Lỗi lầm ở những vì sao - Chương 15 - 16

CHƯƠNG MƯỜI LĂM

Mấy ngày sau tại nhà Gus, bố mẹ anh và bố mẹ tôi và Gus và tôi ngồi chen chúc quanh cái bàn ăn, thưởng thức món ớt nhồi trên tấm khăn trải bàn mà, theo lời bố của Gus, lần cuối cùng người ta thấy nó được sử dụng là trong thế kỷ trước.

Bố tôi: “Emily, món risotto này…”

Mẹ tôi: “Thật là ngon.”

Mẹ Gus: “Ồ cảm ơn anh chị. Tôi rất sẵn lòng chỉ cho anh chị công thức nấu ăn.”

Gus, vừa nuốt một miếng: “Nhưng mà con thấy mùi vị chính không giống Oranjee.”

Tôi: “Nhận xét tốt, Gus. Món này, dù ngon, nhưng ăn không giống Oranjee.”

Mẹ tôi: “Hazel.”

Gus: “Nó giống vị…”

Tôi: “Thức ăn.”

Gus: “Đúng, chính xác. Giống vị thức ăn, được chuẩn bị rất chu đáo. Nhưng vị không giống, làm thế nào để diễn đạt một cách tế nhị nhỉ…?”

Tôi: “Vị không giống như Tự thân Đức Chúa đem nấu thiên đường thành một sê-ri năm món rồi đem ra phục vụ chúng ta kèm theo những quả cầu rực rỡ được lên men, sủi bọt lấp lánh trong khi xung quanh chiếc bàn ăn tối đặt cạnh con kênh hờ hững rơi đầy những cánh hoa.”

Gus: “Nói hay lắm.”

Bố Gus: “Bọn trẻ của chúng ta thật kỳ quặc.”

Bố tôi: “Nói hay lắm.”

Một tuần sau bữa tối của chúng tôi, Gus phải vào Phòng Cấp cứu vì cơn đau ngực, vì họ giữ anh lại qua đêm nên sáng hôm sau tôi lái xe đến viện Memorial thăm anh trên tầng bốn. Tôi chưa từng quay lại viện Memorial kể từ lần đến thăm Isaac. Ở đây chẳng hề có những bức tường sơn màu rực rỡ hay khung tranh vẽ hình những chú chó lái ô tô như người ta có thể thấy nhiều phát ngán ở viện Nhi, nhưng sự tẻ nhạt cực kỳ ở đây lại khiến tôi cảm thấy luyến tiếc những thứ hạnh phúc nhảm nhí kiểu trẻ con ở viện Nhi. Viện Memorial quá đỗi chuyên môn. Nó là một công trình lưu giữ. Một nơi người ta chờ được thực hiện nghĩa vụ của mình.

Khi cửa thang máy mở ra ở tầng bốn, tôi gặp mẹ Gus đang đi đi lại lại trong phòng chờ nghe điện thoại. Bà vội cúp máy, ôm chầm lấy tôi và đỡ hộ chiếc giá.

“Cháu ổn mà,” tôi nói. “Gus sao rồi ạ?”

“Thằng bé vừa trải qua một đêm khó khăn, Hazel à,” bà nói. “Tim thằng bé đang phải làm việc quá sức. Nó cần giảm bớt hoạt động. Từ giờ trở đi nó sẽ phải ngồi xe lăn. Họ đang thử một loại vài thuốc mới giúp giảm bớt cơn đau. Hai chị nó vừa đến đây.”

“Dạ,” tôi nói. “Cháu có thể vào thăm anh ấy được không?”

Bà choàng tay qua vai tôi và siết chặt chúng. Cảm giác thật kỳ cục. “Bác và mọi người rất yêu cháu, cháu biết mà Hazel, nhưng lúc này bác nghĩ mình chỉ muốn mọi người trong gia đình thôi. Gus cũng đồng ý như thế. Được không cháu?”

“Được ạ,” tôi đáp.

“Bác sẽ bảo nó cháu đến thăm.”

“Vâng ạ,” tôi nói. “Cháu nghĩ cháu sẽ ngồi đây đọc báo một lúc.”

Bà đi dọc xuống hành lang, trở lại phòng anh nằm. Tôi hiểu, nhưng vẫn rất nhớ anh, liên tục nghĩ mình sẽ để lỡ mất cơ hội được gặp anh, được nói lời tạm biệt. Phòng chờ được trang trí bằng toàn thảm nâu và cả ghế cũng được bọc màu nâu. Tôi ngồi một mình trên chiếc ghế đôi một lúc, giá bình ôxy kẹp dưới hai chân. Tôi đang đi đôi Chuck Taylors và mặc chiếc áo Ceci n’est pas une pipe, đúng cái bộ hai tuần trước tôi đã mặc vào Buổi Chiều Muộn của Biểu Đồ Venn, và anh đã không thể thấy nó. Tôi bắt đầu vuốt qua những tấm ảnh trong điện thoại của mình, một cuốn sách phim quay ngược thời gian mấy tháng gần đây, bắt đầu với anh và Isaac ở bên ngoài ngôi nhà của Monica và kết thúc bằng bức ảnh đầu tiên tôi chụp anh trên đường tới chỗ Funky Bones. Cảm giác như là một khoảng thời gian vô tận, như là chúng tôi có những phút giây dẫu ngắn ngủi nhưng vẫn là vĩnh viễn vô tận. Có những khoảng vô tận này lớn hơn những khoảng vô tận khác.

***

Hai tuần sau đó, tôi đẩy Gus qua công viên nghệ thuật tới chỗ Funky Bones với một chai sâm panh còn nguyên vô cùng đắt tiền và bình ôxy của tôi đặt trong lòng anh. Chai sâm panh được tặng bởi một trong những bác sĩ của Gus – Gus là kiểu người dễ dụ các bác sĩ đem cho lũ trẻ chai rượu tốt nhất của họ. Chúng tôi ngồi, Gus trên xe của anh còn tôi trên đám cỏ ẩm ướt, gần với Funky Bones đủ để có thể nhìn trọn vẹn nó. Tôi chỉ vào những đứa trẻ đang tranh nhau nhảy từ lồng ngực lên xương vai, Gus đáp khẽ chỉ vừa đủ cho tôi nghe được trong tiếng la hét ầm ĩ, “Lần trước anh đã tưởng tượng mình là đứa trẻ. Lần này đến lượt bộ xương.”

Chúng tôi uống bằng những chiếc cốc giấy in hình Gấu Winnie-the-Pooh.

CHƯƠNG MƯỜI SÁU

Một ngày điển hình với Gus giai đoạn cuối:

Tôi qua nhà anh vào khoảng giữa trưa, sau khi anh đã ăn và nôn ra hết bữa sáng. Anh gặp tôi ở cửa ra vào trên chiếc xe lăn, không còn là anh chàng cơ bắp điển trai nhìn tôi chằm chặp ở Nhóm Tương Trợ, nhưng vẫn giữ điệu cười nửa miệng, vẫn tiếp tục hút điếu thuốc chưa cháy, vẫn đôi mắt xanh sáng và vẫn còn sống.

Chúng tôi ăn trưa với bố mẹ anh trên bàn trong phòng bếp. Bánh sandwich với thạch và bơ lạc cùng món măng tây nấu từ tối hôm trước. Gus không ăn. Tôi hỏi anh thấy trong người thế nào.

“Tuyệt lắm,” anh nói. “Còn em?”

“Tốt. Tối qua anh làm gì?”

“Anh ngủ khá nhiều. Anh muốn viết cho em đoạn tiếp của cuốn sách, Hazel Grace, nhưng lúc nào anh cũng thấy mệt nhừ cả người.”

“Anh có thể nói cho em nghe được mà,” tôi bảo.

“Xem nào, đứng dưới góc độ phân tích tiền Van Houten của anh về chú Tulip Hà Lan. Không phải kẻ lừa đảo, nhưng không giàu như ông ta vẫn thể hiện.”

“Mẹ của Anna thì sao?”

“Vẫn chưa thống nhất được ý tưởng. Kiên nhẫn nào, Đồ Nhanh Nhảu.” Augustus mỉm cười. Bố mẹ anh chỉ im lặng, ngắm nhìn anh, không bao giờ liếc qua chỗ khác, như thể họ vẫn muốn thưởng thức Buổi Diễn Của Gus Waters chừng nào nó còn tiếp tục. “Thỉnh thoảng anh nằm mơ mình đang viết một cuốn hồi ký. Một cuốn hồi ký như một thứ để lưu giữ anh trong trái tim và ký ức của những người hâm mộ.”

“Tại sao anh còn cần những người hâm mộ trong khi anh đã có em?” tôi hỏi.

“Hazel Grace, nếu em duyên dáng và hấp dẫn như anh thì chiếm được cảm tình của những người em gặp gỡ cực kỳ dễ. Nhưng khiến những người xa lạ phải yêu em… ngay bây giờ, thế mới cao tay chứ.”

Tôi trợn tròn mắt.

Sau bữa ăn trưa, chúng tôi ra ngoài sân sau. Anh vẫn đủ khỏe để tự mình đẩy chiếc xe lăn, tự kéo xe đứng trên hàng bánh nhỏ để nhấc hai bánh trước qua những bậc mấp mô ở lối ra vào. Vẫn rất thể thao, bất chấp tất cả những chuyện này, với khả năng cân bằng và phản ứng nhanh nhạy mà ngay cả những loại thuốc mê liều cao cũng không thể lấn át.

Bố mẹ anh ngồi lại trong nhà, nhưng khi tôi liếc vào trong phòng bếp, họ vẫn đang quan sát chúng tôi.

Chúng tôi ngồi đó trong khoảng im lặng gần một phút rồi Gus nói, “Đôi khi anh ước chúng ta có một bộ ghế đu.”

“Cái bộ ở nhà em á?”

“Ừ. Sự luyến tiếc của anh mạnh mẽ đến mức anh có thể nhung nhớ một chiếc ghế đu mà mông anh chưa bao giờ chạm tới.”

“Sự luyến tiếc là một ảnh hưởng phụ của bệnh ung thư,” tôi bảo anh.

“Không, luyến tiếc là một ảnh hưởng phụ của việc đang chết,” anh đáp lại. Phía bên trên, gió đang thổi những cành cây làm bóng của chúng rung rinh trên làn da của chúng tôi. Gus siết chạy bàn tay tôi. “Cuộc sống này thật đẹp, Hazel Grace.”

Chúng tôi trở vào trong khi đến giờ anh phải uống thuốc, nó được truyền cùng với một loại chất lỏng dinh dưỡng qua ống thông dạ dày[114], một thứ bằng chất dẻo biến mất vào trong bụng anh. Một thoáng anh im lặng, mơ màng. Mẹ muốn anh chợp mắt một chút, nhưng anh lắc đầu từ chối mỗi lần bà định nói, thế nên chúng tôi để anh ngồi gật gù trong chiếc xe lăn một lúc.

[114] Nguyên văn: G-tube. Gastrostomy Tube.

Bố mẹ anh ngồi xem một đoạn băng cũ ghi hình Gus và hai cô chị, họ khoảng bằng tuổi tôi bây giờ còn Gus lúc ấy mới lên năm. Họ đang chơi bóng rổ trên lối vào ở một ngôi nhà khác, và dù Gus vẫn còn rất bé, anh đã có thể rê bóng chuẩn như thể anh sinh ra để làm việc đó, chạy vòng tròn quanh các chị trong khi họ cười rộ lên. Đó là lần đầu tiên tôi nhìn anh chơi bóng. “Anh ấy giỏi thật đấy,” tôi nói.

“Cháu phải xem nó hồi cấp ba,” bố anh nói. “Chơi cho đội bóng ngay từ năm nhất.”

Gus lầm bầm, “Con xuống tầng hầm được chứ?”

Bố mẹ anh lăn chiếc xe xuống cầu thang trong khi Gus vẫn ngồi bên trong, xóc điên cuồng như nếu thực sự nguy hiểm vẫn còn là nguy hiểm thì nó thật nguy hiểm, sau đó họ để chúng tôi lại bên nhau một mình. Anh trèo lên giường rồi chúng tôi cùng nằm dưới tấm chăn, anh nằm ngửa còn tôi nằm nghiêng sang anh, dựa đầu vào bờ vai xương xẩu, hơi ấm từ người anh xuyên qua lớp vải áo thấm vào làn da tôi, hai chân tôi quấn vào cái chân thật của anh, bàn tay tôi áp vào má anh.

Tôi nằm sát anh, mũi chạm mũi, sát đến mức tôi chỉ có thể nhìn thấy đôi mắt anh, tôi không thể nghĩ đang bị bệnh được. Chúng tôi hôn nhau một lúc trước khi hai đứa nằm nghe album nhạc cùng tên của nhóm The Hectic Glow, rồi cuối cùng chìm vào giấc ngủ trong một mớ dây rợ và cơ thể vướng víu như thế.

Chúng tôi thức dậy sau đó và dựng một chiến hào bằng những chiếc gối để có thể thoải mái ngồi dựa vào thành giường chơi trò Counterinsurgence 2: Cái giá của Bình Minh. Tôi chơi dở tệ, dĩ nhiên, nhưng cái dở tệ ấy của tôi lại giúp ích cho anh: Nó khiến anh được dễ dàng chết một cách đẹp đẽ hơn, nhảy ra chắn viên đạn của một tay bắn tỉa và hi sinh bản thân để cứu tôi, hoặc giết một tên lính gác đang chuẩn bị bắn tôi. Anh rất thích thú việc cứu mạng tôi. Anh hét ầm lên, “Hôm nay các ngươi sẽ không thể giết hại bạn gái của ta, hỡi lũ Khủng Bố Quốc Tế Không Quốc Tịch!”

Tự nhiên tôi nghĩ đến việc giả vờ bị ngạt thở gì đấy để anh phải cấp cứu tôi kiểu Heimlich[115]. Có thể sau đó anh sẽ vượt qua được nỗi sợ rằng anh đã sống rồi ra đi mà không vì một lẽ cao cả nào. Nhưng rồi tôi chợt tưởng tượng cảnh anh không thể Heimlich được, rồi tôi phải thú nhận đó chỉ là một trò đùa, rồi tiếp đến màn giận dỗi lẫn nhau.

[115] Một phương pháp cấp cứu người bị ngạt bởi dị vật đặt tên theo bác sĩ phẫu thuật người Mỹ Henry Heimlich, người thực hiện cấp cứu ôm nạn nhân từ phía sau, hai tay nắm lại dưới xương ức, ép chặt để đẩy dị vật ra ngoài.

Rất rất khó để giữ được những suy nghĩ đúng đắn khi ánh bình minh vẫn chói lòa trong đôi mắt đang dần mất đi, tôi nghĩ trong khi chúng tôi săn đuổi những kẻ xấu xa trong một thành phố đổ nát vốn cũng chẳng có thực.

Cuối cùng, bố anh đi xuống và kéo anh lên trên phòng, và trong lối vào, ngay dưới một Lời động viên nói rằng Tình Bạn Là Mãi Mãi, tôi quỳ xuống hôn tạm biệt anh. Tôi trở về nhà và ăn tối cùng bố mẹ, để lại Gus ăn (và nôn) bữa tối của chính anh.

Xem TV một lúc rồi tôi đi ngủ.

Tôi thức dậy.

Khoảng giữa trưa, tôi lại sang nhà anh.