Liêu Trai chí dị (Tập 2) - Quyển XIII - Chương 271 - 275

271. Lường gạt[1]

[1] Cục t.

I

Gia nhân nhà quan Ngự sử nọ tình cờ đứng trong chợ, có một người áo mũ đẹp đẽ sang trọng tới cạnh bắt chuyện, dần dà hỏi tới họ tên và quan chức của chủ nhân, người gia nhân cứ sự thật trả lời. Người kia tự xưng mình họ Vương, làm Nội sử của một Công chúa. Chuyện trò dần dần thân mật, y nói: “Đường làm quan nguy hiểm đáng sợ, người được vinh hiển đều phải nương dựa vào bậc quý thích, quý chủ nhân cậy nhờ ai?” Người gia nhân cười, đáp không nương dựa ai cả. Vương nói: “Thế thì đúng như người ta vẫn nói là Tiếc phí tổn nhỏ mà quên tai họa lớn đấy?” Người gia nhân hỏi: “Nhưng biết nương tựa vào ai cho được?” Vương đáp: “Công chúa lấy lễ đãi người, lại có thể bảo bọc cho người. Quan Thị lang Mỗ cũng do ta tiến dẫn đấy. Nếu không tiếc ngàn vàng làm lễ ra mắt, thì muốn gặp công chúa cũng không khó lắm.” Người gia nhân mừng lắm, hỏi chỗ ở của người ấy. Người ấy chỉ cửa nhà, lại nói: “Hàng ngày qua lại cùng ngõ mà không biết sao?” Người gia nhân về bẩm lại, viên Ngự sử mừng rỡ, lập tức bày tiệc, sai người gia nhân sang mời Vương.

Vương vui vẻ tới, trong bữa tiệc nói rõ từ tính tình tới thói quen của công chúa rất rành rẽ, lại nói nếu chẳng phải chỗ cùng ngõ gần gũi thì phải thưởng y trăm đồng vàng chứ không có chuyện làm giùm không công, viên Ngự sử càng tỏ lòng biết ơn. Khi ra về y hẹn: “Quan lớn cứ sắp sẵn lễ vật, ta sẽ cố tìm dịp bẩm với Công chúa, chỉ trong sớm chiều là có tin tới ông.” Vài ngày sau y mới tới, cưỡi một con ngựa cực đẹp, nói với Ngự sử rằng: “Xin mau sắp xếp vào hầu. Công chúa bận rộn lắm, người tới xin ra mắt nối nhau từ sớm đến tối không lúc nào ngớt. Hôm nay có một lúc rỗi, phải đi ngay, để lỡ thì không biết lúc nào mới có dịp nữa.” Viên Ngự sử vội đem vàng ròng lụa tốt theo y, đi quanh co hơn mười dặm mới tới phủ đệ công chúa, bèn xuống ngựa đứng chờ. Vương đem lễ vật vào trước, hồi lâu trở ra lớn tiếng gọi Công chúa triệu quan Thị ngự Mỗ, kế có mấy người nối nhau xướng lời tuyên triệu. Viên Ngự sử khép nép đi vào, thấy một mỹ nhân ngồi trên thềm cao, phong thái dung mạo như tiên, ăn mặc lộng lẫy, thị nữ đều mặc áo gấm dàn hàng la liệt. Viên Ngự sử phủ phục làm lễ bái yết, rất mực cung kính. Công chúa truyền lệnh cho phép ngồi, ban trà bằng chén vàng, nói vài câu khen ngợi. Thị ngự kính cẩn lui ra, trong nội điện lại truyền ban cho mũ lông điêu và tất bằng đoạn. Về tới nhà, viên Ngự sử rất biết ơn Vương, đích thân qua nhà y đưa thiếp xin gặp để cảm tạ, nhưng cửa đóng im ỉm, nghĩ rằng y đi hầu Công chúa chưa về, nhưng qua ba ngày liền vẫn không gặp. Bèn sai người đến cổng phủ Công chúa hỏi thăm, thì cũng thấy cổng đóng then gài. Hỏi người chung quanh, họ đều nói: “ đây không có Công chúa nào cả, hôm trước có mấy người đến thuê ở tạm, đã đi ba ngày rồi.” Người kia về báo lại, chủ tớ chỉ còn biết ngậm đắng nuốt cay mà thôi.

II

Phó tướng quân Mỗ mang tiền lên kinh để cầu cạnh được thăng chức nhưng khổ nỗi không có ai tiến dẫn. Một hôm có một người sang trọng tới chơi, tự nói anh vợ mình là người hầu cận thiên tử. Trà nước xong, y xin vào chỗ kín trò chuyện, nói: “Hiện nay ở xứ ấy còn khuyết một chức Tướng quân, nếu chịu tốn kém thì ta sẽ dặn anh ta ca ngợi ông trước mặt Thánh chúa, việc mà xong thì kẻ có thế lực bao nhiêu cũng không tranh được.” Mỗ vì người ấy đột nhiên tới tìm, ngờ là lừa dối, người ấy nói: “Chuyện này không nên chần chừ, ta chẳng qua chỉ muốn kiếm chác chút đỉnh ở ông anh vợ chứ với tướng quân thì một xu cũng không đòi hỏi. Giờ chỉ cần thỏa thuận rõ số tiền thù lao, làm giấy giao kèo, khi nào ông được thiên tử triệu kiến rồi mới phải chồng tiền. Nếu không có kết quả gì thì tiền của ông còn trong túi chứ đã ai móc mất?” Mỗ mới mừng rỡ bằng lòng.

Hôm sau y tới đưa Mỗ đi gặp người anh vợ, nói là họ Điền, hách dịch như bậc công hầu, Mỗ vào gặp thì tiếp đãi rất ngạo mạn vô lễ. Người kia đưa tờ giao kèo cho Mỗ, nói: “Ta vừa bàn với ông anh, chuyện này không đủ bạc vạn không được, xin ông ký xuống dưới này.” Mỗ theo lời, Điền nói: “Lòng dạ người ta khó lường, chỉ ngại việc xong rồi, lại lật lọng.” Người kia cười nói: “Anh quá lo, đã có thể cho chẳng lẽ không đoạt lại được à? Vả lại các quan trong triều có người tình nguyện nộp tiền mà còn không được đường công danh sắp tới của tướng quân đây còn xa rộng lắm, chắc không tới nỗi như thế đâu. Mỗ cũng ra sức thề thốt rồi về, người kia tiễn chân, dặn: “Ba ngày nữa, xin trả lời ông.” Qua hai ngày, trời vừa sẩm tối, có mấy người chạy tới báo: “Thánh thượng đang đợi.” Mỗ cả kinh vội vàng vào chầu, thấy thiên tử ngồi trên điện, quân nanh vuốt dày đặc chung quanh. Mỗ phủ phục làm lễ bái kiến xong, Hoàng thượng cho ngồi, thăm hỏi ân cần rồi ngoảnh lại nói với tả hữu “Trẫm nghe danh Mỗ vũ dũng phi thường, nay thấy mặt, quả thật có tài Tướng quân.” Nhân đó lại nói: “Xứ ấy là đất hiểm yếu, nay ủy thác cho khanh, khanh chớ phụ lòng trẫm, nay mai sẽ có sắc phong chính thức.” Mỗ bái tạ lui ra, lập tức có người kia theo về nơi trọ, theo đúng giao kèo nhận tiền.

Rồi đó Mỗ cứ nằm khểnh đợi sắc phong, hàng ngày đã khoe khoang với bè bạn. Qua mấy ngày, hỏi dò mới biết chức Tướng quân khuyết kia đã có người được bổ rồi. Mỗ cả giận, tới thẳng bộ Binh chất vấn: “Mỗ đây đã nhận mệnh của Hoàng đế, sao người khác lại được bổ?” Quan Tư mã ngạc nhiên, Mỗ kể lại mọi việc, có tới một nửa như cảnh trong mộng. Tư mã nổi giận bắt đưa qua quan Đình úy xét xử, lúc ấy Mỗ mới cung khai tên họ người tiến dẫn, nhưng trong triều không có ai như thế, lại phải tốn kém bạc vạn nữa để chạy chọt mới chỉ bị cách chức đuổi về.

Lạ thay! Hạng võ biền tuy ngu ngơ nhưng chốn triều đường lại có thể đóng giả được sao? Ngờ rằng bên trong có trò ảo thuật gì đây, như lời người ta thường nói là Hạng trộm cướp lớn không cần phải vung đao múa gậy.

III

Lý sinh người huyện Gia Tường (tỉnh Sơn Đông) giỏi đánh đàn cầm. Tình cờ đi chơi trên đồng phía đông huyện thành, thấy thợ thổ đào được được một chiếc đàn cầm cổ, bỏ ít tiền ra mua. Lau chùi thấy thân đàn có ánh sáng lạ, so dây gảy thử thì tiếng trong vang lạ thường. Sinh mừng như bắt được ngọc quý, cất vào túi gấm, giấu trong phòng kín, dẫu họ hàng rất thân thiết cũng không cho xem. Có quan huyện họ Trình mới về nhậm chức đưa danh thiếp tới chào Lý. Lý vốn ít giao du song vì ông ta tới chào trước nên đành qua đáp lễ. Vài ngày sau ông ta mời qua uống rượu, nài nỉ quá nên Lý phải tới. Trình là người phong nhã hơn đời, nghị luận sâu rộng nên Lý cũng thích. Hôm sau, Lý gửi thư mời lại, chuyện trò càng thấy hợp. Từ đó, sớm ngắm hoa, đêm thưởng nguyệt không mấy khi không có nhau.

Được hơn năm, một hôm Lý vào huyện đường, tình cờ nhìn thấy một cái túi gấm đựng đàn cầm đặt trên ghế, bèn mở ra xem. Quan huyện hỏi có am hiểu nghề này không? Lý đáp không rành lắm nhưng thường ngày cũng thích. Quan huyện ngạc nhiên nói: “Biết nhau không phải mới một ngày, sao lại không cho nhau được nghe tiếng đàn tuyệt kỹ? Xin đốt lò trầm, mong ông dạo vài khúc nhỏ.” Lý vâng lời đánh đàn, Trình khen: “Thật là bậc thầy! Ta cũng xin múa rìu qua mắt thợ, mong ông chớ cười.” Nói rồi gảy khúc Ngự phong, thanh âm lạnh lẽo, quả có cái ý xuất trần dứt tục. Lý vô cùng kính phục, xin tôn làm thầy, từ đó hai người giao du ngày càng thân thiết.

Được hơn một năm, Trình truyền lại cho Lý hết mọi ngón đàn, nhưng mỗi khi Trình tới nhà, Lý chỉ đem đàn thường ra chơi, chưa từng để lộ ra là có cây đàn quý. Một đêm uống rượu ngà ngà say, quan huyện nói: “Ta mới soạn được một khúc đàn, ông nghe thử xem thế nào?” Rồi gảy một khúc Tương phi vô cùng ai oán, Lý hết lời ca ngợi. Quan huyện nhân nói: “Chỉ tiếc không có đàn tốt, nếu có thì âm điệu còn hay hơn nhiều. Lý vui vẻ nói: “Ta có một cây đàn khác hẳn loại thường. Nay đã gặp tri âm đâu dám giữ kín mãi.” Bèn mở hòm, xách túi gấm đựng đàn ra. Quan huyện lấy đàn ra, kéo Vạt áo lau ghế, đặt đàn lên gảy lại khúc nhạc, lúc khoan lúc nhặt theo đúng âm luật, xảo diệu nhập thần, Lý nghe mà tay bất giác cũng đánh nhịp theo.

Đàn xong, Trình nói: “Chút ít tài mọn làm phụ cả cây đàn quý. Nếu cho tiện nội tấu một khúc thì còn có một hai tiếng nghe lọt tai.” Lý kinh ngạc hỏi: “Quý phu nhân cũng giỏi đàn sao?” Quan huyện cười nói: “Những ngón đàn ông thấy trước nay đều do tiện nội truyền cho.” Lý nói: “Tiếc rằng tiểu sinh không sao được nghe tiếng đàn nơi khuê các!” Quan huyện nói: “Chúng ta giao du với nhau thân thiết, cần gì phải kiêng kỵ hình tích lặt vặt. Ngày mai xin mang đàn qua, tiện nội có thể cách rèm đàn cho ông nghe.” Lý mừng rỡ, hôm sau ôm đàn qua, Trình lập tức sai bày tiệc, lúc sau mang cây đàn vào nhà trong rồi trở ra. Vừa ngồi vào bàn thì sau rèm đã thấp thoáng bóng giai nhân, kế đó mùi hương lan ngào ngạt tỏa ra tới của. Giây lát tiếng đàn khe khẽ trỗi lên, Lý lắng tai nghe không rõ là khúc gì, chỉ thấy tâm thần xao xuyến, thân xác chơi vơi hồn phách bay bổng.

Tiếng đàn ngưng, Lý liếc mắt qua rèm thấy một giai nhân khoảng ngoài hai chục xuân xanh, sắc đẹp tuyệt thế. Quan huyện lấy chén lớn chuốc rượu, tiếng đàn bên trong đổi sang khúc Nhàn tình. Lý cả thân xác tâm thần đều thấy rung động phiêu diêu, uống hơi quá chén thấy đã say, đứng dậy cáo biệt, lên tiếng xin lại cây đàn. Quan huyện nói: “Ông đang say, coi chừng ngã. Mời ngày mai lại qua chơi cho tiện nội được trổ hết tài nghệ,” Lý bèn ra về. Hôm sau qua thì nhà cửa vắng tanh, chỉ có một người lính già gác cổng. Lý hỏi thăm, người lính nói: “Lúc canh năm quan huyện đã đưa hết cả gia đình đi, không biết làm gì, chỉ hẹn ba ngày quay lại.” Đến ngày hẹn, Lý lại qua chờ, đến tối mịt vẫn không thấy âm hao. Các lại dịch ở huyện đều nghi ngờ, lấy cớ có việc phải bẩm phá cửa vào tìm, thấy trong nhà trống không, chỉ còn có mấy món bàn ghế, bèn đem chuyện bẩm lên quan trên, quan trên cũng không rõ vì sao.

Lý mất cây đàn, mất ăn mất ngủ, lặn lội suốt mấy ngàn dặm, hỏi thăm khắp nơi mới biết Trình sinh vốn người đất Sở, ba năm trước đây nhờ quyên tiền được bổ làm Tri huyện Gia Tường. Lý theo tên họ, quê quán đi tìm thì đất Sở hoàn toàn không có người ấy. Có người nói có một đạo sĩ họ Trình, giỏi đàn cầm, nghe đồn biết thuật điểm kim, ba năm trước bỗng đi đâu mất không thấy trở về, có lẽ là người ấy. So lại tuổi tác, hình dáng thì quả đúng không sai, lúc ấy mới biết đạo sĩ quyên tiền mua chức quan đều vì cây đàn. Kết giao hơn một năm không nói gì tới âm luật rồi mới đưa đàn ra, dạy đánh đàn, kế dùng sắc đẹp để làm xiêu lòng, dần dà suốt ba năm, lừa lấy được cây đàn là đi ngay, cái bệnh mê đàn của đạo sĩ so ra lại còn hơn cả Lý sinh. Cách lường gạt trong thiên hạ thì nhiều vô kể, nhưng như đạo sĩ thì còn là một kẻ phong nhã trong bọn lường gạt.

272. Mộ Tào Tháo[1]

[1] Tào Tháo trủng.

Ngoài thành huyện Hứa (tỉnh Hà Nam) có sông chảy rất xiết bờ sông có một chỗ dựng đứng, nước rất sâu. Một hôm mùa hè có người xuống chỗ đó tắm, chợt như bị đao búa chém nát, thi thể nổi lên, sau có một người nữa cũng bị như vậy. Người ta sợ hãi đồn đãi, quan huyện nghe được, bèn sai người đóng cừ gỗ ngăn lấp thượng lưu. Khi nước chảy cạn, thấy chỗ dưới bờ sông có hang sâu, cửa hang đặt bánh xe xoay bằng sức nước, trên gắn đao bén. Nhổ bỏ bánh xe tiến vào hang, thấy có tấm bia nhỏ viết chữ triện đời Hán, đọc kỹ thì là mộ của Tào Mạnh Đức. Bèn phá quan tài thu lấy hết vàng bạc chôn theo, vứt bỏ xuống đi.

Dị Sử thị nói: Hậu hiền có thơ rằng: “Tận quật thất thập nhị nghi trủng, Tất hữu nhất trủng táng quân thi” (Đào hết bảy mươi hai mộ giả[2], Ắt có một mộ chôn thây ông), ngờ đâu thật ra mộ Tào Tháo lại ngoài số mộ giả ấy? A Man gian giảo thật. Nhưng bộ xương nát sau hơn ngàn năm vẫn không giữ được, thì trí trá như vậy có ích gì? Than ôi, cái khôn của A Man chính là cái ngu của A Man vậy.

[2] Bảy mươi hai mộ giả: tương truyền Tào Tháo lúc sắp chết có dặn làm bảy mươi hai ngôi mộ giả để đề phòng có kẻ đào mộ mình.

273. Chửi người trộm vịt[1]

[1] Mạ áp.

Bạch gia trang ở phía tây huyện ta có người nọ bắt trộm vịt của hàng xóm ăn thịt. Đến đêm thấy ngứa, sáng ra nhìn thì thấy lông vịt mọc đầy người, nhổ thì đau, sợ quá nhưng không có cách nào chữa khỏi. Đến đêm nằm mơ thấy một người nói: “Bệnh của ngươi là trời phạt, phải được người mất vịt chửi cho thì lông vịt mới rụng.” Nhưng ông già hàng xóm lại là người cao nhã tự trọng, bình sinh bị mất trộm chưa từng động thanh sắc. Người nọ bèn đặt chuyện nói với ông già rằng: “Con vịt bị mất ấy là do tên Mỗ trộm, y rất sợ bị chửi, nếu ông ra ngõ đứng chửi thì cũng có thể ngăn chặn y về sau.” Ông già cười nói: “Ai rảnh rỗi mà đi chửi bọn người xấu,” rốt lại cũng không chửi. Người nọ bí quá, phải thú thật. Ông già bèn chửi, người ấy mới được khỏi bệnh.

Dị Sử thị nói: Hay thật! Người nhường nhịn thật đáng sợ, nhường nhịn một lần mà lông vịt mọc đầy người kẻ trộm. Hay thật? Người hay chửi nên lấy đó làm răn. Chửi một câu thì kẻ trộm hết tội, nên làm điều lành phải có thuật, ông già hàng xóm kia là người lấy việc chi mắng làm điều nhân từ đấy.

274. Yêu nhân giả gái[1]

[1] Nhân yêu.

Mã sinh tên Vạn Bảo là người huyện Đông Xương (tỉnh Sơn Đông), tính ngông nghênh không chịu bị trói buộc. Vợ là Điền thị cũng phong lưu phóng khoáng, vợ chồng rất hòa hợp. Có người con gái tới ngụ nhà bà già góa chồng bên hàng xóm, nói là bị cha mẹ chồng ngược đãi nên bỏ trốn, lại may vá cực khéo, làm giúp cho bà già mấy thứ, bà già rất mừng bèn giữ lại ở cùng. Được vài hôm, tự nói rằng biết phép xoa bóp, có thể chữa các bệnh đàn bà. Bà già thường qua nhà sinh chơi, khen ngợi thuật của cô gái song Điền thị cũng không để ý. Một hôm sinh nhìn trộm cô gái qua khe vách, thấy trạc mười tám mười chín tuổi, dáng vẻ phong vận, trong lòng rất thích, bèn bàn với vợ bảo bị bệnh gọi qua chữa giúp. Bà già qua trước, tới bên giường Điền thị nằm hỏi thăm rồi nói: “Được nương tử gọi tới, thì cô ta phải qua. Song cô ta rất sợ gặp mặt đàn ông, nên xin đừng để cho lang quân vào phòng.” Vợ sinh nói: “Nhà cửa chật hẹp, người này kẻ kia ra vào, làm sao mà tránh gặp mặt được.” Kế lại nghĩ ngợi rồi nói: “Ông cậu ở thôn Tây gọi chồng ta qua uống rượu tối nay, thôi cứ bảo ở luôn lại đó đừng về, thì cũng tiện.” Bà già đồng ý ra về. Vợ chồng sinh bàn xong kế đánh tráo, cười chờ thi hành.

Lúc trời tối, bà già đưa cô gái qua, nói: “Tối nay lang quân có về không?” Điền thị đáp: “Không về đâu.” Cô gái mừng nói: “Như vậy mới tiện.” Bà già chuyện trò vài câu rồi cáo từ ra về, Điền thị bèn thắp đèn trải giường, để cô gái lên giường trước rồi cởi áo tắt đèn. Chợt nói: “Quên cài then cửa nhà bếp, không khéo chó vào ăn vụng,” rồi ra mở cửa phòng, đánh tráo cho Sinh vào. Sinh rón rén vào, lên giường, cô gái mơn trớn nói: “Ta sẽ cha cho nương tử khỏi bệnh.” Sinh lặng ngất không đáp, cô gái bèn xoa bụng Sinh, mò tới dưới rốn thì dừng tay lại, ú hoảng sợ như nắm phải rắn rết, vội nhảy choàng dậy muốn chạy trốn. Sinh hoảng sợ, gọi thắp đèn. Vợ sinh cho rằng việc vỡ lỡ, vội thắp đèn bước vào, đang định điều đình, nhìn thấy cô gái lạy phục dưới đất xin tha mạng thì xấu hổ hoảng sợ, vội bước ra. Sinh căn vặn, y nói: “Ta là người huyện Cốc Thành (tỉnh Thiểm Tây) tên Vương Nhị Hỷ, có anh là Đại Hỷ là học trò của Tang Xung nên được dạy lại thuật giả làm đàn bà.” Lại hỏi: “Đã làm ô nhục bao nhiêu người rồi?” Đáp: “Vào đời hành đạo chưa lâu, mới lừa có mười sáu người thôi.” Sinh nghĩ tội đáng giết, đã định đi báo quan, song lại thương vì dung mạo đẹp đẽ, bèn trói quặt hai tay ra sau lưng rồi thiến đi, máu chảy lênh láng, khoảng sau bữa cơm thì tỉnh lại. Sinh bèn đặt y nằm trên giường, đắp chăn lên cho, dặn rằng! Ta sẽ cắt thuốc chữa cho, khi nào lành rồi phải theo ta suốt đời, nếu không việc lộ ra không được tha chết đâu,” họ Vương vâng dạ.

Hôm sau bà già qua, sinh tiếp nói: “Nó là đứa cháu gái của ta tên Vương Nhị Thư, vì có tật kín lúc mới sinh ra nên bị nhà chồng đuổi, đêm qua gặp hỏi lai lịch mới nhận ra. Nhưng nó đang bị cảm nhẹ, ta đang định đi mua thuốc và xin phép bà cho nó được lại bên này làm bạn với vợ ta.” Bà già vào phòng thăm thấy mặt xám như tro, bèn ngồi xuống bên giường hỏi han, Vương nói: “Bệnh kín đã phát ra, sợ là bệnh nặng,” bà già tin bèn ra về. Sinh cắt thuốc châm chước điều trị cho Vương, về sau bình phục, giúp đỡ Điền thị giặt giũ quét dọn, nấu cơm xách nước, chăm chỉ còn hơn cả tỳ nữ. Không bao lâu, yêu nhân Tang Xung bị giết, đồng bọn bảy người đều bị chém ở chợ. Duy có Nhị Hỷ lọt lưới, quan ra lệnh truy nã, khám xét rất nghiêm ngặt. Người trong thôn đều ngầm nghi ngờ Vương, bèn tập hợp các bà già tới khám, cho mặc quần sờ vào chỗ kín, từ đó mới hết nghi ngờ Vương cho rằng được nhờ ơn đức mà sống nên theo hầu Mã sinh đến trọn đời. Về sau chết được chôn cạnh mộ của Mã, đến nay vẫn còn nguyên vẹn.

Dị Sử thị nói: Mã Vạn Bảo có thể nói là kẻ khéo dùng người vậy. Trẻ em thích bắt cua để chơi, vì sợ nó có càng, đều bẻ càng rồi nuôi. Than ôi, nếu hiểu được ý ấy thì có thể trị cả thiên hạ vậy.

275. Công thọ Vi[1]

[1] Vi công t.

Công tử họ Vi là con nhà thế gia ở huyện Hàm Dương (tỉnh Thiểm Tây), tính dâm dật buông thả. Có lần mang theo mấy ngàn đồng vàng đi chơi, định thưởng thức hết các kỹ nữ nổi tiếng trong thiên hạ, phàm những chỗ ăn chơi không đâu không tới, không thích thì chỉ ngủ một đêm là đi ngay, vừa ý thì ở lại cả vài tháng. Chú ruột công tử là một vị quan nổi tiếng mới về hưu, nghe thấy hành vi của cháu giận lắm, bèn mời thầy giỏi dựng nhà riêng, bắt công tử cùng các con đóng cửa đọc sách, tối thì ngủ cùng phòng với thầy. Công tử chờ thầy ngủ rồi là trèo tường trốn về, gần sáng mới trở lại, cứ thế làm mãi. Một hôm bị trượt chân ngã gãy tay, thầy mới biết, báo cho chú. Ông liền đánh thêm cho một trận rồi mới thuốc thang chữa chạy cho. Được hơn một tháng thì khỏi, ông giao hẹn với công tử rằng nếu học vượt hẳn các em, văn hay chữ tốt, thì ra ngoài tùy thích, còn nếu lén lút chơi bời thì sẽ đánh đòn như trước. Nhưng công tử rất thông minh, học thường vượt mức, sau vài năm thi đỗ khoa thi hương, muốn bỏ lời giao hẹn cũ, nhưng chú vẫn còn kiềm chế.

Khi công tử lên kinh thi, ông sai một người lão bộc đi theo, giao cho một quyển sổ nhật ký, dặn phải ghi chép lời nói việc làm hàng ngày, nhờ vậy mấy năm liền công tử không làm việc gì sai trái. Về sau công tử thi đỗ Tiến sĩ, ông mới hơi nới lệnh cấm, nhưng công tử vẫn sợ chú biết, nên những khi đi chơi bời vẫn mạo xưng là họ Ngụy. Một hôm công tử qua Tây An, gặp một người con hát tên La Huệ Khanh, tuổi chừng mười sáu mười bảy, xinh đẹp như con gái, thích lắm giữ lại mấy ngày, định đem theo về. Hỏi tới gia đình, Khanh đáp: “Mẹ mất sớm, chỉ còn cha. Ta vốn không phải họ La. Mẹ ta lúc trẻ hầu hạ trong nhà họ Vi ở Hàm Dương, bị bán cho nhà họ La, được bốn tháng thì sinh ra ta. Nếu được theo công tử về, may ra có thể hỏi thăm được gốc gác.” Công tử kinh ngạc, hỏi họ của người mẹ, đáp là họ Vi. Công tử vô cùng kinh hãi, toàn thân đẫm mồ hôi, vì mẹ Khanh chính là tỳ nữ trong nhà mình lúc trước. Bèn im lặng không nói, sáng ra cho Huệ Khanh rất nhiều tiền, khuyên nên bỏ nghề. Kế nói thác rằng có việc phải đi, hẹn lúc nào trở lại sẽ gọi, rồi giã từ bỏ đi.

Sau công tử được bổ làm quan huyện nọ thuộc Tô Châu, gặp một ca kỹ tên Thẩm Vi Nương, xinh đẹp phong nhã tuyệt trần, công tử rất ưa thích, hỏi đùa rằng: “Tiểu tự của nàng có phải lấy từ câu ‘Xuân phong nhất khúc Đỗ Vi nương’ (Gió xuân một khúc Đỗ Vi nương) không?” Nàng đáp: “Không phải. Mẹ thiếp mười bảy tuổi đã là kỹ nữ nổi tiếng, có vị công tử ở Hàm Dương, cùng họ với ông, ở lại với mẹ thiếp ba ngày, hẹn chuyện cưới xin. Công tử đi rồi, tám tháng sau thì sinh ra thiếp, nên mới đặt tên là Vi, chứ thật ra đó là họ của thiếp. Lúc chia tay công tử có tặng mẹ đôi chim uyên ương bằng vàng, đến nay hãy còn. Nhưng công tử ra đi một lần là bặt tin luôn, mẹ thiếp vì thế phẫn uất buồn rầu mà chết. Thiếp lên ba tuổi thì được bà Thẩm nuôi nấng, nên lấy họ Thẩm.” Công tử nghe nói, hối hận nhục nhã không sao chịu được. Im lặng một lúc, chợt nghĩ ra một kế, ngồi phắt dậy khêu đèn, gọi Vi Nương ra uống rượu, rồi ngầm bỏ thuốc độc vẫn mang theo người vào chén. Vi Nương vừa nuốt khỏi cổ đã vật vã rên xiết, mọi người đổ tới thì đã tắt thở. Công tử gọi bọn con hát tới, nhờ họ chôn cất, lại lót tay rất nhiều tiền để bịt miệng. Nhưng đám khách thân quen với Vi Nương toàn là con nhà thần thế, nghe chuyện không rõ vì sao nàng chết, thảy đều bất bình, bèn góp tiền cho bọn con hát, xúi họ kiện lên quan trên. Công tử hoảng sợ phải dốc túi dập chuyện đi, cuối cùng bị cách chức vì tội bừa bãi khinh suất. Công tử về nhà thì đã ba mươi tám tuổi, rất hối hận về những hành vi trước kia, mà thê thiếp năm sáu người đều không có con trai, bèn xin đứa cháu nội của chú làm con nối dõi. Ông chú lại nghĩ chàng vô hạnh, sợ trẻ nhiễm thói xấu, nên tuy ưng thuận song lại đợi khi nào công tử già rồi mới cho qua. Công tử phẫn uất, muốn qua gọi, ông chú nghe thế than: “Thế thì sắp chết thật rồi.” Bèn cho đứa con của người con trai thứ sang nhà công tử để sớm tối chăm sóc. Hơn một tháng, quả nhiên công tử chết.

Dị Sử thị nói: Thông dâm với tỳ nữ, chơi bời nơi kỹ viện là thói xấu thường thấy của người đời, nhưng ăn nằm với cả con ruột của mình thì những người làm cha trong đời nghe thấy cũng đều xấu hổ. Mà quỷ thần lại hý lộng run rủi tới như thế, nhưng vẫn không tự móc tim thắt cổ, mà lại đổ mồ hôi, bỏ thuốc độc, chẳng phải là kẻ mặt người dạ thú sao?