Bí mật của Nicholas Flamel bất tử (Phần 3) - Chương 55 - 56 - 57

Chương năm mươi lăm

“Nước.”

Josh mở bừng mắt.

Một hành tinh khổng lồ màu xanh lơ bay lơ lửng trong không gian mênh mông. Những đám mây trắng xoáy tít trên bề mặt hành tinh ấy; nước đá lấp lánh trong những cái lỗ cũng trên bề mặt ấy

Và rồi cậu nhìn thấy mình đang rơi xuống, đang lao mình về phía hành tinh này, bổ nhào vào mặt biển khơi nhuộm màu xanh lơ tươi sáng. Mạnh mẽ và uy nghi, giọng Gilgamesh trầm vang và ầm ầm chung quanh cậu, nâng lên hạ xuống như những con sóng trong lòng đại dương.

“Người ta nói rằng Pháp thuật Không khí hoặc Lửa hoặc ngay cả Đất là ma thuật mạnh mẽ nhất trong hết thảy. Nhưng tất cả đều sai. Pháp thuật Nước vượt trội hơn tất cả những thứ khác, vì nước vừa trao ban sự sống lại vừa mang đến sự chết.”

Nín lặng, không thể nào nhúc nhích, thậm chí là quay đầu cũng không, Josh rơi qua những đám mây và chăm chú nhìn trong lúc thế giới này nở rộng ra, những vùng đất rộng bao la xuất hiện, dù cậu không nhận được đó là chỗ nào. Cậu lao tới một đốm đỏ rực ở chân trời, những đám mây đen và day đặc phía trên, cậu bay cao qua những vùng biển xanh màu cỏ đang nổi sóng.

Những ngọn núi lửa. Hơn cả chục ngọn núi trải dài dọc theo đường bờ biển gồ ghề lởm chởm, những con quái vật phun lửa và đá tan chảy vào bầu khí quyển. Các vùng biển gầm thét và tung bọt chung quanh bờ đá nóng đỏ hừng hực.

“Nước có thể dập tắt lửa. Thậm chí cả dung nham nóng chảy từ lòng hành tinh cũng không thể chống chọi nổi.”

Khi lớp dung nham đánh vào vùng nước biển đang nện thụi ầm ầm, nó nguội đi thành một cú nổ dày đặc khói. Cảnh tượng hơi nước đen kịt của lớp magma đông cứng lại hiện ra trong những đợt sóng.

Josh đang bay liệng một lần nữa, chỉ nghe được âm thanh duy nhất giộng thình thịch như nhịp tim đập trong giọng nói của nhà vua, mạnh mẽ song rất dịu dàng, như tiếng đập của sóng ru vỗ nhịp nhàng vào bờ biển xa xăm. Cậu con trai nhô cao khỏi vòng lửa, hướng sang phía đông, bay về phía mặt trời mọc. Những đám mây tụ tập bên dưới cậu; những búi mây nhường bước cho mấy quả banh mịn như lông tơ càng lúc càng dày lên từng cụm và rồi bung nở ra thành một dải rộng những đám mây bão trộn khuấy đục ngầu.

“Không có nước, không có sự sống...”

Josh ngã xuyên qua những đám mây. Ánh chớp lóe lên trong im lặng quanh người cậu, cà cơn mưa cuồn cuộn như thác dội trút ầm ào xuống những cánh rừng nguyên thủy xanh ngát tươi tốt sum suê, ở đó phủ kín mặt đất là những thân cây cao vời vợi và những cây dương xỉ to lớn không thể tưởng.

Cảnh quang lại thay đổi nữa, những hình ảnh đong đưa lung linh càng lúc càng nhanh hơn. Cậu bay vút qua bên kia vùng hoang mạc khô cằn quạnh quẽ nơi những đụn cát nhấp nhô khắp mọi hướng. Một đốm màu sắc đơn độc kéo cậu xuống, xuống, xuống về phía một ốc đảo, đám cây xanh mơn mởn đầy sức sống tụ tập quanh một ao nước lấp la lấp lánh.

“Loài những có thể sống sót với rất ít thực phẩm những không thể sống nổi nếu không có nước.”

Josh nhô lên và rơi xuống một dòng sông hùng vĩ cắt xuyên ngang những ngọn đồi cao lởm chởm. Rải rác lấm tấm dọc theo bờ sông uốn lượn là những khu nhà ở bé xíu, được thắp sáng bằng những ngọn lửa lập lòe nổi rõ trong bóng tối âm u. Phóng đi thật thấp dọc theo chiều dài con sông, cậu ý thức rằng thời gian đang lao đi vùn vụt. Nhiều thập kỷ, rồi thế kỷ, trôi qua tương đương với từng tích tắc một. Giông bão quất sang tận bên kia những dãy núi, mưa gió làm chúng mòn đi, khiến chúng mềm ra, làm chúng tiêu hao. Những túp lều bằng rơm giờ thay đổi thành những căn nhà bằng đất, bằng gỗ, bằng đá; rồi xuất hiện những ngôi nhà bằng nhiều lớp đá chồng lên nhau, một bức tường vây phủ quanh tất cả; một lâu đài hiện ra và tan thành mây khói, thay thế bằng một ngôi làng lớn hơn, rồi một thị trấn tầm thường làm bằng gỗ và đá; rồi một thành phố mọc lên, đá cẩm thạch bóng loáng và những cánh cửa sổ bằng kính chớp nháy dưới ánh sáng và cuối cùng mới biến đổi thành một thủ phủ hệt như ngày nay với những lớp kính và kim loại.

“Loài người luôn luôn xây dựng thành phố của mình trên các bờ sông và ven biển.”

Dòng sông mở ra thành đại dương bao la mênh mông. Mặt trời quệt những vệt sáng khắp bầu trời, chuyển động hầu như quá nhanh không thể nhìn thấy được khi thời gian vùn vụt lao đi.

“Nước là mạch giao thông chính của họ.”

Những con thuyền xuôi trên mặt nước, thoạt tiên là những chiếc xuồng, rồi đến thuyền có mái chèo, rồi tàu thủy với những cánh buồm căng phồng trong gió lộng, và cuối cùng là những tàu biển chở khách rộn thênh thang và những con tàu chở dầu cực lớn.

“... là nguồn cung ứng thực phẩm cho họ...”

Một đội tàu nhỏ gồm những chiếc tàu đánh cá kéo những mẻ lưới khổng lồ lên khỏi đại dương.

“... và cũng là ngày phán quyết cuối cùng của họ.”

Đại dương, to lớn và dậy sóng, màu sắc thâm tím lại, đập liên hồi vào những ngôi làng ven biển bị cô lập. Nước biển tràn ngập vào những con thuyền, cuốn phăng đi những cây cầu, để lại sự tàn phá theo sát sau mỗi vết chân.

“Không gì chống chọi nổi với sức mạnh của nước...”

Một bức tường nước mênh mông cuộn xuống một con đường trong thành phố hiện đại, tràn ngập vào nhà cửa, cuốn phăng những chiếc xe hơi.

Đột nhiên, Josh bay thẳng lên, trái đất rơi tuột bên dưới cậu và giọng nói nhà vua nhạt nhòa thành một lời thì thào, như tiếng rầm rì của cơn sóng vỗ vào bãi cát.

“Chính nước mang sự sống đến trái đất. Mà cũng chính nước suýt nữa đã phá hủy trái đất.”

Josh nhìn xuống hành tinh màu xanh lơ ấy. Đây mới là thế giới mà cậu nhận thức được. Cậu trông thấy hình dạng của những lục địa và quốc gia, đường cong của Bắc và Nam châu Mỹ, đường uốn éo của châu Phi. Nhưng rồi bất chợt cậu nhận ra có điều gì đó không ổn nơi những nét phác thảo của mặt đất. Chúng không giống như những gì cậu đã nhớ được từ lớp học địa lý của mình. Có vẻ như chúng rộng hơn, ranh giới phân định kém rõ ràng hơn. Vịnh Mexico trông có vẻ nhỉnh hơn, Vịnh California hoàn toàn biến mất và vùng Caribbean rõ ràng là bé xíu. Cậu không thể nhìn thấy hình dáng dễ nhận ra của nước Ý trong vùng Địa Trung Hải, và quần đảo Ireland cùng với Vương quốc Anh chỉ còn là một mớ chẳng ra hình thù gì.

Và trong lúc cậu đang chăm chú quan sát, màu xanh lơ của biển bắt đầu thấm lan lên mặt đất, dìm mặt đất xuống và lênh láng chảy tràn khắp...

Cậu rơi xuống nước, lọt thỏm vào giữa khoảng xanh lơ kia.

Rồi Gilgamesh chớp mắt và quay nhìn chỗ khác.

Còn cả hai đứa nhỏ song sinh thì chợt choàng tỉnh.

Chương năm mươi sáu

Francis, hay còn gọi là Comte de Saint-Germain, xoay người trong chiếc ghế của tài xế để ngoái lui nhìn Scathach. “Mà cô không nhìn thấy được thật hả?”

Scathach chồm người tới trước chen giữa Saint-Germain và Joan, đang ngồi nơi ghế dành cho hành khách, và cô chăm chăm nhìn vào tấm kính chắn gió. Ngay trước mặt cô là mặt chính đã bị hư hại của đại Vương cung thánh đường Notre Dame. Những cái miệng máng xối hình thú hay mặt người mình thú và những bức tượng kỳ dị pha trộn giữa thực tế với tưởng tượng từng trang trí mặt tiền của công trình xây dựng cổ xưa này giờ đây nằm chình ình trên sân trước của nhà tờ thành một đống gạch đá vụn chỉ đáng bỏ đi. Những nhóm người đến từ các học viện trên khắp nước Pháp, vây quanh bởi các tình nguyện viên và các sinh viên, đang đi loanh quanh trước ngôi thánh đường, cố ráp những mảnh vụn của đá trở lại với nhau. Tất cả những miếng đá hơi lớn đều có những mảnh dán nho nhỏ ghi số trên đó.

“Chúng ta đang kiếm cái gì vậy?” Cô ta hỏi.

Saint-Germain tựa cả hai tay trên vô-lăng của chiếc Renault đen và hất chiếc cằm nhọn chỉ về phía trung tâm của quảng trường trải đá. “Có thật các cô không nhìn thấy cột ánh sáng màu vàng kim mờ mờ kia chăng?”

Scathach nheo theo đôi mắt xanh màu cỏ của mình, quay đầu từ bên này qua bên kia, tìm kiếm, rồi cuối cùng nói, “Không.”

Bá tước nhìn vợ mình.

“Không,” Joan Arc nói.

“Đằng kia kìa,” Saint-Germain nằng nặc.

“Tôi không nghi ngờ gì về chuyện đó,” Scathach nói liền. “Có điều là tôi không thấy được thôi.”

“Nhưng tôi thấy được,” Saint-Germain trầm ngâm nói lớn. “Bây giờ, đó là một điều bí ẩn,” ông ta nói với vẻ hài lòng. “Tôi cứ cho rằng mọi người đều có thể nhìn thấy nó chứ.”

Joan giơ tay ra, những ngón tay cứng như sắt nắm chặt cánh tay chồng và siết mạnh để bảo ông ta im lặng. “Anh có thể giải đáp sau đi. Ngay bây giờ mình cần phải đi mà.”

“Ồ, nhất định rồi.” Bá tước phủi mái tóc đen dài ra khỏi trán và rồi chỉ tay ra giữa quảng trường. “Hai đường tuyến kết nối Bờ Tây của Mỹ với Paris. Cả hai đều cổ xưa không thể tưởng, và một cái - quả đúng là cái này - đi vòng quanh quả địa cầu, kết nối tất cả những nơi nguyên sơ đầy năng lượng vào với nhau.” Ông ta nghiêng tấm kính chiếu hậu để nhìn Scathach. “Khi cô, Nicholas và cặp song sinh đến, các người đã đi trong đường tuyến kết thúc tại nhà thờ xây sâu với hai dãy cột Sacré-Coeur ở vùng Montmartre. Về mặt lý thuyết, đường tuyến này không hoạt động, nhưng rõ ràng Bà Phù thủy Endor đã có đủ năng lượng để kích hoạt nó.”

“Francis,” Joan la lên, “chúng ta không có thì giờ cho một bài học lịch sử đâu.”

“Vâng, vâng, vâng. Đúng vậy, còn một đường khác, một đường tuyến mạnh mẽ hơn nhiều thì lại ở đây, ngay tại Điểm Zero bên ngoài Notre Dame nằm giữa trung tâm thành phố.”

“Điểm Zero à?” Scathach hỏi.

“Điểm Zero,” bá tước vừa lặp lại, vừa chỉ về phía ngôi thánh đường. “Chính ngay giữa lòng Paris; nơi này thật đặc biệt trong suốt nhiều thiên niên kỷ. Đây là điểm khởi đầu để đo mọi khoảng cách từ các nơi đến Paris.”

“Tôi thường băn khoản tự hỏi không biết tại sao địa điểm đặc biệt này lại được chọn,” Joan nói. “Vậy chắc không phải là một chọn lựa tình cờ hoặc ngẫu nhiên gì đó đâu nhỉ?”

“Hầu như không. Con người tôn kính nơi đây từ trước khi người La Mã đến. Họ luôn bị thu hút đến những nơi thế này và các nơi tương tự khác. Có lẽ, từ sâu thẳm trong gene di truyền của mình, người ta luôn nhớ rằng ở đây có một cổng tuyến. Gần như ngay trong mỗi thành phố thủ đô trên thế giới đều có Điểm Zero hoặc Ki-lô-mét Zero. Và gần như luôn luôn có các cổng tuyến ở gần đâu đó. Có một lần tôi đã dùng chúng để du hành khắp quả địa cầu này.”

Joan ngước nhìn chồng. Dù họ đã quen biết nhau qua nhiều thế kỷ, nhưng chỉ mới cưới nhau đây thôi, và cô nhận ra rằng vẫn có nhiều thứ cô không biết về anh. Cô chỉ tay về phía ngôi thánh đường. “Anh nhìn thấy gì nào?”

“Anh nhìn thấy một cột ánh sáng màu vàng kim chiếu thẳng lên trời.”

Joan nheo mắt nhìn vào ánh mặt trời đầu buổi chiều, nhưng cô không thấy gì cả. Mắt cô chạm phải một ánh lóe đỏ rực qua vai mình khi Scathach cũng lắc đầu. “Mấy cái cột này: chúng lúc nào cũng màu vàng kim hả?”

“Không phải lúc nào cũng vậy: hoặc là vàng kim hoặc là bạc. Trong những chuyến đi vào vùng Viễn Đông, tôi còn nhìn thấy những đường xoắn ốc màu bạc. Đã từng có lần, trước khi con người cổ xưa nào đó đánh mất khả năng nhìn thấy một cách tỏ tường, tôi tin rằng chắc hẳn người ta đã nhận diện các cổng tuyến bằng cách đơn giản là nhìn lên bầu trời để tìm ra những đường ánh sáng màu vàng kim hoặc ánh bạc.” Ông ta quay người nhìn Scathach. “Các Elder có thể nhìn thấy các cổng tuyến không?”

Scathach nhún vai. “Tôi không biết nữa,” cô ta nói thẳng thừng. “Tôi thì không thể, và trước khi anh hỏi, tôi chưa từng nghe ai nói bất cứ Thế hệ Kế tiếp nào có thể nhìn thấy một trong hai loại ấy.” Người phụ nữ trông còn rất trẻ xốc lại ba-lô trên vai mình, rồi kéo tấm khăn che đầu rộng bản màu đen xuống trán, hoàn toàn che mọi dấu vết về mái tóc đỏ rực của cô ta. Hai thanh kiếm ngắn cùng bộ của cô ta được quấn trong một lớp mền trong buộc chặt vắt ngang qua nắp ba-lô. “Vậy chúng ta làm gì bây giờ?”

Bá tước nhìn đồng hồ. “Cổng tuyến này sẽ được kích hoạt chính xác vào một giờ bốn mươi lăm chiều, giờ chính ngọ trên khắp Paris - đó là lúc mặt trời ở ngay vị trí thiên đỉnh.”

“Tôi biết chính ngọ nghĩa là gì rồi,” Scathach lầm bầm.

“Hãy đi thẳng đến Điểm Zero và đứng đó. Chìm sâu vào những viên đá cuội hai người sẽ tìm thấy một vòng tròn bao quanh một pháo hoa mặt trời nhỏ xíu. Vòng tròn này chia thành hai phần. Hãy bảo đảm là cả hai người phải đặt một bàn chân vào mỗi phần. Tôi sẽ không việc còn lại,” Saint-Germain nói. “Một khi cổng tuyến được kích hoạt, tôi sẽ đưa hai người lên đường.”

“Còn những tên hiến binh?” Joan vừa hỏi, vừa đeo lên vai cái ba-lô hợp màu với bộ đồ. Cô mang thanh kiếm của mình trong một ống giấy dày trước đây dùng để đựng một cái trụ ba chân dùng cho máy chụp hình.

“Anh cũng sẽ chăm sóc họ luôn,” Francis cười toe, để lộ hàm răng vặn vẹo. “Hãy ở trong xe cho tới khi nào hai người nhìn thấy tay cảnh sát ấy nói chuyện với tôi, rồi hẵng đi. Và mặc kệ chuyện gì xảy ra, đừng dừng lại cho tới khi hai người đến được Điểm Zero. Rồi chờ ở đó.”

“Rồi sao nữa?” Scatty hặng hỏi. Cô ta ghét phải sử dụng các cổng tuyến. Chúng luôn luôn làm cho cô có cảm giác say sóng.

Bá tước nhún vai. “Ừ, nếu mọi chuyện tiến hành theo đúng kế hoạch, hai người sẽ đến Bờ Tây của Mỹ ngay tức thì.”

“Còn nếu không?” Scatty hốt hoảng hỏi ngay lúc Saint-Germain bước xuống khỏi xe. “Chuyện gì sẽ xảy ra nếu mọi thứ không tiến hành theo đúng kế hoạch chứ: chúng tôi sẽ kết thúc ở đâu?”

“Ai biết được?” Francis vung tay. “Những cổng tuyến là năng lượng mặt trời hay năng lượng mặt trăng, tùy thuộc vào chúng chạy theo chiều nào. Tôi cho rằng lúc nào cũng có thể xảy ra khả năng là nếu có chuyện không ổn, cô sẽ hiện ra ngay giữa lòng mặt trời hoặc ở bên phía tăm tối của mặt trăng. Đường này chạy từ đông sang tây, vì thế đây là một đường mặt trời,” ông ta nói thêm, rồi mỉm cười. “Cô sẽ ổn mà.” Ông ta vòng tay ôm lấy Joan, siết cô thật chặt, rồi hôn nhẹ lên hai bên má cô và thì thầm gì đó vào tai cô. Sau đó, ông ta xoay người trong ghế ngồi của mình để nhìn Nữ Chiến binh. “An toàn nhé. Hãy đưa Perenelle ra khỏi hòn đảo và liên lạc với tôi. Tôi sẽ đến đón hai người.” Bá tước bước ra khỏi xe, đút hai tay vào túi chiếc áo khoác bằng da màu đen và thong thả đi qua mặt người hiến binh đứng gần đó nhất.

Joan quay người nhìn cô bạn mình. “Cô phải lấy lại vẻ ngoài của mình đi,” cô nói.

“Vẻ ngoài gì?” Scatty hỏi một cách ngây thơ, đôi mắt xanh lấp lánh.

“Tôi gọi đó là vẻ mặt chiến đấu. Lần đầu tôi nhìn thấy là ngay khi cô cứu tôi ra khỏi đám cháy. Có cái gì đó nơi khuôn mặt cô, nó... nhọn ra.” Cô đưa tay ra sau và lấy một ngón tay di dọc theo má Scathach. Như thể da thịt cô ta dính chặt vào xương, định rõ khung xương sọ bên dưới. Những chấm tàn nhang trông như những giọt máu nổi rõ trên làn da xanh xao.

“Đó là nét thừa kế chất ma cà rồng của tôi đó.” Bóng tối cười toe, hàm răng hoang dã dài nhằng trong miệng cô ta. “Nó xảy ra cho gia đình đông đúc của tôi khi chúng tôi bị kích động. Một vài loài hút máu không kiểm soát được sự thay đổi này và nó làm họ thay đổi hoàn toàn, biến họ thành những con quỷ.”

“Cô bị kích động vì sắp bước vào trận chiến hả?” Joan dịu dàng hỏi.

Scatty gật đầu, vui vẻ. “Tôi cảm thấy phấn khích khi được giải cứu người bạn yêu dấu nhất của chúng ta.”

“Sẽ không dễ dàng đâu. Bà ấy bị giam trên một hòn đảo đầy bọn quỷ sứ.”

“Bọn chúng thì sao nào? Cô là Jeanne d’Arc huyền thoại, còn tôi là Bóng tối. Thứ gì có thể chống lại chúng ta kia chứ?”

“Một con nhân sư thì sao?” Joan gợi ý.

“Chúng không quá gay go đâu,” Scatty nói nhẹ nhàng. “Trước đây tôi đã chiến đấu với con nhân sư và bà mẹ hoảng kinh của mụ ta.”

“Ai thắng?” Joan hỏi, kiềm nén một nụ cười.

“Cô nghĩ là ai nào?” Scatty thốt lên, rồi tự chữa lại. “Ừ thì, thật ra là, tôi đã bỏ chạy...”

Chương năm mươi bảy

Ngồi dựa lưng vào bức tường của nhà kho, cẳng chân duỗi thẳng ra, hai đứa nho song sinh chăm chú quan sát Nhà Giả kim và Gilgamesh đang bàn cãi ngoài kia. Nhà Giả kim đứng yên, im lặng; còn nhà vua thì khoa tay múa chân dữ dội.

“Họ đang nói tiếng gì vậy?” Josh hỏi. “Âm thanh hầu như nghe rất quen.”

“Tiếng Do Thái cổ,” Sophie nói ngay không suy nghĩ.

Josh gật đầu. Cậu đổi tư thế để dựa vào tường thoải mái hơn. “Chị biết không, em nghĩ...” Cậu chầm chậm mở lời, cố tìm những từ thích hợp qua một khoảng không trống rỗng trong đầu. “Em nghĩ thật còn hơn cả...” Cậu nhún vai. “Em không iết. Hơn cả ngoạn mục.”

“Những gì em nhìn thấy thì chị cũng thấy mà,” Sophie nói kèm theo mọt nụ cười mệt mỏi. “Em đừng gọi những hình ảnh ấy là ngoạn mục có được không?”

Cậu lại nhún vai. “Thật là thú vị. Nhưng em không cảm thấy có chút gì khác lạ. Em tưởng... em không biết nữa, em tưởng là sau khi học được một trong những pháp thuật, em sẽ cảm thấy... mạnh hơn, có lẽ thế. Mà thậm chí không biết tụi mình sẽ sử dụng ma thuật Nước như thế nào?” Cậu vừa hỏi, vừa giữ hai cánh tay thẳng ra đằng trước. “Tụi mình có phải làm cái gì đó với luồng điện của mình và nghĩ về những không? Tụi mình có nên thử không?”

“Bản năng thôi. Em sẽ biết phải làm gì khi đến đúng thời điểm.” Sophie giơ tay đẩy cánh tay cậu em trai xuống. “Không sử dụng luồng điện được đâu,” cô bé nhắc cậu, “việc đó sẽ làm lộ vị trí của mình đó. Đây là cái thứ ba trong số các pháp thuật cơ bản chị đã học,” cô bé nói, “và em nói đúng, pháp thuật này không ngoạn mục, nhưng cũng không giống như hai pháp thuật kia. Chị không cảm thấy mạnh hơn hoặc nhanh hơn hoặc cái gì đó như khi chị học Không khí và Lửa. Nhưng đúng là chị cảm thấy...” Cô bé dừng lại, tìm từ thích hợp. “Khang khác.”

“Khang khác?” Cậu nhìn người chị sinh đôi. “Chị trông chẳng có gì khác trước cả, ngoại trừ mắt chị hóa bạc. Khi đó trông chị dễ sợ lắm.”

Sophie gật đầu. Cô bé biết cậu có ý nói gì; cô bé từng nhìn thấy đôi mắt cậu em mình hóa thành hai chiếc đĩa dẹt bằng vàng và điều đó thật khủng khiếp. Ngửa đầu ra sau dựa vào mặt gỗ láng mướt, cô bé nhắm mắt lại. “Em có nhớ khi em được tháo bột nơi cánh tay hồi năm ngoái không?”

Josh càu nhàu. “Không bao giờ quên.” Cậu đã bị gãy cánh tay trong một cú truy cản bóng không đúng cách vào mùa hè trước và đã phải bó bột hết ba tháng.

“Em đã nói gì khi được tháo bột ra?”

Bất giác Josh giơ bàn tay trái lên quay nửa vòng, nắm các ngón tay lại thành một nắm đấm. Việc bó bột làm cậu phát tức không chịu nổi; có quá nhiều thứ cậu không làm sao được vì nó, kể cả việc thắt dây giày. “Em nói em cảm thấy trở lại chính mình.”

“Đó chính là cảm giác mà chị đang có.” Sophie mở mắt nhìn cậu em trai mình. “Với mỗi thứ pháp thuật chị học, chị cảm thấy con người mình ngày càng hoàn thiện hơn. Như thể đó là những phần trong chị đã lạc mất suốt cả cuộc đời và bây giờ chị được nên nguyên vẹn trở lại, hết mảnh này đến mảnh khác.”

Josh cố cười, nhưng âm thanh lại nghe như run rẩy. “Em cho rằng đến lúc chị học pháp thuật cuối cùng thì chị sẽ không cần em nữa.”

Sophie đưa tay siết lấy cánh tay cậu em trai. “Đừng có ngốc thế chứ. Em là em sinh đôi của chị. Tụi mình hai mà là một kia mà.”

“Một là tất cả,” cậu nói trọn câu.

“Chị thắc mắc không biết điều đó có nghĩa là gì,” Sophie thì thầm.

“Em có cảm giác là mình sẽ khám phá ra thôi - dù muốn hay không,” Josh nói.

 

[-([-([-( Thêm gacsach khi tìm truyện trên google để đọc bản ít lỗi chính tả hơn \:D/\:D/\:D/