chị Tám cho đốt nhử pháo, nhử tàu bay. Cha con thằng Chinh biết rõ làng mình lắm anh à, nó kêu pháo bắn trúng y từng liên gia.

Bên xóm chú Dé đã khoát tay ra hiệu kéo phà. Chúng tôi ùa cả xuống mé nước, túm sợi mây. Pháo chụp nã vào chỗ chị Tám rất gấp. Địch sẽ mắc mưu trong bao nhiêu phút? Chuỗi phao vào tới bờ, chỉ được mười bảy người cho sang trước, anh em đang vét nốt mười một người đang bám rãi rác.

Hai cây 105 ngừng bắn. Cối 81 giã gạo thưa dần rồi nghỉ. Cần như im lặng. Cái im lặng nặng trĩu những đe dọa, khi pháo địch đang xoay họng mà ta không đoán được chúng sẽ bắn vào đâu. Cột khói rơm bốc lên to hơn, du kích bắn râm ran, cố chọc tức giặc. Chỉ cần mười lăm phút nữa, mười hai phút cũng đủ. Thôi thì sáu bảy phút để phao và người kịp tách khỏi xóm một quãng..

Tôi sực nhớ, hỏi Mẫn:

- Mẹ Mẫn đâu không thấy?

- Đang ẵm thằng Hoàn. Các ảnh đưa qua mái đình kìa.

Mẫn nói hổn hển trong khi đỡ một chị bụng chửa lên dốc. Bà mẹ Mẫn buộc cái gì như cái thúng vào mái ngói. Tiếng loa binh vận bắt đầu nổi phía gò Mù U. Phải cứu cho được mẹ và con Mẫn. Không được bỏ quên những người biết hy sinh lặng lẽ.

Thôi rồi, pháo bắn!

Hai cục lửa xòe thấp trên xóm ngập, biến thành hai búng muội đen. Tiếng nổ chập đôi dội to trên nước kèm tiếng rung kim loại. Mẫn bóp mạnh bắp tay tôi, kêu rú. Tấm lưới chài rơi xoà xuống nhưng vãi vào chỗ hết người. Nhanh lên bà con ơi, gấp nữa! Cha con thằng Chinh nào đó sắp gọi bộ đàm lái họng pháo… Thêm hai quả, cao hơn. Hai quả hơi nhích sang phải. Một bóng áo trắng rời cành cây rơi ngửa, tiếng hét bị nước bịt nửa chừng. Tôi gào đến rách họng:

- Kiếm ván che mảnh! Lặn xuống nước, lựa chỗ không mìn, níu cây hụp xuống nước!

Những bọt khói đen phình to, kết thành đám mây xám, khi tãi rộng ra nó loãng màu hóa trắng đục. Lửa bầm loe lóe trong ruột nó. Khói đùn ra, phòi ra, lộn ngửa cuồn cuộn và cứ lấn qua bên phải. Trúng chỗ rồi. Tôi ngã ngồi xuống, gượng đứng dậy để nhìn. Mảnh xối chủm chủm như mưa đá. Ông già khoác tay nải nằm nghiêng trên nóc nhà, mảnh xăm mứt gừng vào hông. Một chị mặc áo quần đen đang ngồi bỗng gục xuống, chống tay nhỏm lên, vòi máu phì ngang cổ. Em nhỏ níu tay mẹ, cố ghì lại. Cả hai lăn xuống nước. Trên chạc cành đa có một cô gái nằm sấp, tay chân thõng, tóc rủ, cả chục chấm máu loang nhanh trên áo hoa cà. Cạnh đấy một bàn tay nhô lên chới với, khoắng mặt nước, chụp vào không khí vài lần, biến mất.

*

- Ăn đi mấy anh! Đắng cơm nghẹn nước cũng rán ăn, lấy sức giúp đồng bào chớ, nhịn đói cả ngày rồi. Dé, hết chưa em? Cơm chớ thứ gì mà ngó hoài vậy anh Thiêm? Liềm, múc thêm canh, ớt đâu hết rồi...

Chị Tám Giàu bắt chúng tôi ăn. Thì ăn vậy. Chén ơm ghế sắn non phả mùi thơm nóng vào mặt. Tôi và một miếng thấy mình đang nhai rơm khô. Tức thật. Ăn thịt bò hơn. Một chậu nhôm đầy thịt bò nấu với lá lốt, tôi biết ngon lắm. Tôi cầm mảnh tre dùng làm thìa, xúc thịt vào chén, chợt nhớ những miếng thịt người vung vãi trên mái đình, đỏ, nhầy nhụa. Dạ dày tôi thốc ngược một cái. Tôi cắn răng, nuốt cơn buồn nôn trở xuống, thấy đau buốt chỗ mỏ ác. Êm rồi, tôi yếu đuối quá, thật không ngờ. Đánh dư sáu chục trận, không kể hàng ngàn xác giặc nằm đủ các kiểu kỳ quặc tôi đã thấy, riêng số đồng chí mà tôi cõng, băng bó, đỡ xuống huyệt cũng khá nhiều. Chưa lần nào tôi bủn rủn như hôm nay. Có lẽ toàn người già, phụ nữ, trẻ em, nhất là trẻ em. Những xác trẻ em bị vằm nát...Nhưng thôi, hãy nghe lời chị Tám. Má tôi hồi xưa cũng vững như chị. Khổ quá thì khóc kể ồn ào một lát, rồi bầy con vẫn ăn no tắm sạch, mạ vẫn xép đầy gánh để mai cấy sớm, trã cá vẫn đậy kỹ tránh mèo. Tôi cố nuốt nắm trấu ngậm trong miệng. Nhai cả thịt bò nữa

Trâu chết ít nhờ bơi bầy quen, con này kê mõm trên mông con kia, kết dần thành những bè trâu trôi mãi vẫn sống, sau này đồng bào sẽ đi tìm chuộc lại. Bò chìm rất nhanh. Khắp các bờ bãi đều lù lù những xác bò trương phình tấp vào. Nhiều gia đình sau khi mất trụi của cải, cố cứu lấy con bò cày đất thổ không kém gì trâu. Kéo trước đẩy sau mãi rồi con bò cũng lên được chỗ ráo. Nó đứng run mãi bốn chân, ngạt giọng kêu nhỏ dần, rồi quị. Chủ nó chỉ còn một quần đùi trên mình, tìm loạng choạng trên bãi bùn không gặp một thứ gì để xẻ thịt hay đốt ra lửa được. Vài hôm sau, cả nhà phải hè hụi đẩy chút vốn cuối cùng xuống nước cho đỡ thối khi đò cứu lụt chưa đến kịp ...

Đội võ trang công tác Tam Sa kéo về hang ăn cơm. Chị Tám và Út liềm trải ni-lông giữa đất, bưng dọn, phát những mảnh lá chuối dùng thay chén. Anh em hỏi nhau, kể chuyện mới. Họ đón xuồng từ thị trấn An Tân lên, từ các xã giải phóng xuống, biết nhiều tin lắm.

- Chao suốt vùng dưới đồng bào đồn rum: Giải phóng tới đâu dân sống tới đó, cứu bằng xuồng cao-su có máy mà.

- Đồn Dốc Leo tiêu rồi. Núi sụp, chôn cả đại đội bảo an. Chỗ cầu Bà Bầu mũ sắt trôi dồn đống. Thằng thiếu úy Hinh đứng trên chòi, thì thằng Hinh bót Dương-mít-nài chớ Hinh nào, nó cầm loa điện kêu om: “Giải phóng có xuồng đò gì cứu giùm với, tụi tôi hàng rồi, chết hết!”. Mình mới đón hai tiểu, vừa trực thăng tới, lính không ra được nữa.

- Mười bảy lính cộng hòa lên với Tam Trân rồi, mang cả trung liên, đói rệu nước miếng trong...

Tôi nuốt từng câu họ nói, như uống thuốc bổ. Dù sao chúng tôi cũng cứu được ngót trăm bà con, chỉ mất bảy người trong trận mưa mảnh, vậy là khá. Bây giờ pháo cối đã im. Máy bay vắng. Chỉ còn tụi rằn ri trên gò đôi lúc ặc ặc một tràng, lối cười sặc trong họng khi bụng quá no. Cứ cười đi. Tới khi tao bóp cổ sắp chết, chúng mày sẽ kêu những tiếng ặc giống hệt!

Ban nãy, trong khi chiếc UH.1B đến câu cái xác trực thăng chết đuối – câu mãi không lên nổi, sau nó bỏ, hai chiếc AD.6 quần ném bom các cù lao. Chúng tôi hưởng lần nữa cái sướng được bắn trả địch, cho lửa trong bụng phun ra thành luồng qua miệng súng.

Tôi kê cây trung liên Brao-ninh, quì trong một hố đất nẻ sâu đến ngực. Mẫn nhảy xuống sau, lập cập tháo băng rỗng trên các-bin, lắp băng mới, tay giật từng hồi. Chúng tôi đều thấy mẹ Mẫn chết nằm sấp trên cái thúng, đứa nhỏ rớt đâu mất. Tôi ghé tai Mẫn nói qua tiếng bom:

- Bình tĩnh nghe Mẫn, bắn cho trúng.

Mẫn quay ngoắt lại.

Đôi mắt!

Một đôi mắt tôi chưa từng thấy, toàn tròng trắng nổi gân máu đỏ. Đốm đen ở giữa co lại nhỏ xíu. Cặp mày rậm đâm vào nhau, nổi rất gắt trên da xanh nhợt màu đọt chuối, môi không còn nét. Mẫn há miệng định nói lại gì, lại ngửng nhìn chiếc AD.6 bắt đầu lao xuống, lần này thẳng hướng chúng tôi. Tôi ngắm giữa mũi thằng giặc, lúc này giống một quả trứng với đũa và tăm xóc vào.

Ba loạt cac-bin nổ hấp tấp trên đầu tôi. Không cần nhìn, tôi cũng biết trượt: Mẫn đứng bắn không bệ tì, loạt đầu nổ khi máy bay còn ngoài tầm, các loạt sau chưa kịp ngắm lại. Tôi nín thở đợi ba giây nữa, biết chắc ăn. Cây trung liên rẹt hai hơi hết băng. Tôi buông nó ngay, chụp đôi chân Mẫn giật mạnh. Mẫn nhào nghiêng xuống hố. Trái rốc-két xẹt qua đầu, rít tiếng xoảng dài như đá lăn xuôi mái tôn, quạt luồng hơi nóng hực, nổ choáng óc. Đất vách hố sập xuống lấp nửa người Mẫn. Tôi ló cổ lên nhìn. Chiếc AD.6 lắc lư, lắc lư, nghiêng cánh bay về Tam Kỳ. Nó bị thương nhưng không rớt, tiếc ghê.

Mẫn ngồi dựa vách hố, đập tay vào các-bin cho đất rơi, thở dốc. Mắt Mẫn đã bớt dữ nhưng còn dài dại. Chiếc máy bay thứ hai ngoi lên rất cao, quần, phóng rốc-két hú họa trước khi chuồn. Tôi bắc lại trung liên, nghiêng báng cho cậu Kỷ thay băng, đợi dịp bắn nữa. Bỗng nhiên tôi rất muốn Mẫn là trai, hoặc tôi biến thành chị Bỉnh to lớn của Tam Trân để quàng tay ôm vai Mẫn mà dỗ một đứa em mất mẹ đang đau khổ đến quẫn trí.

- Mẫn nè...

Tôi chưa biết an ủi sao cho phải. Mẫn không giống những cô du kích tôi quen.

- À...bây giờ nó bắn lung tung...bà con núp chỗ chị Tám có yên không hè? Rốc-két rung đất mạnh lắm, cái hang coi bộ dễ sụp...

Mẫn buông một tiếng “dạ” lơ lửng, lượm cái lá rụng lên, lật xem hai mặt. Rồi như chợt hiểu, Mẫn lắp bắp: “dễ sụp thiệt anh à”, Mẫn chống súng trèo lên miệng hố, chạy về phía “hậu cứ” của đội. Đồng bào dồn tránh pháo trong chỗ hàm ếch ấy khá đông, chẳng biết xuồng Tam Trân chở đi hết chưa. Tôi nhìn theo thấy hai bắp chân Mẫn đầy những vết gai rạch, máu loang trên bàn chân không dép. Lóng ngóng vậy mà tôi lại nhắc trúng cái điều cần nhắc nhất. Chỉ có trách nhiệm mới kéo Mẫn ra khỏi cơn tê dại. Con trai Mẫn biến đi đằng nào?

Thằng tàu bay cút. Không đợi xuồng, tôi bơi ào qua đầu dây bên kia. Các đồng chí cứu lụt sống cả nhờ vớt được hai tấm phản đội đầu, che thêm cho ba em nhỏ, một chị, cùng nép dưới tán cây đa. Mẹ Mẫn nằm sấp, cạn máu. Mẹ lượm được cái thúng trôi, dỡ ngói, xé khăn buộc chắc thúng vào cây mè, đặt thằng bé Hoàn nằm gọn trong ấy. Bây giờ mẹ vẫn ôm ghì cái thúng dưới ngực. Tôi gỡ tay mẹ, bồng lên một đứa bé nhuộm đỏ lòm từ đầu đến chân, ngất mà không bị thương.

Đến khi cùng với Năm Ri đào huyệt trên gò, tôi mới biết Mẫn chưa có chồng con. Một chiến sĩ Quân giải phóng ở Tiên Phước đi xa, để thai trong bụng vợ. Chị vợ bị giặc bắt, đẻ và chết trong nhà tù thị xã, gửi con mới lọt lòng cho mẹ. Mẹ ra tù, bồng theo đứa cháu không ruột rà, nuôi giùm cho ba nó. Hôm nay, mẹ truyền sự sống cho cháu lần cuối cùng, mẹ nghỉ. Tôi ngậm dầu lửa, phun mãi mới kéo được hai cánh tay mẹ duỗi thẳng ra trước khi chôn. Chúng con lớn lên bao nhiêu cũng vẫn nằm trong vòng tay mẹ, mẹ ơi, mẹ nghỉ được rồi...

Đội công tác vẫn nói lao xao quanh mâm cơm:

- Đó, đó, trận lụt này dân chửi nát mặt ba thằng Mỹ. Cả mấy phố ngập lút tầng dưới, tụi Mỹ lái ca-nô chạy thẳng tới ba Thiên Hương, hốt riêng mấy con đĩ đem về sở Mỹ, lại còn nhảy tuýt thình thình trên ca-nô cho ấm. Mấy thằng quan ngụy tháo lon ra giơ, vẫy, nó không thèm ghé.

- Sao nghe đồn tụi ngụy cho xuồng với trực thăng đi cứu?

- Trực thăng của Mỹ hết, bay sụp nhà rớt người chớ cứu ai. Còn tụi sư đoàn Hai lo ăn cướp. Biết nó làm sao chưa? Chở người, không chịu chở đồ đạc. Đem đồng bào về trại nhốt kỹ, rồi thả xuồng ghe đi từng nhà hốt của sạch bong, đem giấu nơi khác. Có bà dại quá, hở cho nó thấy cái xách đầy vàng, nó chở ra chỗ vắng đạp nhào xuống nước, bắn chìm luôn, lấy được cả mấy ký vàng. Thằng nào chó vừa vừa cũng đợi giơ lên một xấp giấy năm trăm mới chịu quay lái..

- Mẹ cố tổ cha thằng nó chớ, người mình với nhau..

- Thì cha con xã Chinh đó, người mình, dân làng Cá chánh chi cố cựu đó…” A-lô, a-lô, nhích tới chút nữa..dạ, biết chớ, dân chỗ tôi mắc lụt thì dồn cục vô xóm Đình chớ chạy đâu...dạ, trúng y rồi đó, xin cho đủ năm chục trái… dạ, bắn nữa đại úy à, cộng sản đỏ lòm hết mà, nữa, nữa...”

Một anh đếm từng tiếng lạnh ngắt:

- Cặp đó bây đừng chửi, cũng đừng bắn, rán bắt sống cho tao. Tao viết giấy ký tên, xin hai tay bóp cổ hai đứa, hễ năm phút không chết thì chịu chặt tay đền... Chín Cang đâu ta?

- Đi với chị Mẫn lên Tam Trân, lo chạy thuốc men cơm cháo cho bà con bị nặng.

- Bồng thằng nhỏ theo chớ?

- Út Hòa ẵm đi trước rồi. Nó chết giấc lâu lắm, giựt mình nổi khóc ré một lát, lại nằm lịm. Chắc sợ quá...

- Sống được là được. Thôi uống nước rồi lo bố trí chống càn. Bà Bỉnh mập mới chở xuống thêm hai xuồng cơm gạo áo quần nữa, cuốc xẻng cũng có. Tam Sa khởi xong rồi, phải lo dựng bia cho Tam Trân là một, bộ đội là hai đó các cha!

Người vừa nói là anh Tư Luân, bí thư cho bộ Tam Sa. Một người gầy nhom, mắt sâu, da đen sắt, râu nhổ trơn bóng và tóc hớt trọc, rất khó đoán tuổi. Anh nắm bộ phận bắn tỉa gò Mù U suốt ngày nay. Chẳng hiểu họ hàng dòng dõi ra sao mà Út Liềm gọi anh bằng ông, xưng cháu, nghe rất lạ tai.

Tôi đón ca nước trên tay em Liềm - hết lẫy rồi - nhắc anh em tháo súng ra lau, nhớ chùi kĩ từng viên đạn. Không biết từ lúc nào, bộ máy trong đầu tôi đã xoay sang hướng mới. Hãy vĩnh biệt bà con đã khuất và đi tới, mang theo mối thù thiêng liêng ngấm vào máu. Hãy lo tiếp cho những người còn sống và sẽ sống những ngàn năm nữa trên đất này. Đợt tấn công mới bắt đầu rồi, nó mở màn đêm bằng chén cơm cố nuốt và bàn tay lau sạch cây súng, bằng những con toán mới đang lũ lượt kéo đến với tôi... Phải đào ngay hầm hố để mai chống càn. Nước rút, phải trục bọn “đầu cọp” kia đi Tam Sa mới nổi dậy được. Chưa đủ sức tiêu diệt thì bao vây bức rút. Một trận cối 60 nện xuống thình lình, sau đó bắn tỉa. Chỉ cần vài chục tay súng giỏi, mỗi ngày gạch tên mươi đứa, quân nó chạy loạn ngay... Ý định mới hiện dần từng nét, từng mảnh, như tấm giấy ảnh ngâm trong thuốc hiện. Cái nghề chụp ảnh năm xưa, ở Đà Nẵng...

Giá còn cái máy ảnh hồi ấy - ừ nhỉ, máy Ca-nông chụp ảnh bắn pháo là hợp - tôi sẽ ghi được bao nhiêu bộ mặt khác nhau của con quỉ Mỹ trong ngày nắng hôm nay. Phim hạt mịn, ống kính thu lại f.8 tha hồ lấy chiều sâu. Không, ánh sáng trời và nước đều gắt, dùng phim nhậy để giảm độ trắng đen, tráng giê-nôn nữa, thu kỳ hết chi tiết. Tôi mỉm cười. Chụp ảnh chưa cần bằng chụp đạn xuống đầu giặc. Tiếng Anh, bắn và chụp đều là sút, cũng phải...

Những ý nhỏ ấy níu tay nhau đến với tôi như trẻ em đến chơi với anh bộ đội. Bỗng dưng tôi bắt gặp một bông hoa vui đang nở ngập ngừng trong tôi, tỏa hương quen xông đầu tôi dịu dần. Tôi nhận ra rồi. Nó là niềm vui được đánh giặc. Nó hay đến bất chợt khi tôi sửa soạn ra trận, vào lúc chân tay bận rối cả lên nhưng nó cuốn người say người hơn mọi thứ vui khác trên đời. Nó chỉ kém cái vui thắng trận một chút thôi, có lẽ.