Mẫn và tôi - Chương 11 (phần 2)

 

Chị Biền chỉ mặt Năm Ri, em họ: “Đưa súng đây, tao đổi cho cái quần lụa, tao về mộ quân đờn bà đánh khá hơn mày!”. Mẹ Sáu tỉ tê với Mẫn và Chín Cang: “Mẹ mày Mẫn à, bả biểu tao hỏi thử bây mắc lo chồng con hay sao mà chẳng thấy ho he...”. Còn ông thầy Mười, trước khuyên “khoan đã”, bây giờ bước vào quán bà Liệp, cười khà: “Cha, ông Tám chạy giặc lên đây, coi bộ phát tài hơn hồi ở dưới ta nữa hé!”. Mấy bà có con bị bắt quân dịch nói sa sả với chú Liệp: “Các anh đêm về nổ một phát súng, đốt ít cây rào, trai làng kéo theo sạch ráo, tụi tôi mới khai Giải phóng về bắt con được chớ! Nhờ các anh bấy nhiêu mà cũng làm lơ cho đành! “

Chú Liệp và số chờ thời đã lâm nước bí.

Chú bắt đầu nói “phải tự tạo ra thời cơ”. Chú khen Mẫn và số anh em bênh Mẫn: “Có ăn có chọi mới gọi là trâu chớ”, chỉ trách họ đôi khi “phạm nguyên tắc tổ chức”. Rồi chú chia đội ra hai bộ phận, tiền phương và hậu phương. Mẫn được cử nắm tiểu đội du kích xuống Tam Sa đánh giặc phá ấp, tối đi sáng về hay muốn ở tùy lòng. Ở hậu phương là “nhóm lãnh đạo”, gồm những cán bộ lâu năm, coi như bộ óc của phong trào. Anh em đều thấy đúng. Mất ngón tay ngón chân không sao, mất đầu thì tiêu.

Những ngày đầu trở về bám xã sao mà quá gay go. Địch như con vi trùng đã ăn vào máu mà lờn thuốc, tiểu đội Mẫn đánh nó được ít mà bị nó đánh nhiều hơn, phục chỗ này, úp đằng kia, rượt chạy cùng gò. Bà con thấy du kích làm ăn cà trật cà vuột, thương lắm nhưng không tin, một số tránh dây dính vì “chẳng nước non gì mà chết lây uổng mạng”. Liên tiếp ba đồng chí trúng đạn, một chết, hai nữa bị thương cũng rút lựu đạn chia đôi với giặc. Có người nản bỏ về Tam Trân, cày ruộng trồng khoai tự túc cho đội. Được cái số đông càng bị địch đuổi càng sôi máu, thề “có chết cũng chết trên đất Tam Sa”. Anh Năm Tuất lầm lì, rất chậm, nhưng đã làm gì thì cưa đứt đục suốt. Đoàn viên như Răm Ri, Chín Cang xông xáo mạnh, chưa được kết nạp vì chú Liệp thấy còn non. Sau chừng một tháng quần lộn ẩu kiểu ấy, đội du kích mới móc được một số cơ sở, tìm ra những kẽ hở trên bộ mặt lởm chởm của địch, đứng vững được trên vùng gò, vài đồng chí vào nằm hầm trong ấp. Dễ thở rồi.

Hiểu địch, Mẫn cũng hiểu thêm ta. Sức ta lớn lắm nhờ có bốn ngàn dân căm giận. Những ai do dự cũng sẽ dám ra tay, không trước thì sau, cả xã nổi dậy thì trong người họ sẽ có cuộc nổi dậy của lòng yêu nước và những mối thù chưa trả. Bà con biết rõ lắm: một ngày chưa giải phóng là một ngày họ chết mòn, và khổ hơn nữa là họ bị địch dùng để giết cách mạng. Một cây rào cắm xuống, họ mất một cây đòn tay nhà, cũng có thể mất một đứa con khi nó về nhổ rào. Thằng em bị bắt quân dịch, biết đâu khi thả đạn vô nòng cối lại không bắn trúng anh nó bên giải phóng? Cái tủi nhục ấy lắm khi đau hơn roi, cực hơn xâu thuế. Bà con sùng sục đòi khởi.

Nhưng... khởi cách nào đây?

“Bộ óc” vẫn nằm trên kia. Đội du kích ở luôn dưới này, bỏ hẳn những chuyến đi đi về về rất nguy hiểm, bởi địch hay rải quân phục dọc sông Rù Rì, rắc pháo trên đồng lớn Tam Trân. Mẫn với Năm Tuất thay nhau lên báo cáo, chết hụt mấy lần, chú Liệp càng đủ cớ “bảo vệ cán bộ” để không về xã.Chú chỉ đạo từ xa bằng những câu “coi chừng đổ bể”, “Chuyện xương máu đừng làm ẩu”, và nhất là “phải giữ nguyên tắc tổ chức”, nguyên tắc ra sao thì tùy chú giảng. Tất cả các báo cáo gửi lên huyện đều do chú viết. Chỉ thị gửi xuống, chú đọc và giữ luôn. Cán bộ về kiểm tra, chú đón, chú kể sự tình theo khẩu vị của khách, muốn mặn có mặn, muốn ngọt có ngọt. Cần lắm chú mới cho người dẫn xuống khỏi sông Rù Rì gặp du kích một lát, lên ngay trong đêm, vì “du kích yếu quá chưa bảo vệ nổi”. Mẫn và anh em phải mò mẫm từng chút, phải chạy lên Tam Trân để hỏi từ cách nắm cơ sở đơn tuyến tới điều lệ Hội phụ nữ giải phóng, làm gì cũng nơm nớp sợ sai.

Phong trào Tam Sa lớn lên vẫn phải mặc mãi cái áo quá chật, cựa đâu đứt chỉ đó.

Đến đây Mẫn mới thật hiểu chú Liệp, mới dám bóc lớp sơn son thếp vàng của tượng thần để thấy đất sét bên trong.

Ngay từ đầu chú đã theo cách mạng với những tính toán “đôi bên cùng có lợi”, và chú muốn phần lợi của mình nhỉnh hơn chút đỉnh mà không hại tới việc chung. Chú vẫn phục vụ đấy, mà cũng khéo lấy lòng người này một tí, dìm người kia một tí, nhẹ nhàng lách qua người thứ ba. Đừng nghĩ oan rằng chú hoàn toàn ích kỷ, “cá nhân cả cục”, không phải. Chú biết cái đúng cái sai, nhưng bắc cân lên thì cái khôn cái dại cho riêng chú hơi nặng đầu đòn hơn. Chú tin cách mạng sẽ thắng, tin lắm. Lý lịch của chú có khoảng trống của mấy năm nằm im, không có vết đen của sự phản bội. Chú muốn tiến thân trong công tác, cái đó cũng thường tình thôi. Trong khung cảnh của vùng tự do dạo xưa, mấy năm mới một lần Tây đổ bộ tít dưới biển, chú có lựa việc phần nào nhưng vẫn là một cán bộ khá. Và chú cứ là một cán bộ khá, chắc vậy nếu miền Nam không bước vào cuộc thử lửa ác liệt hơn trước nhiều.

Với nếp tính toán đã quen, chú tránh lộ mặt, rồi chú chịu ra mặt lập đội, rồi chú kìm đội không cho đánh, rồi chú cho du kích đi đánh trong khi chú đứng sau xa cầm cương. Mẫn sợ hãi khi tìm thấy sợi chỉ xám - không trắng hẳn, không đen hẳn - xỏ xuyên qua các lời nói việc làm của chú. Chú muốn giữ chức cao nhất mà tốn ít mồ hôi nhất, và dứt khoát không tốn máu. Ngày thắng lợi đang đến gần, chú mong tới ngày đó chú sẽ là người có công lớn, ít nhất là công đầu trong xã mình, lại không phải mất đi một cái gì hết - vợ con, của cải, tất nhiên là không mất tay chân hay mất mạng. Đội Tam Sa về bám xã, đội trưởng không về thì mặt mũi nào: chú giữ anh em lại. Thế chẳng được đừng, chú phải tách bộ phận của Mẫn ra, còn sợ “tụi cứng đầu” thoát quyền kiểm soát của chú. Chú không dám đưa số trẻ vào đảng vì ngại pha loãng ảnh hưởng của chú. Khó tin rằng một người khôn như chú lại không thấy mình đang tự biến thành ông vua con. Muốn làm vua phải xây triều đình, có triều đình ắt có kẻ nịnh ngoi lên và người trung bị đày, tuồng tích thiếu gì. Rủi cho chú, chuyện đời xưa không thể lại xảy ra ở Tam Sa thời đánh Mỹ!

Năm Tuất cũng thấy như Mẫn, nhưng đơn giản hơn. Anh nghĩ chậm, nói càng chậm, động cãi với ai thì nổi lên cà lăm, đúng mấy cũng bị cười giễu. Mẫn thuộc hạng con nít mới lớn, đoàn viên và du kích rất tin nhưng đảng viên lớn tuổi coi thường, tại mắc cái tật mau nước mắt. Anh chị em khác chỉ khỏe đánh, không biết xây dựng phong trào.

Chưa khởi được, ta cứ đùng đoàng riết đi, dùng miệng súng nói thay miệng người. Đội du kích cứ ngày bắn tỉa, đêm phá ấp, khoái nhất là diệt ác ôn. Hồi đó ác số một là thằng Hiêm cảnh sát trưởng, Năm Ri dẫn một tổ xuống nằm vùng cát, rình đến trắng vờ con mắt mới hạ được nó giữa trưa. Thằng Tráng cầm đầu dân vệ được xếp số hai. Nó dẫn quân đi úp du kích ngoài gò, anh em bắn bậy mươi phát rồi chạy bay tóc, hôm sau đồng bào cho biết thằng Tráng trúng đạn toác đầu gối. Bọn tề khác rúng xương hết. Bọn quận đưa hai tên công an loại nghiện gan người về hà hơi. Mẫn mặc giả gái buôn, đạp xe trên đường nhựa theo chúng - tụi này không biết mặt du kích và chưa thạo trốn tránh - cho lựu đạn vào lưng, lấy hai súng ngon. Mỗi thằng ác ôn chết là lu bù gà vịt chết theo: bà con thắp hương cho người thân bị chúng giết, ăn mừng, khao du kích, cũng là một kiểu “cúng đất, chất rơm, quải cơm luôn thể”. Chưa được tổ chức hẳn hoi, bà con cứ tự nghĩ ra mà làm.Thấy lửa đốt rào nổi dưới Nhị Lộc, dân Tứ Nhơn cũng ra nhổ rào trước ngõ, kiếm củi chụm, trổ luôn một lối đánh trâu ra đồng cho gần. Ngày làm xâu hay thu thuế, y như rằng có súng bắn vào làng, cả ngàn người đều kêu đạn xẹt nóng hực mang tai, về nhà nằm ráo. Cô bác khen du kích, lại dặn: “Đã về phải ở cho bén rễ xanh cây, đừng huậy huậy rồi đi, nó trị chết dân đó”. Người biết hơn thì hỏi: “Các nơi nổi dậy lập chánh quyền hết, ta bấy nhiêu thôi à?”.

Mẫn biết không thể bấy nhiêu. Giẫm chân tại chỗ sẽ bị địch hất ra ngoài lần nữa. Phải tấn tới, nổi dậy. Năm Tuất nói: “Chắc cũng như cách mạng tháng Tám vậy đó!”. Mẫn ngớ ra: “Hồi đó tôi một tuổi, thêm tuổi bà mụ cho nữa là hai...”. Về hỏi chú Liệp, chú nói một buổi ròng, Mẫn nghe như lạc vào rừng tre gai, cựa đâu rách da đó, sai lầm với lệch lạc vây kín quanh người. Câu cuối của chú là “chưa chắc thì đừng nôn”. Chú không cản, chỉ khéo đặt Mẫn vào cái thế “làm được ăn chung, bể vung mình chịu”. Cứ làm, Mẫn hỏi các đồng chí Tam Trân, chị Tám Giàu, huyện đội, góp nhóp mỗi nơi một ít, học kinh nghiệm phát động quần chúng mà như học thuốc nam. Cấp trên lại báo liên tiếp rằng trước sau Mỹ cũng lật Diệm, nó bắn nhau mình nổi dậy, nghe càng ham.

Chú Tư Luân vừa vượt ngục ra, đầu còn trọc, hai gối thấp khớp đi nhúc nhắc, được cử ngay làm phó bí thư và đội phó Tam Sa. Trước chú làm nông hội, bị tù từ đợt hiệp thương, không một lần chịu chào cờ ba que, án ba năm mà chúng giam mãi không thả. Chú cười: “Bỏ mẹ, bây giờ mình quen cái trại giam hơn quen làng”. Chú cười suốt ngày. Làm việc với nhóm chú Liệp hai buổi, rồi chú chống gậy đi xuống vùng gò gặp du kích.

- Bây đào cho tao ít cái hầm bem, trong ấp ngoài ấp, tao bám luôn đây với...Con ông nào đó?… Chân tao sưng, mà không sưng tao cũng chẳng muốn chạy, ăn chung ở lộn với địch miết rồi, giờ hễ xa tụi nó tao cứ ngứa ngứa...Cha, Hai Mẫn gái đầu bà Mẫn lớn kinh vậy à? Chồng con gì chưa,cháu?...! Tào lao, bây đừng sợ sai. Tao thua tụi bây chẵn tám năm hoạt động, lạc hậu một cây, vậy chớ có một cái nguyên tắc tao nắm chắc khứ là bám dân đánh địch, giải phóng Tam Sa. Trật cái đó coi như trật hết!

Đội du kích mừng thôi là mừng. Mừng nhất là Mẫn. Cái thấp thỏm lo làm bậy biến mất, từ nay công việc tha hồ mà chạy hết trớn. Chú Luân rút thanh niên lên, du kích tăng vọt tới hơn ba chục. Thiếu súng,chú tập tễnh dắt một tiểu đội tay không đi tìm anh huyện đội trưởng, bạn tù ở Đà Nẵng một dạo: “Mày hẹn trả ơn tao cứu sống, trả đi!”. Làm ngang vậy mà được hai tuyn cải tiến với tám trường Mỹ. Lần khác, chú cầm xấp lý lịch của năm đoàn viên về gặp chú Liệp: “Mình đưa ông vô Đảng, tới lượt ông lo phát triển Đảng đi! Non hả? Cứ đem lý lịch hai đứa mình hồi kết nạp, so với tụi này, coi thử có được một phần mười không?”. Kỳ họp chi bộ sau đó, Năm Ri, Chín Cang và hai cậu nữa được chọn, cả chi đoàn sướng muốn nhảy tưng tưng.

Rồi Mẫn lại ngờ ngợ khi thấy mặt yếu của chú Luân. Đạo đức của chú, Mẫn học một đời chưa hết, nhưng chú nghĩ và làm như hồi đánh Pháp. Chuyện lúa khoai với tô tức thì chú giỏi đầu sổ, việc chính quyền chú biết một ít, còn đấu tranh chính trị hay binh vận chú mịt mù. Mẫn trách mình mắc cái tật lo đời, ưa vạch lá tìm sâu. Đến khi nghe chú nói mấy lần sai phương châm với anh em, Mẫn giật mình, vừa nhắc riêng chú vừa thấp thỏm sợ bị nạt. Chú nghĩ rồi cười xòa:

- Thấy tụi bây rờ đâu run đó, tao nói cứng, chớ trong bụng cũng một đống tơ vò... Ông Bảy biểu tao đi chữa bệnh, học hành ít tháng, tao nghe bây ở xã nhiều lúng túng, tao nói: Để tôi về gánh một khóa cho biết mùi phong trào, rán vực cày mấy con nghé thử coi, không rồi trâu già phế canh hết phải bỏ ruộng hoang đó! Xáp vô việc mới thấy cái gì cũng lạ, cũng khác, té ra đánh Mỹ mệt hơn đánh Tây nhiều. Chú được cái trung thành, mà chú dốt lắm cháu à, hỏi dốt chỗ nào chú cũng chẳng rõ, phải đợi khi nói bậy làm sai nó mới lòi cái dốt ra, như nhai cơm đụng sạn vậy đó. Chịu khó nhắc chú thiệt nhiều nghe cháu, tụi mình học nhau chớ học đâu cho kịp làm...

Chú cầm đuôi tóc của Mẫn trong tay, xoắn nhè nhẹ, nghĩ. Giọng chú lắng sâu xuống như dội từ xa về:

- Tụi nó tra chú mấy lần ngắc ngoải, ném nhà xác, chú muốn chết cho khỏe, sau lại nổi xung, phải đập đầu năm bảy thằng ác ôn rồi mới chịu nhắm mắt chớ. Chú không còn...à, không xông xáo được bao lâu nữa đâu. Bệnh tê thấp nó nhập tim rồi, cũng lợi là chú chẳng chạy xa được, cứ nằm lì trong ấp với bà con. Chú nói thiệt với cháu cái này, đừng cãi chú buồn. Bữa trước chú gặp bác Bảy, bạn cũ mà, chú bàn huyện nên chỉ định cháu làm bí thơ chi bộ, chủ tịch xã luôn...Đừng có hoảng! Cháu chịu lãnh cái đó, phong trào mới lên được, bà con đỡ cực cháu à. Tánh chú ưa ba lơn cười chơi, mà chú hay để ý coi người. Chú ký tên giới thiệu cả thảy chín anh chị em vô Đảng, điểm lại bây giờ ai cũng trụ bộ được hết, yếu nhứt là Tám Liệp thì cũng không đến nỗi quay lưng. Bác Bảy gật gật, vặn một cái làm chú giựt mình: “Con nhỏ tốt lắm, gan, sắc sảo, có điều... nhóm Tám Liệp chịu để cho nó làm việc không? Đồng bào đã thấy nó nhận ít lâu rồi chạy lên huyện trối vái xin trả cái bí thơ, đòi đi học y tá?”. Bác lo vậy là phải. Bác còn nhắc vầy: “Thôi, giao ông đó, ông làm một hai khóa, đào tạo một lứa trâu tơ biết cày biết báng, mới cạy răng dịch mà dân lấy đất được. Riêng Hai Mẫn, ông làm sao chi bộ bầu nó vô chi ủy với số phiếu cao, đồng bào bầu nó vô ủy ban tự quản cũng vậy, nó mới dám mạnh tay cầm lái chớ!”. Ờ, ờ, thằng bạn... bác Bảy nắm sát đó. Cháu là đảng viên, cán bộ, chẳng phải trẻ nít gì mà lạy dài kêu khó, chú nói để cháu liệu trước. Còn hễ khuyên dỗ được Tám Liệp với anh em kia chuyển tốt, càng nhẹ gánh cho tụi mình chớ sao. Tay Liệp sẵn chữ, thạo việc hành chánh, xã mình cần loại cán bộ đó lắm, nhưng mà vô cấp ủy thì không nên đâu cháu, qua bấy nhiêu năm đủ thấy rồi!

Mẫn nín thít ngồi nghe, không dám cãi, cũng chẳng dám bàn góp. Ban đầu Mẫn chảy nước mắt, quay đi lau lén, tới khúc sau lại ngẩn mặt nhìn chú, lo chú già hóa lẫn, ai lại đi bàn những chuyện dựng tóc như vậy với con nhỏ mới mười chín tuổi, làm bụp xẹp đôi chút nhưng mọi mặt khác thì như vịt nghe sấm!

Diệm bị lật. Đội du kích đánh nát một trung đội dân vệ, thu hơn chục súng, phá banh bốn ấp chiến lược Tứ Nhơn, đẩy lùi bọn biệt kích quận từ Nhị Lộc càn lên. Chú Luân trúng đạn vào vai, phải đi bệnh xá. Mẫn, Tuất và anh em khác lo đánh hùng hục, chưa biết tổ chức bà con cách sao. Nhóm chú Liệp xuống thăm, thấy cái thế đứng chông chênh quá, chỉ dặn anh em coi chừng mặt này điểm nọ rồi đi biến. Đồng bào mừng quá đỗi, nhưng chỉ biết đi phá rào ấp,mổ heo gà cho du kích ăn, núp coi đánh và hoan hô rầm trời, bấy nhiêu thôi, muốn làm gì nữa cũng chẳng hiểu làm sao cho phải. Vùng tự do cũ mà, dân lo đóng thuế nuôi quân, du kích quanh năm chỉ soát bắt tụi buôn lậu dọc đường xe lửa An Tân đi Bồng Sơn, giặc không tới cho mà đánh.

Lóng ngóng vậy, Tứ Nhơn vẫn đứng được hơn tháng. Mới hay thằng địch nó rệu đi nhiều, ta khó một nó khó mười. Sau một trận càn lớn, địch líp lại Tam Sa, du kích lại bật ra ngoài, tức muốn hộc máu miệng, còn phải nghe chú Liệp xuýt xoa: “Đã nói mà...”. Hiền như Năm Tuất mà phải nóng mũi, gắt: “Cần người đánh giặc chớ chẳng cần thầy bói!”.

Bác Bảy từ cánh Bắc vào, ở hẳn với đội Tam Sa mươi ngày. Bác hỏi kỹ từng người, buộc chú Liêp phải mở đại hội chi bộ, hai năm nay chưa họp lần nào. Chú Luân chưa lành cũng cố về dự. Ý kiến qua lại nảy lửa. Nhóm chú Liệp bị phê mạnh, cũng dập lại chẳng vừa, ghép cho chú Luân, Mẫn, Tuất và mấy đồng chí nữa, những là phiêu lưu, mù quáng, anh hùng cá nhân, giành uy tín gây chia rẽ, đủ thứ. Bác Bảy gợi nhiều hơn nói, nhưng mỗi câu gợi của bác đều dồn chú Liệp vào chỗ bí. Cuối hai ngày cãi găng, đại hội ra một nghị quyết tiến công địch rất ngon, mười ba phiếu thuận, bốn phiếu chống. Chú Luân trúng chi ủy với số phiếu cao nhất, rồi đến Mẫn. Chú Liệp được bầu ở vòng phiếu thứ hai. Nhiều đồng chí đã lên tiếng phê chú vẫn thấy cần có chú trong chi ủy để lo đời sống anh em và nắm việc hành chính.