Lỗi lầm ở những vì sao - Chương 12 - Phần 1

CHƯƠNG MƯỜI HAI

Tôi tỉnh giấc lúc bốn giờ, ở Hà Lan trời đã sáng. Mọi nỗ lực ngủ tiếp đều không thành nên tôi cứ nằm đó với cái máy thở BiPAP đều đặn bơm không khí vào và đẩy ngược nó ra, thưởng thức những âm thanh của chú rồng nhưng vẫn ước gì tôi có thể điều chỉnh nhịp thở của chính mình.

Tôi đọc lại cuốn Nỗi đau tột cùng cho đến khi Mẹ thức dậy và lăn qua chỗ tôi. Bà rúc đầu vào vai tôi, một cảm giác không thoải mái và mơ hồ kiểu Augustus.

Khách sạn mang bữa sáng tuyệt vời hơn cả mong đợi đến tận phòng cho chúng tôi với món thịt nguội cùng một đống các thứ khác chẳng theo một công thức bữa sáng kiểu Mỹ nào. Bộ váy tôi định mặc đến gặp Peter Van Houten đã được đặc cách cho bữa tối ở Oranjee nên sau khi tắm táp và chải cho mái tóc nằm xuống, tôi mất tận ba mươi phút tranh cãi với Mẹ về điểm cộng và điểm trừ của những bộ quần áo phù hợp trước khi quyết định ăn mặc giống Anna trong NĐTC nhất có thể: Giày Chuck Taylors với quần jeans sẫm màu như bạn ấy vẫn mặc, và một chiếc áo phông màu xanh lơ.

Trên chiếc áo in hình một tác phẩm nghệ thuật Siêu thực của René Magritte[86], trong đó ông ấy vẽ một tẩu thuốc và bên dưới là dòng chữ viết tay Ceci n’est pas une pipe. (Đây không phải là một cái tẩu.)

[86] René Magritte (1898–1967), họa sĩ trường phái Siêu thực người Bỉ.

“Mẹ chẳng hiểu nổi cái hình trên áo,” Mẹ nói.

“Peter Van Houten có đấy, tin con đi. Có khoảng bảy ngàn những thứ liên quan đến Magritte trong Nỗi đau tột cùng.

“Nhưng đấy một cái tẩu.”

“Không, không phải,” tôi nói. “Đó là bức vẽ của một cái tẩu. Mẹ hiểu chứ? Mọi hình ảnh đại diện cho một vật nào đấy vốn đều là trừu tượng. Thật xuất sắc.”

“Sao con lớn nhanh đến nỗi hiểu được những thứ làm bà mẹ cổ lỗ sĩ của con bối rối thế này?” Mẹ hỏi. “Như mới hôm qua mẹ còn đang giải thích cho Hazel bảy tuổi tại sao bầu trời lại xanh. Hẳn con cũng nghĩ mẹ là một thiên tài.”

“Thế sao bầu trời lại xanh?” tôi hỏi.

“Bởi vì,” bà đáp. Tôi phá lên cười.

Càng gần đến mười giờ tôi càng thêm lo lắng: lo lắng vì sắp gặp Augustus; lo lắng vì sắp gặp Peter Van Houten; lo lắng bộ quần áo của tôi không hợp; lo lắng rằng chúng tôi không tìm được đúng nhà vì ở Amsterdam nhà nào cũng giống hệt nhau; lo lắng rằng chúng tôi sẽ bị lạc đường và chẳng bao giờ quay lại khách sạn Filosoof được nữa; lo lắng lo lắng lo lắng. Mẹ vẫn đang nói gì đó nhưng tôi chẳng chú tâm lắm. Tôi đang định bảo mẹ đi lên lầu xem Augustus dậy chưa thì cậu ấy gõ cửa.

Tôi ra mở cửa. Cậu ấy nhìn xuống chiếc áo và cười. “Buồn cười thế,” cậu ấy bảo.

“Đừng nói ngực tớ buồn cười thế,” tôi trả lời.

“E hèm,” Mẹ nói đằng sau chúng tôi. Nhưng tôi đã làm Augustus đỏ mặt và khiến cậu ấy mất hứng với trò chọc ghẹo của mình nên cuối cùng tôi cũng đủ can đảm để nhìn thẳng vào cậu ấy.

“Mẹ chắc mẹ không muốn đi chứ?” tôi hỏi Mẹ.

“Mẹ sẽ đến Bảo tàng Rijkmuseum và Công viên Vondelpark,” bà nói. “Với cả mẹ cũng chẳng hiểu sách của ông ấy. Không có ý gì đâu. Nhớ gửi lời cảm ơn của chúng ta đến ông ấy và chị Lidewij, nhớ chưa?”

“Vâng ạ,” tôi đáp. Tôi ôm Mẹ, bà hôn lên đầu tôi ngay phía trên vành tai.

Dãy nhà sơn màu trắng của Peter Van Houten nằm ngay cuối góc phố đi từ khách sạn, trên phố Voldelstraat, đối diện với công viên. Số nhà 158. Augustus một tay khoác lấy tay tôi, tay kia kéo giá đỡ bình ôxy, rồi chúng tôi đi tới đứng trước cánh cửa sơn màu xanh-đen ba bước. Tim tôi đập thình thịch. Câu trả lời tôi luôn mơ ước kể từ lần đầu tiên đọc trang cuối lỡ dở đó chỉ còn cách một cánh cửa đang đóng nữa thôi.

Tôi có thể nghe thấy tiếng bass ầm ầm bên trong, đủ to để làm rung cả bậu cửa sổ. Tôi băn khoăn liệu Peter Van Houten có đứa nhỏ nào thích nghe nhạc rap không.

Tôi với lấy chiếc vòng gõ cửa hình đầu sư tử và ngập ngừng gõ nó. Tiếng nhạc vẫn không dứt. “Chắc tiếng nhạc làm ông ấy không nghe thấy gì đâu?” Augustus nói. Cậu ấy nắm cái đầu sư tử và gõ mạnh hơn.

Nhạc tắt hẳn, thay vào đó là tiếng lê bước loẹt xoẹt. Một chốt cửa bật ra. Thêm một chốt nữa. Cánh cửa cọt kẹt mở ra. Một người đàn ông bụng phệ với mái tóc lưa thưa, đôi gò má xệ, bộ râu cả tuần chưa cạo bước ra, nheo nheo mắt dưới ánh mặt trời. Ông ta mặc bộ một đồ ngủ đàn ông màu lam nhạt trông như mấy ông già trong mấy bộ phim hồi xưa. Mặt và bụng ông ta rất tròn, trong khi cánh tay lại queo quắt nên ông ta nhìn giống như cục bột với bốn cái que cắm vào. “Ngài Van Houten?” Augustus hỏi, giọng cậu ấy hơi cao một chút.

Cánh cửa đóng sầm lại. Đằng sau nó, tôi nghe thấy một giọng lắp bắp the thé vang lên, “LEEE-DUH-VIGH!” (Trước giờ tôi vẫn gọi tên chị trợ lý của ông ta là lid-uh-widge.)

Chúng tôi có thể nghe thấy mọi thứ qua cánh cửa. “Họ đến rồi đúng không, chú Peter?” giọng một phụ nữ hỏi.

“Có hai – Lidewij, có đứa trẻ con đang hiện hình trước cửa.”

“Hiện hình?” chị ấy hỏi với chất giọng Hà Lan du dương dễ chịu.

Van Houten nói một tràng. “Linh hồn bóng ma quỷ dữ kẻ vãng lai người kiếp trước đều hiện hình, cô Lidewij. Làm thế nào một người đang theo bậc cao học ngành văn học Mỹ lại thể hiện những kỹ năng ngôn ngữ Anh tệ hại như vậy được?”

“Chú Peter, đây không phải người kiếp trước. Họ là Augustus và Hazel, những người hâm mộ trẻ tuổi mà gần đây chú có trao đổi thư từ.”

“Chúng nó là – gì cơ? Chúng nó – ta tưởng chúng nó đang ở Mỹ cơ mà!”

“Vâng, nhưng chú đã mời họ tới đây, chú nhớ chứ.”

“Cô có biết tại sao ta rời khỏi đất Mỹ không, Lidewij? Để không bao giờ phải chạm trán với người Mỹ nào nữa.”

“Nhưng chú là người Mỹ.”

“Chẳng thể thay đổi được, có vẻ thế. Nhưng với hai đứa Mỹ kia, cô phải bảo chúng nó đi ngay, rằng đó là một sai lầm khủng khiếp, rằng lão Van Houten đáng nguyền rủa này chỉ đưa ra một lời mời gặp mặt khách sáo, chẳng phải thật đâu, rằng những lời mời như thế phải được hiểu một cách biểu tượng mà thôi.”

Tôi nghĩ tôi có thể ói ra mất. Tôi quay sang Augustus, cậu ấy vẫn đang chăm chăm nhìn vào cánh cửa, hai vai thõng xuống.

“Cháu sẽ không làm thế đâu, chú Peter,” chị Lidewij trả lời. “Chú phải gặp họ. Chú phải làm thế. Chú cần gặp họ. Chú cần biết tác phẩm của chú có ý nghĩa thế nào.”

“Lidewij, có đúng cô cố tình qua mặt ta để sắp xếp chuyện này không?”

Một khoảng im lặng kéo dài, rồi cuối cùng cánh cửa cũng mở ra lần nữa. Ông ta lần lượt hết quay đầu về phía Augustus lại đến chỗ tôi, vẫn nheo nheo mắt. “Ai trong hai đứa là Augustus Waters?” ông ta hỏi. Augustus ngập ngừng giơ cánh tay lên. Van Houten gật đầu và hỏi, “Cậu đã cưa đổ con bé đó chưa?”

Đó là lần đầu tiên và duy nhất tôi bắt gặp một Augustus thực sự không nói nên lời. “Cháu,” cậu bắt đầu, “ừm, cháu, Hazel, ừm. À.”

“Thằng này có vẻ mắc một vài chứng trì độn phát triển nào đó,” Peter Van Houten nói với chị Lidewij.

“Chú Peter,” chị ấy trách.

“Chà,” Peter Van Houten nói, chìa bàn tay về phía tôi. “Thế nào chăng nữa được gặp một sinh vật không chắc có thực về mặt bản thể luận cũng là một vinh dự.” Tôi bắt tay với bàn tay sưng húp của ông ta, sau đó ông ta bắt tay với Augustus. Tôi không chắc về mặt bản thể luận nghĩa là gì. Dẫu sao tôi cũng thích nó. Cả Augustus và tôi đều thuộc Câu Lạc Bộ Những Sinh Vật Không Chắc Có Thực: chúng tôi và lũ thú mỏ vịt.

Lẽ dĩ nhiên tôi đã hi vọng Peter Van Houten là một người nhu hòa mẫu mực, nhưng thế giới này không phải là nhà máy ban tặng điều ước. Điều quan trọng là cánh cửa đã mở và tôi đã bước qua bậc cửa để đến với những gì đã xảy ra sau cái kết của Nỗi đau tột cùng. Thế là đủ. Chúng tôi theo ông ta và chị Lidewij vào trong, đi qua chiếc bàn ăn tối bằng gỗ sồi khổng lồ nhưng chỉ có hai chiếc ghế, bước vào phòng khách trống trải rợn người. Trông nó như viện bảo tàng, có điều không có tác phẩm nghệ thuật nào được treo trên những khoảng tường trắng toát. Ngoại trừ một chiếc sofa và một chiếc ghế tựa, cả hai đều bằng sắt bọc da màu đen, căn phòng dường như trống rỗng. Sau đó tôi nhận ra còn có hai túi đựng rác rất lớn màu đen, căng phồng và buộc xoắn lại, chất sau ghế sofa.

“Rác?” tôi thì thầm với Augustus với giọng nhỏ đến mức tôi nghĩ không ai khác có thể nghe thấy.

“Thư của người hâm mộ,” Van Houten trả lời trong khi ông ngồi xuống cái ghế tựa. “Mười tám năm đáng từng đấy. Không thể mở ra. Rất đáng sợ. Thư của cô cậu là những bức đầu tiên ta trả lời, hãy xem nó đẩy ta đến đâu rồi đây. Ta thành thật cho rằng sự thực của bọn độc giả là hoàn toàn không nuốt nổi.”

Đó là lý do ông ta không bao giờ trả lời thư của tôi: Ông ta không hề đọc chúng. Tôi không biết tại sao ông ta giữ lại tất cả, để chúng một góc trong phòng khách trang trọng trống trải này. Van Houten gác hai chân lên chiếc ghế đệm thấp, vắt hai chiếc dép lên nhau. Ông ta chỉ về chiếc ghế sofa. Augustus và tôi ngồi xuống cạnh nhau, nhưng không quá sát.

“Hai em ăn sáng chút gì nhé?” chị Lidewij hỏi.

Tôi đang định nói rằng chúng tôi đã ăn rồi thì Peter chen vào. “Còn quá sớm cho bữa sáng, cô Lidewij.”

“Nhưng hai em ấy đến từ Mỹ, chú Peter, nên đã quá trưa trong người hai em ấy rồi.”

“Thế thì đã quá muộn cho bữa sáng,” ông ta nói. “Tuy thế, khi trong người đã quá trưa rồi thì xem nào, chúng ta nên thưởng thức chút cocktail[87]. Cô có uống rượu Scotch[88] không?” ông ta hỏi tôi.

[87] Cocktail, một loại đồ uống có chứa rượu nói chung.

[88] Rượu Scotch là một loại Whisky (lên men mạch nha hoặc lúa mạch) được sản xuất ở Scotland. Thông thường trước khi uống phải pha rượu Scotch với nước để giảm độ cồn.

“Cháu có – ừm, không, cháu không,” tôi nói.

“Augustus Waters?” Van Houten hỏi, hất đầu về phía Gus.

“Ừm, cháu không ạ.”

“Mỗi ta, rồi, cô Lidewij. Scotch và nước, làm ơn.” Peter chuyển sự chú ý của mình sang Gus, “Cậu có biết chúng ta pha Scotch với nước trong nhà này thế nào không?”

“Không, thưa ngài,” Gus nói.

“Chúng ta rót một chút Scotch vào cốc rồi gợi lên trong tâm tưởng ý nghĩ về nước, rồi chúng ta trộn Scotch thật với tư tưởng trừu tượng của nước.”

Chị Lidewij nói, “Có lẽ nên ăn chút gì đó trước, chú Peter.”

Ông ta nhìn về phía chúng tôi và thì thầm từng chữ, “Cô ta nghĩ ta có vấn đề với bia rượu.”

“Còn cháu nghĩ mặt trời đã lên,” chị Lidewij đáp lại. Tuy thế chị vẫn quay sang quầy rượu trong phòng khách, với lấy một chai Scotch và rót đầy nửa cốc. Chị ấy mang nó đến cho ông ta. Peter Van Houten nhấp một ngụm rồi ngồi thẳng người trên chiếc ghế của ông ta, “Một cốc rượu ngon như thế phải xứng với tư thế tốt nhất của người ta,” ông ta nói.

Tôi bỗng thấy nghi ngại về tư thế của mình nên ngồi thẳng lưng lên một chút. Tôi chỉnh lại đám ống dẫn khí của mình. Bố luôn nói với tôi rằng ta có thể đánh giá một người theo cách họ đối xử với những người phục vụ và trợ lý. Bằng thước đo này thì Peter Van Houten chắc hẳn là kẻ thô bỉ thô bỉ nhất thế giới. “Vậy là cậu thích cuốn sách của tôi,” ông ấy nói với Augustus sau một ngụm nữa.

“Dạ,” tôi trả lời thay cho Augustus. “Và vâng, chúng cháu – à, Augustus, cậu ấy đã chọn việc đến gặp ngài là Điều ước của mình để chúng cháu có thể tới đây, và như vậy ngài có thể kể cho chúng cháu những chuyện đã xảy ra sau cái kết của Nỗi đau tột cùng.”

Van Houten không nói gì cả, chỉ uống một hơi dài.

Một phút sau Augustus nói, “Cuốn sách của ngài đã đem chúng cháu đến với nhau.”

“Nhưng cô cậu không đến với nhau,” ông ta nhận xét mà chẳng thèm nhìn tôi.

“Nó đã đưa chúng cháu lại gần nhau,” tôi nói.

Giờ thì ông ấy quay sang tôi. “Cô cố tình mặc giống con bé đúng không?”

“Anna?” tôi hỏi.

Ông ta vẫn nhìn chằm chằm vào tôi.

“Phần nào đó,” tôi nói.

Ông ta lại uống một hơi dài rồi nhăn mặt lại. “Ta không có vấn đề gì với rượu bia cả,” ông ta tuyên bố, giọng to quá mức cần thiết. “Ta có một mối quan hệ kiểu Churchill[89] với đồ uống có cồn: Ta có thể kể chuyện cười cũng như cai trị nước Anh cũng như làm bất cứ điều gì ta muốn. Ngoại trừ việc không uống rượu.” Ông ta liếc qua chị Lidewij và hất đầu về phía cốc rượu. Chị ấy mang nó lại quầy rượu. “Chỉ lấy tư tưởng về nước thôi, cô Lidewij,” ông ta hướng dẫn.

[89] Winston Churchill (1874–1965), cố thủ tướng Anh. Ông là người đã đẩy mạnh mối quan hệ đặc biệt (Special Relationship) giữa Anh và Hoa Kỳ.

“Vâng, cháu biết,” chị nói, âm điệu gần như giọng Mỹ.

Cốc rượu thứ hai đã tới. Cột sống của Van Houten lại duỗi ra lần nữa với tất cả niềm kính trọng. Ông ta tuột dép ra. Bàn chân ông ta thực sự xấu xí. Ông ta đang phá hỏng hình tượng thiên tài văn học trong tôi. Nhưng ông ta có câu trả lời.

“Dạ, ừm,” tôi nói, “đầu tiên, chúng cháu muốn nói cảm ơn ngài vì bữa tối ngày hôm qua và...”

“Ta đã thanh toán cho bữa tối của chúng nó ngày hôm qua à?” Van Houten hỏi chị Lidewij.

“Vâng, ở Oranjee.”

“À, được thôi. Chà, hãy cứ tin khi ta nói cô cậu không cần phải cảm ơn ta mà nên cảm ơn cô Lidewij đây, người đặc biệt xuất chúng trong lĩnh vực tiêu xài tiền bạc của ta.”

“Đó là tấm lòng của chúng ta,” chị Lidewij nói.

“Dù sao thì cháu cũng cảm ơn,” Augustus nói. Tôi có thể nhận ra chút bực bội trong giọng cậu ấy.

“Giờ có ta ở đây,” Peter Van Houten nói sau một lúc. “Câu hỏi của cô cậu là gì?”

“Ừm,” Augustus nói.

“Thằng này có vẻ thông minh hơn lúc viết,” Van Houten nói với chị Lidewij về Augustus. “Có lẽ ung thư đã đổ bộ trong não nó.”

“Chú Peter,” chị Lidewij thốt lên kinh hãi.

Tôi cũng thấy khiếp sợ, nhưng có một điều dễ chịu về những gã ti tiện là hắn sẽ không đối xử với chúng ta khác biệt với những người khác. “Chúng cháu thực sự có một số câu hỏi,” tôi nói. “Cháu đã nói về chúng trong email. Cháu không biết chú còn nhớ không.”

“Ta không nhớ.”

“Trí nhớ của chú ấy đã giảm sút,” chị Lidewij nói.

“Phải chi trí nhớ của ta được giảm sút,” Van Houten đáp lại.

“Những câu hỏi của chúng cháu,” tôi nhắc lại.

“Cô bé dùng từ chúng cháu[90] cơ đấy,” Peter nói bâng quơ. Thêm một ngụm nữa. Tôi không biết rượu Scotch có vị thế nào, nhưng nếu nó có vị gì giống sâm panh thì tôi chẳng thể hiểu sao ông ta có thể uống nhiều, uống nhanh, uống trong buổi sáng sớm đến vậy. “Cô có biết nghịch lý con rùa của Zeno không?” ông ta hỏi tôi.

[90] Nguyên văn: the royal we. Cách dùng đại từ nhân xưng số nhiều để đại diện cho cá nhân, thường là người có địa vị chức vụ cao như Nữ hoàng, Giáo hoàng…

“Chúng cháu có một vài câu hỏi về những gì đã xảy ra với các nhân vật sau cái kết của cuốn sách, nhất là Anna...”

“Cô đã sai lầm khi cho rằng ta cần phải nghe cô hỏi mới có thể trả lời. Cô có biết triết gia Zeno[91]không?” Tôi khẽ lắc đầu. “Lạy chúa, Zeno là một triết gia trước thời của Socrates được cho rằng đã khám phá ra bốn mươi nghịch lý trong thế giới quan của Parmenides – chắc cô phải biết Parmenides,”[92] ông ta nói, và tôi gật đầu rằng mình biết Parmenides, cho dù tôi không biết. “Ơn Chúa,” ông ta nói. “Zeno đặc biệt có chuyên môn trong việc chỉ ra những điểm sai lệch và đơn giản hóa sự việc của Parmenides, mà việc này không mấy khó khăn bởi Parmenides luôn luôn mắc sai lầm nghiêm trọng ở mọi vấn đề. Giá trị của Parmenides cũng giống y hệt như việc có một người quen luôn chọn nhầm ngựa mỗi và mọi lần cô đưa hắn đến trường đua. Nhưng điều quan trọng nhất của Zeno – khoan, hãy cho ta thấy hiểu biết của cô cậu về nhạc hip-hop Thụy Điển thế nào.”

[91] Zeno xứ Elea (496/490–430/429TCN), nhà toán học, nhà triết học người Hy Lạp.

[92] Parmenides, triết gia Hy Lạp sống khoảng thế kỷ V trước công nguyên.

Tôi chẳng biết Peter Van Houten có đang đùa hay không nữa. Một lúc sau Augustus trả lời thay tôi. “Đôi chút,” cậu nói.

“Thôi được, chắc cô cậu cũng biết album Fläcken đầy triển vọng của nhóm nhạc Afasi och Filthy.”[93]

[93] Afasi och Filthy (Afasi và Filthy), nhóm nhạc hip-hop đến từ Uppsala, Thụy Điển, gồm hai thành viên: rapper Herbert Munkhammar và producer Magnus Lidehäll.

“Chúng cháu không,” tôi đáp lời thay cho cả hai.

“Cô Lidewij, hãy bật bản ‘Bomfalleralla’ ngay lập tức.” Chị Lidewij bước đến chỗ máy phát nhạc MP3, xoay xoay cái núm rồi ấn vào một cái nút. Một bản nhạc rap dội lên từ mọi hướng. Nghe cũng giống mọi bản nhạc rap khác, có điều viết bằng tiếng Thụy Điển.

Sau khi bản nhạc kết thúc, Peter Van Houten nhìn chúng tôi mong đợi, đôi mắt ti hí của ông ta mở to hết mức có thể. “Sao?” ông ta hỏi. “Sao?”

Tôi nói, “Cháu xin lỗi, thưa ngài, nhưng chúng cháu không nói tiếng Thụy Điển.”

“Phải, tất nhiên cô cậu thì không rồi. Ta cũng thế. Đứa quái nào lại đi nói tiếng Thụy Điển? Điều quan trọng không phải những ca từ đang truyền đạt ý nghĩa vớ vẩn nào, mà là ta cảm thụ ra sao. Chắc cô cậu cũng biết chỉ có hai loại cảm xúc, yêu thương và sợ hãi, Afasi och Filthy đã chèo lái giữa chúng với những phương tiện mà một người đơn giản là chẳng thể tìm thấy trong thể loại nhạc hip-hop ngoài Thụy Điển. Ta bật nó cho các cô cậu nghe lần nữa nhé?”

“Ông đang đùa?” Gus nói.

“Xin lỗi?”

“Có phải đây là một màn kịch gì không?” Cậu ấy nhìn lên chị Lidewij và hỏi, “Phải không?”

“Chị e là không,” Lidewij trả lời. “Chú ấy không phải lúc nào cũng – hôm nay quá khác thường...”

“Ồ im đi, cô Lidewij. Rudoff Otto[94] nói rằng nếu các người chưa từng chạm mặt với linh thiêng, nếu chưa từng trải nghiệm một cuộc gặp gỡ không thực với những bí ẩn siêu nhiên, thì tác phẩm của ngài không dành cho các người. Và ta nói với các cô cậu đây, hai bạn trẻ ạ, nếu cô cậu không thể nghe được lời đáp dũng cảm của Afasi och Filthy với nỗi sợ hãi, thì tác phẩm của ta đây không dành cho cô cậu đâu.”

[94] Rudolf Otto (1869–1937), nhà thần học người Đức.

Tôi phải nhấn mạnh điều này: Nó hoàn toàn là một bài rap bình thường, trừ việc được viết bằng tiếng Thụy Điển. “Ừm,” tôi nói. “Thế còn về Nỗi đau tột cùng. Mẹ Anna, khi cuốn sách kết thúc, có định...”

Van Houten ngắt lời tôi, gõ vào cốc rượu trong khi bảo chị Lidewij rót đầy nó lần nữa. “Zeno nổi tiếng nhất vì nghịch lý con rùa của ông ta. Hãy tưởng tượng rằng ta đang ở trong cuộc đua với một con rùa. Con rùa được xuất phát trước mười thước. Trong khoảng thời gian ta chạy được mười thước đó, con rùa tiến thêm khoảng một thước. Rồi trong khoảng thời gian ta bắt kịp được khoảng cách đó, con rùa lại tiến thêm được một chút, cứ thế mãi mãi. Ta đi nhanh hơn con rùa nhưng lại không thể nào bắt kịp nó; ta chỉ có thể rút ngắn khoảng cách mà thôi.

“Tất nhiên, ta có thể cứ đi qua con rùa đó mà chẳng cần quan tâm đến những khía cạnh cơ học liên quan, nhưng câu hỏi ta làm điều đó như thế nào lại phức tạp khó ngờ, và không ai giải thích được cho đến khi Cantor[95]chỉ cho chúng ta rằng có những tập vô hạn này lớn hơn những tập vô hạn khác.”

[95] Georg Cantor (1845–1918), nhà toán học người Đức, cha đẻ của lý thuyết tập hợp.

“Ừm,” tôi nói.

“Ta cho rằng điều đó đã trả lời cho câu hỏi của cô,” ông ta tự tin nói, nhấm một ngụm hào phóng từ chiếc cốc của mình.

“Không hẳn thế,” tôi nói. “Chúng cháu không biết sau cái kết của Nỗi đau tột cùng...”

“Ta phủ nhận mọi thứ trong cuốn tiểu thuyết thối tha đó,” Van Houten nói, cắt ngang lời tôi.

“Không,” tôi thốt lên.

“Xin lỗi?”

“Không, điều đó là không thể chấp nhận được,” tôi nói. “Cháu hiểu câu chuyện kết thúc dang dở vì Anna đã chết hay quá yếu để tiếp tục viết, nhưng ngài nói ngài sẽ kể cho chúng cháu những chuyện đã xảy ra với tất cả mọi người, đó chính là lí do chúng cháu đang ở đây, và chúng cháu, cháu cần ngài giải thích.”