Lỗi lầm ở những vì sao - Chương 12 - Phần 3

Chúng tôi phải đỗ cách Nhà Anna Frank một dãy nhà, trong khi chị Lidewij đứng xếp hàng mua vé, tôi ngồi tựa lưng vào một thân cây nhỏ, ngắm nhìn tất cả những nhà thuyền đang neo đậu trên con kênh Prinsengracht[101]. Augustus đứng ngay cạnh, lăn lăn cái giá đỡ bình ôxy trong những vòng tròn đơn điệu chỉ để nhìn những bánh xe quay. Tôi muốn cậu ấy ngồi xuống cạnh tôi nhưng biết như thế thì rất khó khăn cho cậu ấy và lại càng vất vả hơn khi đứng dậy. “Cậu sao không?” cậu ấy cúi xuống hỏi. Tôi nhún vai và với tay nắm lấy bắp chân cậu ấy. Đó là bắp chân giả nhưng tôi vẫn níu lấy nó. Cậu ấy nhìn xuống tôi.

[101] Một trong ba kênh đào chính của Amsterdam, được đặt theo tên của Willem de Zwijger, công tước xứ Orange.

“Tớ muốn…” tôi nói.

“Tớ biết,” cậu ấy nói. “Tớ biết. Rõ ràng thế giới này không phải một nhà máy ban tặng điều ước.” Tôi khẽ cười.

Chị Lidewij quay lại với những tấm vé, nhưng môi chị mím lại vẻ lo lắng. “Bên trong không có thang máy,” chị ấy nói. “Chị rất rất xin lỗi.”

“Không sao mà chị,” tôi nói.

“Không đâu, có rất nhiều bậc thang,” chị nói. “Toàn bậc rất dốc.”

“Không sao thật mà,” tôi nhắc lại. Augustus định nói gì đó nhưng tôi ngăn lại. “Ổn mà. Tớ làm được.”

Chúng tôi bắt đầu với một phòng chiếu phim về những người Do Thái ở Hà Lan, về cuộc xâm lược của quân Đức Quốc xã và về gia đình Frank. Sau đó chúng tôi đi bộ lên tầng trên đến một căn nhà ở bờ kênh nơi Otto Frank[102] từng làm việc. Cả tôi và Augustus đều leo cầu thang rất chậm, nhưng tôi vẫn thấy mình đủ sức. Ngay sau đó tôi thấy chiếc tủ sách nổi tiếng đã che giấu cho cả Anne Frank, gia đình em cùng bốn người khác. Chiếc tủ sách để mở một nửa, đằng sau nó là một cầu thang rất dốc, chỉ rộng đủ chỗ cho một người đi. Có rất nhiều khách du lịch xung quanh chúng tôi, tôi cũng không muốn làm chậm cả đoàn lại nhưng chị Lidewij nói, “Xin mọi người hãy kiên nhẫn, làm ơn,” rồi tôi bắt đầu bước lên trước, chị Lidewij đỡ chiếc giá đằng sau, sau cùng là Gus.

[102] Cha Anne Frank.

Có mười bốn bậc thang. Tôi cứ nghĩ mãi về những người ở đằng sau – chủ yếu là những người lớn nói đủ mọi thứ tiếng khác nhau – rồi cảm thấy xấu hổ sao đấy, cảm giác như có một bóng ma vừa vỗ về vừa ám ảnh, nhưng cuối cùng tôi cũng làm được, rồi tôi ở trong một căn phòng trống trải kỳ lạ, dựa lưng vào tường, bộ não đang nói với hai lá phổi rằng ổn rồi mà ổn rồi mà bình tĩnh đi ổn rồi mà còn hai lá phổi lại nói với bộ não rằng ôi, Chúa ơi, chúng ta chết ở đây mất thôi. Tôi thậm chí còn chẳng thấy Augustus lên cầu thang cho đến khi cậu ấy bước đến, lau trán của mình bằng mu bàn tay như thể phùu và nói, “Cậu là nhà vô địch.”

Sau một vài phút dựa vào tường, tôi bước vào thăm phòng kế tiếp, phòng chung của Anne và bác sĩ nha khoa Fritz Pfeffer. Nó rất nhỏ và chẳng có đồ vật nào bên trong. Bạn sẽ không biết có người từng sống ở đây nếu không có những bức ảnh từ tạp chí và báo mà Anne đã dán lên tường vẫn còn ở đó.

Thêm một cầu thang khác dẫn lên căn phòng gia đình van Pels từng sống, cầu thang này còn dốc hơn cái trước và kéo dài mười tám bậc, thực chất như một cái thang. Tôi đứng ở dưới nhìn lên và nghĩ chắc là mình sẽ không làm được đâu, nhưng cũng biết con đường duy nhất để đi qua là trèo lên đó.

“Mình quay lại thôi,” Augustus nói.

“Tớ không sao mà,” tôi đáp khẽ khàng. Thật ngu ngốc nhưng tôi cứ nghĩ rằng tôi nợ em ấy điều đó – nợ Anne Frank – bởi em ấy đã mất còn tôi thì chưa, bởi em ấy đã sống cuộc sống thầm lặng và tách biệt với cuộc sống bên ngoài và làm mọi điều đúng đắn nhưng cuối cùng vẫn chết, vì thế tôi nên bước tiếp lên những bậc thang và ngắm nhìn phần còn lại của thế giới em ấy đã từng sống trước khi bọn Gestapo[103] tới.

[103] Lực lượng cảnh sát mật thuộc tổ chức vũ trang SS của Đảng Đức Quốc xã.

Tôi bắt đầu leo lên cầu thang, dò dẫm từng bước như một đứa trẻ, lúc đầu chầm chậm để giữ được nhịp thở, sau đó nhanh hơn vì tôi biết đằng nào tôi cũng không thể thể thở được và tôi muốn leo tới đích trước khi cạn kiệt sức lực. Bóng tối bao phủ toàn bộ tầm nhìn của tôi khi tôi nhấc mình lên, những mười tám bậc, dốc điên người. Cuối cùng tôi cũng trèo lên tới đỉnh cầu thang, hoa hết mắt và buồn nôn, những thớ cơ ở cả chân và tay đều kêu gào đòi ôxy. Tôi ngồi thụp xuống dựa vào một bức tường, hổn hển thở hắt ra. Có một chiếc hộp bằng kính được bắt vào tường ngay phía trên, tôi ngước lên trần nhà xuyên qua nó và cố để không bị ngất đi.

Chị Lidewij cúi xuống cạnh tôi, “Em lên đến nơi rồi, em làm được rồi,” và tôi gật đầu. Tôi có một cảm giác mơ hồ rằng những vị khách xung quanh đang liếc xuống tôi lo lắng; rằng chị Lidewij đang thì thầm bằng một ngôn ngữ rồi một ngôn ngữ khác lại thêm một ngôn ngữ khác nữa từ những vị khách; rằng Augustus đang đứng trên tôi, đặt tay lên đầu tôi và vuốt ve mái tóc.

Một lúc lâu sau, chị Lidewij và Augustus đỡ tôi đứng dậy, giờ tôi mới thấy thứ được bảo vệ trong cái hộp kính: những dấu bút chì gạch trên một tờ giấy dán tường đo chiều cao của tất cả những đứa trẻ trong khoảng thời gian chúng sống trong gian nhà đó, từng inch[104] từng inch một cho đến khi chúng không thể cao thêm được nữa.

[104] Đơn vị đo độ dài, 1 inch bằng 2,54 cm.

Từ căn phòng đó, chúng tôi rời khỏi khu vực sinh sống của nhà Frank, nhưng vẫn trong bảo tàng: Một hành lang dài và hẹp trưng bày những tấm ảnh của tám thành viên trong gian nhà phụ và miêu tả họ đã hi sinh ra sao, ở đâu và nơi nào.

“Thành viên duy nhất của cả gia đình sống sót sau cuộc chiến,” chị Lidewij nói với chúng tôi, ý chỉ bố của Anne, ông Otto. Giọng chị khẽ khàng như thể chúng tôi đang ở trong nhà thờ.

“Thực ra ông ấy không sống sót sau cuộc chiến tranh,” Augustus nói. “Ông ấy đã sống sót sau một cuộc diệt chủng.”

“Đúng thế,” chị Lidewij nói. “Chị không biết làm sao người ta có thể tiếp tục sống mà không còn gia đình bên cạnh. Chị thực sự không biết.” Trong khi đọc về bảy thành viên đã chết, tôi nghĩ về việc ông Otto đã không còn là một người cha thêm nữa, bị bỏ lại với cuốn nhật ký thay vì vợ và hai cô con gái. Ở phía cuối dãy hành lang là một cuốn sách khổng lồ, lớn hơn cả một quyển từ điển, chứa đựng tên của 103.000 người đến từ Hà Lan đã chết trong cuộc diệt chủng Holocaust. (Chỉ 5.000 người Hà Lan gốc Do Thái bị trục xuất, theo như một tấm biển trên tường, là còn sống sót. Chỉ 5.000 ông Otto Frank.) Cuốn sách được giở đến trang có tên Anne Frank, nhưng điều tôi khiến tôi chú ý là ngay dưới tên em có những bốn cái tên Aron Franks. Bốn. Bốn Aron Franks không có nhà tưởng niệm, không dấu tích lịch sử, không người tưởng nhớ đến. Tôi tự nhủ mình sẽ nhớ và cầu nguyện cho bốn Aron Frank chừng nào tôi còn được sống. (Có thể có một số người cần tin vào một Đức Chúa toàn năng và hiện hữu để cầu nguyện, nhưng tôi thì không.)

Khi chúng tôi đến cuối căn phòng, Gus dừng lại và hỏi, “Cậu ổn chứ?” Tôi gật đầu.

Cậu ấy chỉ về phía bức ảnh của Anne. “Đáng buồn nhất là em ấy đã suýt được sống, cậu biết không? Em ấy đã chết chỉ vài tuần trước ngày giải phóng.”

Chị Lidewij qua chỗ khác xem một đoạn băng ghi hình, tôi nắm lấy tay Augustus trong khi chúng tôi bước vào căn phòng kế tiếp. Đó là một căn phòng hình chữ A với những lá thư Otto Frank đã gửi đi trong những tháng ròng rã kiếm tìm hai cô con gái. Một đoạn băng ghi hình Otto Frank đang phát trên bức tường ở giữa căn phòng. Ông ấy nói bằng tiếng Anh.

“Chẳng biết có tên Đức Quốc xã nào còn sống để tớ săn lùng và đem lại công lý không?” Augustus hỏi trong khi chúng tôi cúi người qua khung kính đọc những lá thư của ông Otto cùng những thư trả lời rằng không, không ai từng gặp những đứa con của ông sau ngày giải phóng.

“Tớ nghĩ họ đã chết cả rồi. Nhưng không phải chỉ bọn Đức Quốc xã mới có quyền gây ra tội ác.”

“Đúng thế,” cậu đáp. “Đó là việc chúng ta nên làm, Hazel Grace: Chúng ta nên tập hợp thành bộ đôi chiến binh khuyết tật lên tiếng cho cả thế giới này, sửa chữa những điều sai trái, che chở những người yếu thế, bảo vệ những ai gặp hiểm nguy.”

Cho dù đó là ước muốn của cậu ấy chứ không phải của tôi, tôi vẫn hùa theo nó. Cậu ấy cũng thích thú với tôi, xét cho cùng. “Lòng dũng cảm sẽ là vũ khí bí mật của chúng ta,” tôi nói.

“Câu chuyện về những chiến tích của chúng ta sẽ mãi lưu truyền chừng nào con người còn cất được tiếng nói,” cậu ấy nói.

“Kể cả dù sau đó, khi bọn người máy nhắc lại về sự ngớ ngẩn của con người về đức hi sinh và lòng trắc ẩn, chúng vẫn nhớ về chúng ta.”

“Bọn nó sẽ cười bằng kiểu cười của người máy vào sự ngu ngốc dũng cảm của mình,” cậu nói. “Nhưng sâu thẳm trong trái tim người máy bằng sắt của chúng, chúng sẽ mong mỏi được sống và hi sinh như chúng ta: trên sứ mệnh của những anh hùng.”

“Augustus Waters,” tôi nhìn cậu ấy, nghĩ rằng mình không thể hôn ai trong Nhà Anne Frank được, nhưng rồi lại nghĩ chính Anne Frank, nói cho cùng, cũng đã hôn ai đó trong Ngôi nhà của Anne Frank này, có thể em ấy cũng chẳng thích gì hơn việc ngôi nhà của mình được biến thành nơi cho những đứa trẻ bị tổn thương chẳng thể chữa lành đắm chìm vào tình yêu.

“Tôi phải nói rằng,” Otto Frank nói trong đoạn băng hình bằng chất giọng Anh của mình, “tôi đã rất ngạc nhiên trước những suy nghĩ sâu sắc của cháu Anne.”

Rồi chúng tôi trao nụ hôn. Tôi buông chiếc giá đỡ bình ôxy ra và lần tay lên cổ cậu ấy, rồi cậu ấy đỡ lấy eo nâng tôi lên nhún mình đứng trên đầu những ngón chân. Tôi bắt đầu cảm thấy khó thở theo một cách mới mẻ và đầy phấn khích khi đôi môi khép hờ của cậu chạm vào môi tôi. Khoảng không gian quanh chúng tôi như tan biến, trong một khoảnh khắc kỳ lạ tôi thực sự thấy thích cơ thể mình; cái thân xác hao mòn vì ung thư mà tôi phải lê la khắp nơi nhiều năm qua bỗng nhiên thật xứng đáng với cuộc đấu tranh, xứng đáng với những ống thở ở ngực, với những ống PICC và với sự phản bội cơ thể không ngừng của những khối u.

“Như là một Anne khác hẳn với đứa con gái tôi biết. Con bé thực sự chưa bao giờ bày tỏ những cảm xúc sâu kín thế này,” giọng ông Otto Frank tiếp tục.

Nụ hôn kéo dài mãi mãi trong lúc ông Otto Frank vẫn đang nói phía sau lưng tôi. “Tôi muốn nói là,” ông nói, “cho dù tôi và Anne có mối quan hệ rất tốt, các bậc cha mẹ thường không thực sự thấu hiểu con cái của chính mình.”

Tôi nhận ra đôi mắt mình đang nhắm và mở mắt ra. Augustus đang nhìn tôi đắm đuối, đôi mắt xanh của cậu ấy gần tôi hơn bao giờ hết, và đằng sau cậu, một đám đông đứng thành gần ba vòng tròn xung quanh chúng tôi. Họ đang tức giận, tôi nghĩ thế. Thật kinh khủng. Những đứa trẻ kia, với những hormon của chúng nó, đứng ôm ấp nhau dưới một băng hình đang phát giọng nói vỡ nghẹn của một người đã từng là cha.

Tôi buông Augustus ra, cậu ấy hôn nhẹ vào trán tôi trong khi tôi chăm chăm nhìn đôi Chuck Taylors của mình. Và rồi họ bắt đầu vỗ tay. Tất cả mọi người, tất cả những người lớn đứng đó, đều bắt đầu vỗ tay, một người còn hét lên “Hoan hô!” trong chất giọng Âu. Augustus mỉm cười, cúi đầu chào. Cũng cười, tôi khẽ nhún mình chào, nhận thêm một tràng pháo tay đón mừng khác.

Chúng tôi đi xuống, nhường cho tất cả những người lớn đi trước, và ngay trước khi chúng tôi đến quán cà phê (nơi may mắn làm sao có một thang máy đưa chúng tôi trở lại mặt đất và cửa hàng lưu niệm), chúng tôi đọc được một vài trang từ nhật ký của Anne, cả một quyển ghi lại những câu danh ngôn chưa được xuất bản của cô bé. Quyển danh ngôn vô tình mở đến trang có một câu thơ của Shakespeare. Nào ai đủ mạnh mẽ để vượt qua cám dỗ?[105] cô bé viết.

[105] ‘For who so firm that cannot be seduced?’ Shakespeare, The Tragedy of Julius Caesar, Act, 1 Scene 2, Page 13.

Chị Lidewij đưa chúng tôi về khách sạn Filosoof. Bên ngoài khách sạn trời đang lất phất mưa, Augustus và tôi đứng trên những viên gạch ở lối đi đang dần dần thấm ướt.

Augustus: “Cậu nên nghỉ một chút.”

Tôi: “Tớ ổn mà.”

Augustus: “Được rồi.” Ngập ngừng một lúc. “Cậu đang nghĩ gì đấy?”

Tôi: “Cậu.”

Augustus: “Tớ làm sao?”

Tôi: “‘Tôi chẳng biết mình thích gì hơn, / Vẻ đẹp của những từ biến tố / Hay vẻ đẹp của những lời ngụ chỉ, / Khi con chim hoét hót / Hoặc mới dứt lời.’”[106]

[106] Một đoạn trích trong bài thơ Thirteen Ways of Looking at a Blackbird của tác giả người Mỹ Wallace Stevens (1879–1955).

Augustus: “Chúa ơi, cậu thật quyến rũ.”

Tôi: “Mình có thể vào phòng cậu.”

Augustus: “Tớ từng nghe những ý tưởng tệ hơn.”

Chúng tôi cùng chen vào cái thang máy bé tí. Tất cả mọi mặt, kể cả tấm sàn, đều được lát gương. Chúng tôi phải tự kéo cửa để nhốt mình vào trong, rồi cái thứ cũ kỹ đó chầm chậm cọt kẹt kéo lên tầng hai. Tôi rất mệt, người đầy mồ hôi, lo lắng rằng nói chung nhìn tôi rất kinh và đầy mùi nữa, nhưng kể cả thế tôi vẫn cứ hôn cậu ấy trong cái thang máy đó, rồi cậu ấy buông tôi ra, chỉ vào tấm gương và bảo, “Nhìn kìa, vô số Hazel.”

“Có những tập vô hạn này lớn hơn những tập vô hạn khác,” tôi lè nhè, bắt chước Van Houten.

“Thằng hề khốn nạn,” Augustus nói, mất chừng ấy thời gian và cả một lúc sau nữa thang máy mới đưa chúng tôi lên đến tầng hai. Cuối cùng cái thang máy tròng trành rồi dừng lại, cậu ấy đẩy cái cửa kính ra. Khi cửa mới mở được một nửa, cậu gập người lại đau đớn và buông tay khỏi cái cửa trong một tích tắc.

“Cậu ổn chứ?” Tôi hỏi.

Một lúc sau cậu đáp, “Ừ, ừ, chắc cái cửa nặng quá.” Cậu ấy đẩy lần nữa và lần này nó mở ra. Cậu ấy để tôi ra trước, tất nhiên là thế, nhưng vì tôi chẳng biết đi theo hướng nào xuống hành lang nên tôi cứ đứng đó ngoài cái thang máy, cậu ấy cũng đứng nguyên đó, khuôn mặt nhăn nhó, tôi hỏi lại lần nữa, “Cậu ổn thật không?”

“Hơi đuối thôi, Hazel Grace. Mọi thứ đều ổn.”

Chúng tôi cứ đứng như thế trong hành lang, cậu ấy chẳng chỉ cho tôi đường nào về phòng hay gì cả còn tôi thì chẳng biết nó ở đâu, và trong khi tình thế khó xử này tiếp tục, tôi bị thuyết phục rằng cậu ấy đang tìm cách để không phải làm chuyện đó với tôi, rằng nhẽ ra tôi không nên gợi ý như vậy, rằng chuyện đó chẳng giống một đứa con gái tí nào nên mới có một Augustus đang sợ hãi đứng ở kia nhìn tôi không chớp mắt, cố gắng tìm đường tự mình tẩu thoát một cách tế nhị. Và rồi, sau một lúc lâu, cậu ấy nói, “Nó ở ngay trên đầu gối một chút và nó hơi thuôn nhọn và chỉ còn da thôi. Có một vết sẹo xấu xí nhưng nó chỉ giống như...”

“Cái gì đấy?” tôi hỏi.

“Chân của tớ,” cậu ấy nói. “Để cậu chuẩn bị sẵn, ý tớ là, nếu nhỡ đâu cậu có nhìn thấy nó hay làm sao...”

“À, có gì đâu,” tôi nói, rồi bước hai bước lại gần cậu ấy. Tôi hôn cậu ấy, cuồng nhiệt, ép chặt cậu ấy vào tường, cứ tiếp tục hôn như vậy trong khi cậu ấy mò mẫm tìm chìa khóa phòng.

Chúng tôi ngả ra giường, sự tự do của tôi bị bó hẹp bởi cái bình ôxy, nhưng dù thế tôi vẫn cố gắng trèo lên người cậu ấy, cởi áo cậu ấy ra rồi nếm vị mồ hôi trên làn da ngay phía dưới xương đòn trong khi thì thầm vào ngực cậu ấy, “Em yêu anh, Augustus Waters,” cơ thể cậu ấy thả lỏng bên dưới tôi khi cậu ấy nghe câu đó. Cậu ấy lần tay xuống định cởi áo tôi ra nhưng nó mắc vào ống dẫn khí. Tôi bật cười.

***

“Làm sao ngày nào em cũng xoay xở được thế?” anh hỏi trong khi tôi gỡ chiếc áo ra khỏi đống dây rợ. Ngốc thật, tôi nhận ra cái quần chíp màu hồng của mình chẳng hợp với cái áo ngực màu tím chút nào, như thể bọn con trai sẽ để ý cả những chuyện như thế. Tôi chui người dưới tấm chăn rồi lấy chân tuột quần và tất mình ra rồi nhìn cái chăn bông phập phồng vì bên dưới Augustus đang lần lượt cởi quần rồi tháo cái chân giả của anh ra.

***

Chúng tôi nằm ngửa sát bên nhau trên chiếc giường, mọi thứ được che bởi tấm chăn, một lúc sau tôi với qua đặt tay lên bắp đùi anh rồi lần xuống đoạn chân bị cắt, lớp da có những vết sẹo dày. Tôi ôm nó một chốc. Anh giật mình. “Có đau không?” tôi hỏi.

“Không,” anh trả lời.

Anh lăn người qua và hôn tôi. “Anh đáng yêu quá,” tôi nói, bàn tay vẫn để dưới chân anh.

“Anh bắt đầu nghĩ em bị thích thú với những người cụt chân,” anh đáp, vẫn tiếp tục hôn tôi. Tôi bật cười.

“Em bị thích thú với Augustus Waters,” tôi giải thích.

Mọi chuyện đều trái ngược hoàn toàn với những gì tôi đã tưởng tượng: chậm rãi và thong thả và êm lặng, không đặc biệt đau đớn cũng chẳng ngây ngất vô cùng. Có rất nhiều vấn đề liên quan tới bao cao su khiến tôi không có được một cảm nhận rõ ràng. Không ván giường bị gãy. Không la hét gì cả. Thành thực mà nói, nó giống như quãng thời gian lâu nhất chúng tôi dành bên nhau mà không nói chuyện.

Chỉ có đúng một thứ diễn ra như tôi nghĩ: Sau đó, khi tôi đang áp mặt vào ngực Augustus, lắng nghe nhịp đập của trái tim anh, Augustus nói, “Hazel Grace. Theo đúng nghĩa đen là anh không mở nổi mắt ra nữa.”

“Lạm dụng từ theo đúng nghĩa đen quá rồi,” tôi nói.

“Không,” anh nói. “Rất. Mệt.”

Anh quay mặt đi, tai tôi áp vào ngực anh, lắng nghe hai lá phổi của anh nhịp nhàng chìm vào giấc ngủ. Một lúc sau tôi ngồi dậy, mặc quần áo, tìm giấy bút của khách sạn Filosoof, viết cho anh một lá thư tình: