Lỗi lầm ở những vì sao - Chương 11 - Phần 2

Anh phục vụ biến mất. Chúng tôi ngồi ngắm những hạt hoa giấy rơi xuống từ không trung, chao khỏi mặt đất trước gió, đáp xuống dòng kênh. “Thật khó tin có ai lại thấy chúng khó chịu,” một lúc sau Augustus nói.

“Con người luôn quen dần với vẻ đẹp.”

“Tớ đã quen được với cậu đâu,” cậu ấy nói, mỉm cười. Tôi thấy mình đang đỏ mặt. “Cảm ơn cậu vì đã tới Amsterdam,” cậu ấy nói.

“Cảm ơn đã cho tớ cướp đi điều ước của cậu.”

“Cảm ơn cậu đã mặc chiếc váy đẹp đến ngạc nhiên,” cậu ấy nói. Tôi lắc đầu, cố gắng không cười với cậu ấy. Tôi không muốn mình là một quả bom. Nhưng phải nói lại, cậu ấy biết mình đang làm gì mà, phải không? Đây cũng là lựa chọn của cậu ấy. “Này, bài thơ đó kết thúc thế nào?” Cậu ấy hỏi.

“Hứ?”

“Bài thơ cậu đọc cho tớ trên máy bay.”

“À, ‘Prufrock’? Nó kết thế này, ‘Ta nán lại trong căn phòng của biển / Với những nàng tiên đội vòng hoa đỏ và nâu / Đến khi tiếng nói con người đánh ta thức dậy, ta đã chìm sâu.’”

Augustus rút một điếu thuốc ra và gõ gõ đầu lọc xuống bàn. “Tiếng nói ngốc nghếch của con người luôn làm hỏng mọi thứ.”

Anh phục vụ quay lại với hai ly sâm panh và một món anh ấy gọi là “Măng tây trắng đất Bỉ với vị hoa oải hương”.

“Tớ cũng chưa bao giờ uống sâm panh,” Gus nói sau khi anh phục vụ đã đi khỏi. “Nếu cậu có thắc mắc hay gì thôi. Mà tớ cũng chưa ăn măng tây trắng bao giờ nữa.”

Tôi đang nhai miếng đầu tiên. “Ngon cực luôn,” tôi đảm bảo.

Cậu ấy cũng cắn một miếng, rồi nuốt. “Chúa ơi. Nếu măng tây lúc nào cũng ngon thế này thì tớ cũng ăn chay luôn.” Một vài người trên chiếc thuyền gỗ sơn đang lại gần phía chúng tôi trên mặt kênh bên dưới. Một chị tóc xoăn vàng óng, có lẽ khoảng ba mươi, nâng chiếc cốc bia cô đang uống về phía chúng tôi và hét lên gì đó.

“Chúng tôi không biết tiếng Hà Lan.” Gus hét lại.

Một người khác hét lại bản dịch: “Một cặp đẹp đôi rất đẹp.”

Đồ ăn ngon đến nỗi cứ sau mỗi món được dọn ra, cuộc nói chuyện của chúng tôi lại càng rơi vào những lời tán dương dành cho mùi vị của nó: “Tớ muốn món risotto[81]cà rốt tím biến thành một cô nàng để tớ có thể đem qua Las Vegas và cưới nó.” “Sorbet[82] đậu ngọt, mày ngon không thể tin được,” tôi ước gì mình đói hơn một chút.

Sau món gnocchi[83] tỏi xanh với lá mù tạc đỏ, anh phục vụ nói, “Tiếp theo là món tráng miệng. Thêm một chút những ngôi sao trước chứ?” Tôi lắc đầu. Hai ly là quá đủ. Sâm panh không phải là ngoại lệ cho sức chịu đựng cao của tôi với thuốc chống trầm cảm hay thuốc giảm đau; tôi thấy ấm áp nhưng chưa say. Tôi cũng không muốn mình say. Sẽ chẳng có nhiều đêm như thế này, và tôi muốn ghi nhớ nó.

[81] Risotto, một món cơm Ý nấu với nước dùng chứa nhiều kem. Nước dùng có thể làm từ thịt, cá hoặc rau củ.

[82] Sorbet, một loại “kem” có thành phần là nước hoa quả hay hoa quả xay đông đá, có thể thêm rượu.

[83] Một món pasta (một loại mỳ Ý) mềm, dày, làm từ bột mỳ, khoai tây, trứng, phô mai…

“Mmmm,” tôi nói sau khi anh phục vụ đã đi, Augustus lại cười điệu nửa khóe miệng khi cậu ấy nhìn xuống con kênh còn tôi ngước lên trên. Chúng tôi có rất nhiều thứ để ngắm nên sự im lặng này không đến nỗi ngột ngạt, nhưng tôi muốn mọi thứ phải thật hoàn hảo. Nó hoàn hảo thật, tôi nghĩ, nhưng nó cảm giác như có ai đã cố sắp đặt Amsterdam như trong trí tưởng tượng của tôi, khiến tôi không sao dứt bỏ được ý nghĩ bữa tối này, cũng như bản thân chuyến đi, chỉ là một đặc quyền ung thư. Tôi chỉ muốn chúng tôi cười đùa nói chuyện thoải mái, giống như lúc hai đứa cùng ngồi bên nhau trên chiếc ghế sofa ở nhà, nhưng có sự căng thẳng nào đó đang bao trùm lên mọi thứ.

“Đây không phải bộ vét để dự lễ tang của tớ,” một lúc sau cậu ấy nói. “Lần đầu tiên tớ biết tớ mắc bệnh – họ nói rằng tớ có tám mươi phần trăm cơ hội được chữa lành. Vẫn biết tỉ lệ như thế là rất cao nhưng tớ cứ nghĩ nó chẳng khác gì trò roulette Nga[84] cả. Kiểu như tớ phải chịu đựng nỗi đau suốt sáu tháng hay một năm và mất một chân rồi có thể cuối cùng vẫn không làm được gì cả, cậu biết đúng không?”

[84] Hai (hoặc hơn) người chơi luân phiên sử dụng một khẩu súng lục ổ đạn quay, trong ổ đạn có duy nhất một viên, tự bắn vào đầu mình. Người nào còn sống tất nhiên sẽ chiến thắng, trò chơi kết thúc.

“Tớ biết,” tôi nói thế mặc dù tôi không biết, không thực sự biết. Tôi từ đầu đã là giai đoạn cuối; mọi liệu pháp điều trị đều chỉ nhằm mục đích kéo dài cuộc sống của tôi, không phải là chữa bệnh ung thư. Phalanxifor đã thêm vào một phương pháp nhập nhằng cho câu chuyện ung thư của tôi, nhưng tôi khác Augustus: Chương cuối của đời tôi đã được viết sẵn khi chẩn đoán bệnh. Gus, cũng như đa số những bệnh nhân ung thư sống sót khác, đều tiếp tục sống với nỗi mơ hồ.

“Đấy,” cậu ấy nói tiếp. “Thế nên tớ đã đối mặt với tất cả những chuyện này bằng việc chuẩn bị sẵn tinh thần. Nhà tớ đã mua một mảnh đất ở nghĩa trang Crown Hill, tớ với bố đã đi vòng quanh đó và chọn được một chỗ. Lễ tang rồi mọi thứ của tớ đều được chuẩn bị sẵn, ngay trước hôm phẫu thuật tớ đã hỏi bố mẹ xem tớ mua một bộ vét có được không, một bộ rất đẹp ấy để phòng trường hợp nhỡ đâu tớ chết. Dẫu sao tớ cũng chưa có cơ hội được mặc nó. Cho đến tận tối nay.”

“Vậy đây là bộ vét tang của cậu.”

“Chuẩn. Cậu cũng quần áo tang chứ?”

“Ừm,” tôi trả lời. “Một bộ váy tớ mua dành cho bữa tiệc sinh nhật mười lăm. Nhưng mà tớ không mặc nó đi hẹn hò đâu.”

Mắt cậu ấy hấp háy. “Chúng mình đang hẹn hò à?” cậu ấy hỏi.

Tôi cụp mắt xuống, cảm giác thật ngượng ngùng.“Đừng nghĩ lung tung nữa.”

Cả hai chúng tôi đều đã rất no nhưng món tráng miệng – món crémeux thơm ngon béo ngậy phủ chanh leo ở ngoài – quá tuyệt đến nỗi ít cũng phải nhấm nháp được chút, thế là chúng tôi lai rai một lúc cố chờ cho bụng đói trở lại. Mặt trời cứ nấn ná chưa chịu đi ngủ: Đã tám rưỡi tối mà trời vẫn sáng.

Đột nhiên Augustus hỏi, “Cậu có tin vào sự sống sau khi chết không?”

“Tớ nghĩ vĩnh hằng là một khái niệm không chính xác,” tôi trả lời.

Cậu ấy nhấc miệng cười. “Cậu là một khái niệm không chính xác.”

“Tớ biết. Thế nên tớ mới không được luân hồi.”

“Chuyện đó không vui vẻ gì cả,” cậu ấy nhìn ra đường. Có hai cô gái đạp xe ngang qua, chị đằng sau ngồi vắt hai chân qua một bên.

“Thôi nào,” tôi nói. “Tớ chỉ đùa thôi mà.”

“Cái ý nghĩ cậu bị bỏ rơi khỏi kiếp luân hồi chẳng vui vẻ gì với tớ,” cậu ấy nói. “Nghiêm túc nhé: sự sống sau khi chết?”

“Không,” tôi đáp rồi sau đó sửa lại. “Ừ thì, có lẽ tớ không dám khẳng định là không có. Cậu?”

“Có,” cậu ấy nói, giọng đầy tự tin. “Có, chắc chắn có. Không phải kiểu thiên đường nơi cậu cưỡi kỳ lân, chơi đàn hạc, sống trong những dinh thự xây bằng mây. Nhưng có. Tớ tin vào Thứ gì đó với chữ T viết hoa. Nó luôn tồn tại.”

“Thật à?” tôi hỏi. Tôi rất ngạc nhiên. Thành thực mà nói trước giờ tôi luôn đánh đồng đức tin vào thiên đường với cả sự xa rời tri thức khoa học. Nhưng Gus đâu có ngốc.

“Ừ,” cậu ấy lặng lẽ nói. “Tớ tin vào một câu trong Nỗi đau tột cùng. ‘Ánh bình minh vẫn chói lòa trong đôi mắt đang mất đi của cô ấy.’ Đó là Đức Chúa, tớ nghĩ thế, ánh mặt trời mọc, ánh sáng chói lòa và đôi mắt của cô ấy chỉ đang rời xa chứ chưa mất hẳn. Tớ không tin chúng ta có thể quay lại để ám ảnh hay phù hộ những người đang sống, nhưng tớ nghĩ chúng ta sẽ trở thành một thứ gì đó khác.”

“Nhưng cậu sợ sự quên lãng.”

“Ừ, tớ sợ sự lãng quên của trần thế. Nhưng không giống kiểu bố mẹ tớ, tớ tin vào những linh hồn, và tớ tin rằng những linh hồn vẫn luôn ở lại. Nỗi sợ bị quên lãng là một chuyện khác, sợ rằng tớ sẽ không thể làm được gì để đổi lấy mạng sống của chính mình. Nếu không sống một cuộc sống có ích thì ít ra hãy chết một cái chết có nghĩa, cậu hiểu chứ? Tớ sợ mình sẽ chẳng có cả cuộc sống hay cái chết có ý nghĩa gì.”

Tôi chỉ lắc đầu.

“Sao thế?” cậu ấy hỏi.

“Nỗi ám ảnh của cậu về chuyện hi sinh cho chuyện gì đó hay để lại dấu ấn đằng sau cuộc đời anh hùng của cậu. Thật ngớ ngẩn.”

“Ai cũng đều muốn một cuộc sống đặc biệt.”

“Không phải ai cũng thế,” tôi nói, không thể che giấu vẻ khó chịu của mình.

“Cậu bực mình à?”

“Nó chỉ là,” tôi chẳng thể nói hết câu. “Chỉ là,” tôi nhắc lại. Ánh nến lập lòe giữa hai chúng tôi. “Cậu thật ích kỷ khi nói một người chỉ có ý nghĩa khi họ sống hay chết vì điều gì đó. Thật sự ích kỷ khi nói thế với tớ.”

Tôi thấy mình hơi trẻ con, rồi tôi cắn một miếng bánh tráng miệng để tỏ ra nó chẳng có vấn đề gì lắm. “Xin lỗi,” cậu ta nói. “Tớ không có ý như vậy. Tớ chỉ đang nghĩ về bản thân mình thôi.”

“Ừ, đúng thế,” tôi no đến nỗi không thể ăn hết được. Tôi thực sự sợ mình sẽ nôn, bởi tôi cũng thường bị thế sau khi ăn. (Chẳng phải chứng háu ăn, chỉ là ung thư.) Tôi đẩy đĩa bánh của mình về phía Gus nhưng cậu ấy cũng lắc đầu.

“Tớ xin lỗi,” cậu ấy nhắc lại lần nữa, đưa tay qua mặt bàn với lấy tay tôi. Tôi để cậu ấy nắm lấy nó. “Tớ có thể sẽ tệ hơn mà, cậu biết đấy.”

“Như nào?” tôi chọc.

“Thì sẽ lại có một bức thư pháp treo trong toa lét nhà tớ, ‘Hãy Tắm Mình Hàng Ngày Trong Lời An Ủi Của Kinh Thánh,’ Hazel. Tớ có thể sẽ tệ hơn nữa.”

“Nghe gớm quá,” tôi nói.

“Tớ có thể sẽ tệ hơn.”

“Cậu có thể sẽ tệ hơn,” tôi cười. Cậu ấy thực sự thích tôi. Có thể tôi là người tự yêu bản thân quá đà gì đấy, nhưng tôi biết khoảnh khắc ở Oranjee lúc đó khiến tôi càng thích cậu ấy nhiều hơn.

Anh phục vụ của chúng tôi đến dọn món tráng miệng và thông báo, “Bữa tối của anh chị đã được Ngài Peter Van Houten thanh toán.”

Augustus cười. “Ông Peter Van Houten này không tệ lắm nhỉ.”

Chúng tôi đi bộ dọc theo con kênh lúc trời đang tối dần rồi dừng lại ở một chiếc ghế đá công viên cách Oranjee một dãy nhà, xung quanh là một đống xe đạp han gỉ đã cũ được khóa vào giá giữ xe và khóa lại với nhau. Chúng tôi ngồi xuống cạnh nhau nhìn ra phía con kênh, rồi cậu ấy vòng tay qua ôm tôi.

Tôi có thể thấy ánh đèn nhấp nháy từ khu Phố Đèn Đỏ. Dù gọi là Phố Đèn Đỏ nhưng ánh sáng phát ra từ đây lại xanh kỳ quái. Tôi tưởng tượng ra cảnh hàng ngàn du khách say khướt, chẳng ý thức được mình đang liêu xiêu trong những con phố chật hẹp.

“Không thể tin được ngày mai ông ấy sẽ kể cho chúng ta nghe,” tôi nói. “Peter Van Houten sắp sửa kể cho chúng ta đoạn kết tuyệt vời chưa từng được viết nên của cuốn sách hay nhất mọi thời đại.”

“Ông ấy còn thanh toán cho bữa tối của chúng mình nữa,” Augustus thêm vào.

“Tớ cứ tưởng tượng là trước khi kể ông ấy sẽ lục soát khắp người chúng ta để xem có máy ghi âm không đã. Rồi ông ấy sẽ ngồi giữa hai đứa trên ghế sofa trong phòng khách và thì thầm chuyện mẹ Anna có cưới chú Tulip Hà Lan không.”

“Đừng quên Sisyphus chú chuột Hamster nữa,” Augustus nhắc.

“Ừ, tất nhiên cả câu chuyện về số phận của Sisyphus chú chuột Hamster nữa,” tôi nghiêng người ra trước, nhìn xuống lòng kênh. Có rất nhiều cánh hoa du nhạt màu dưới những con kênh, buồn cười thật. “Một đoạn kết dành riêng cho hai ta,” tôi nói.

“Cậu đoán sao?” cậu ấy hỏi.

“Tớ không biết nữa. Tớ đã nghĩ đi nghĩ lại hàng ngàn lần chuyện đó rồi. Mỗi lần đọc tớ lại nghĩ một khác, cậu biết đấy?” Cậu ấy gật đầu. “Cậu có giả thuyết nào không?”

“Ừ. Tớ không nghĩ chú Tulip Hà Lan là một tên lừa đảo, dù có thể không giàu như chú thể hiện cho người ta tin. Tớ nghĩ sau khi Anna chết, mẹ Anna cùng chú ấy đến Hà Lan với mong muốn được sống bên nhau trọn đời, nhưng kết quả thì không như thế bởi bà muốn được ở gần nơi con gái mình nằm.”

Tôi chưa từng nhận ra cậu ấy cũng nghĩ nhiều về cuốn sách như thế, rằng cuốn Nỗi đau tột cùng cũng chiếm một góc độc lập trong tâm trí Gus với một góc dành cho tôi.

Sóng nước nhẹ nhàng vỗ vào bức kè đá dưới chân chúng tôi; một nhóm thanh niên đạp xe qua, hò hét bằng chất giọng Hà Lan với những âm yết hầu liến thoắng; một vài chiếc thuyền nhỏ xíu, chẳng dài hơn tôi là mấy, nửa chìm xuống lòng kênh; mùi dòng nước đã tù động quá lâu; cánh tay cậu ấy kéo tôi vào lòng; cái chân thật của cậu ấy tì sát với cái chân thật của tôi từ hông đến tận bàn chân. Tôi hơi ngả người vào cậu ấy. Cậu ấy nhăn mặt lại. “Xin lỗi, cậu không sao chứ?”

Cậu ấy thở ra một chữ với vẻ đau đớn rõ ràng.

“Xin lỗi nhé,” tôi nói. “Vai tớ toàn xương.”

“Không sao mà,” cậu ấy đáp. “Thực ra nó rất đẹp.”

Chúng tôi cứ ngồi như thế một lúc lâu. Cuối cùng tay cậu cũng buông vai tôi ra để ngả mình tựa vào chiếc ghế đá. Chúng tôi hầu như chỉ nhìn xuống lòng kênh. Tôi cứ nghĩ mãi tại sao họ lại có thể dựng nên nơi này khi lẽ ra nó đã chìm dưới nước, rồi với Bs. Maria tôi cũng giống Amsterdam, một ca dị thường nửa chìm nửa nổi, rồi nó khiến tôi lại nghĩ về cái chết. “Tớ có thể hỏi cậu chuyện về Caroline Mathers không?”

“Thế mà cậu nói không có sự sống sau cái chết,” cậu ấy trả lời mà chẳng quay sang nhìn tôi. “Nhưng ừ, tất nhiên. Cậu muốn biết chuyện nào?”

Tôi chỉ muốn biết cậu ấy thế nào nếu như tôi chết. Tôi muốn mình không phải là một quả bom, không phải một ảnh hưởng xấu đến cuộc sống của những người tôi thương yêu. “Thì kiểu đã có chuyện gì thôi.”

Cậu ấy thở dài, lâu đến nỗi với hai lá phổi vớ vẩn của tôi cậu ấy như thể đang khoe khoang. Cậu ấy ngậm một điếu thuốc trên môi, “Thì cậu biết chẳng có chỗ nào kém náo nhiệt hơn cái sân chơi của viện đấy?” Tôi gật đầu. “Tớ nằm lại viện Memorial một vài tuần sau khi bị tháo chân. Lúc đấy tớ đang ở trên tầng năm và nhìn xuống sân chơi, dĩ nhiên nó vẫn luôn vắng tanh vắng ngắt, phiêu du với những ý nghĩa ẩn dụ của cái sân chơi trống trải trong viện. Rồi cô ấy xuất hiện một mình ở đó, ngày nào cũng như ngày nào, đung đưa một mình trên chiếc ghế đu, giống kiểu cậu vẫn hay thấy trong phim gì đấy. Sau đó tớ mới nhờ một trong những chị y tá tốt bụng của tớ tìm hiểu về cô ấy, rồi chị y tá dẫn cô ấy lên thăm tớ, và đó là Caroline, tớ đã dùng vẻ quyến rũ chết người của mình để mê hoặc cô ấy.” Cậu ấy ngừng lại, thế nên tôi nghĩ mình phải nói gì đó.

“Cậu không quyến rũ thế đâu,” tôi nói. Cậu ấy cười, có vẻ chẳng tin. “Cùng lắm đẹp trai tí thôi,” tôi giải thích.

Cậu ấy cười xòa. “Chuyện về người đã khuất,” cậu ấy nói, rồi lại ngập ngừng. “Cậu sẽ giống một kẻ không ra gì nếu không thêm chút lãng mạn cho chúng, nhưng sự thật thì… rất phức tạp, tớ nghĩ thế. Giống như cậu hẳn đã quen với ý nghĩa ẩn sau những bệnh nhân ung thư khắc kỷ và quyết đoán đã anh dũng chiến đấu với căn bệnh ung thư chỉ với sức lực của một con người mà chẳng hề ca thán hay tắt đi nụ cười ngay cả trong những giây phút cuối, đại loại thế?”

“Thật mà,” tôi nói. “Họ là những linh hồn có trái tim ấm áp và khoan dung mà mỗi hơi thở đều là một Nguồn Cảm Hứng Cho Tất Cả Chúng Ta. Họ rất mạnh mẽ! Chúng ta nên cảm phục họ chứ!”

“Ừ, nhưng thực ra, tất nhiên trừ chúng ta ra, những bệnh nhi ung thư khác nhiều khả năng đều rất tuyệt vời và đầy nhiệt huyết và giàu nghị lực và gì đấy. Caroline lại luôn tâm trạng và rầu rĩ, nhưng tớ thích thế. Tớ thích cái cảm giác như thể cô ấy chọn tớ là người duy nhất trên thế giới này để không ghét bỏ, rồi phần lớn thời gian chúng tớ chỉ ngồi nói xấu người khác, cậu hiểu chứ? Cười nhạo những cô y tá, những bệnh nhân khác rồi cả gia đình họ và những người khác. Nhưng tớ không biết đó là tại cô ấy hay tại khối u nữa. Một chị y tá của của cô ấy có lần kể rằng khối u của Caroline thuộc một loại được biết đến trong y khoa với cái tên Khối U Đê Tiện, đơn giản vì nó biến người ta thành một con quái vật. Vậy đấy, một cô nàng đã mất một phần năm bộ não với Khối U Đê Tiện tái phát, cậu biết đấy, cô ấy không phải là hình mẫu cho chủ nghĩa anh hùng của bệnh nhi ung thư khắc kỷ. Cô ấy… thành thực thì cô lấy là một đứa khốn nạn. Nhưng mà không nói thế được bởi vì cô ấy mắc khối u đấy, mà cô ấy cũng, ý tớ là, cũng đã mất. Cô ấy có rất nhiều lý do thành ra khó ưa như thế, cậu biết không?

Tôi biết.

“Cậu nhớ trong Nỗi đau tột cùng có một đoạn khi Anna đang đi ngang qua sân bóng để đến lớp thể dục gì đó thì bị ngã úp mặt xuống sân, đó là lúc Anna biết bệnh ung thư đã tái phát trở lại tấn công hệ thần kinh của bạn ấy và bạn ấy không thể tự mình đứng dậy và mặt bạn ấy chỉ nằm cách mặt cỏ sân bóng có vài phân và bạn ấy cứ nằm đó chăm chú quan sát cách những tia nắng đọng lại trên từng ngọn cỏ ngay sát trước mặt và… Tớ không nhớ nguyên văn nhưng đại loại là Anna đã có một khám phá kiểu Whitman[85] rằng định nghĩa của nhân tính chính là khoảnh khắc nhận ra ta ngạc nhiên trước vẻ kỳ vĩ của tạo hóa gì đấy. Cậu biết đoạn đấy chứ?”

[85] Walt Whitman (1819–1892), nhà thơ, nhà báo, nhà nhân văn người Mỹ, tác giả của tập thơ Leaves of Grass (Lá cỏ).

“Tớ biết đoạn đấy,” tôi nói.

“Nên sau đó, trong khi bị tháo chân bởi hóa trị, tớ đã quyết định phải cảm thấy đầy hi vọng. Không hẳn vì đã sống sót, nhưng tớ có cảm giác giống hệt như Anna từng cảm thấy trong cuốn sách, cảm giác hứng khởi và biết ơn vì vẫn còn được ngạc nhiên về mọi chuyện.

“Nhưng Caroline thì càng tệ đi mỗi ngày. Cô ấy về nhà sau một thời gian và đã có những lúc tớ nghĩ chúng tớ có thể có, ừm, một mối quan hệ bình thường, nhưng thực ra là không bởi cô ấy chẳng có một lớp ngăn cách nào giữa những suy nghĩ và lời nói của mình, những lời buồn bã, khó chịu và thường xuyên gây tổn thương. Nhưng tớ nghĩ mình không thể nào bỏ rơi một cô gái đang mắc bệnh ung thư não. Và bố mẹ cô ấy cũng rất quý tớ, cô ấy còn có một đứa em trai cực đáng yêu nữa. Làm sao tớ có thể bỏ rơi cô ấy? Cô ấy đang chết.

“Mọi chuyện cứ kéo dài tưởng như mãi mãi. Gần một năm, một năm của tớ hẹn hò với một cô nàng, kiểu như, cứ cười phá lên chẳng cần lý do gì cả rồi chỉ vào cái chân giả của tớ và gọi tớ là Thằng Lùn.”

“Không,” tôi thốt lên.

“Ừ. Tớ nghĩ đấy là tại khối u. Nó ăn dần bộ não cô ấy, cậu biết mà? Hoặc cũng chẳng phải do khối u nữa. Tớ chẳng cách nào biết được, bởi lẽ cô ấy và khối u là chẳng thể tách rời. Bệnh cô ấy nặng dần thêm, suốt ngày lải nhải đúng một câu chuyện rồi tự mình cười mình dù cô ấy đã nói những thứ như thế cả trăm lần trong ngày. Kiểu như, cô ấy nhắc đi nhắc lại một câu đùa cợt trong hàng tuần trời: ‘Gus có đôi chân tuyệt vời. Ý tớ là một chân thôi.’ Rồi cô ấy lại cười như người điên dại.”

“Ôi, Gus,” tôi nói. “Thật là…” tôi chẳng biết phải nói gì. Cậu ấy không nhìn tôi, và thật không phải nếu tôi cứ nhìn cậu ấy. Tôi cảm thấy cậu ấy dịch người ra một chút rồi bỏ điếu thuốc ra khỏi miệng, nhìn chằm chằm vào nó, vân vê giữa ngón cái và ngón trỏ rồi ngậm trở lại.

“Ừ,” cậu ấy nói, “công bằng mà nói thì tớ đúng là có một cái chân tuyệt vời.”

“Tớ rất tiếc,” tôi nói. “Tớ thực sự rất tiếc.”

“Không sao mà, Hazel Grace. Nhưng để nói cho rõ, tớ không thực sự hạnh phúc lắm khi tớ nghĩ tớ đã gặp hình bóng của Caroline Mathers ở Nhóm Tương Trợ. Tớ nhìn vậy thôi chứ không có mong mỏi gì, nếu cậu hiểu ý tớ.” Cậu ấy rút hộp thuốc trong túi áo ra rồi bỏ điếu thuốc lại trong đó.

“Tớ rất tiếc,” tôi nói lần nữa.

“Tớ cũng thế,” cậu ấy nói.

“Tớ không bao giờ muốn làm thế với cậu đâu,” tôi bảo cậu ấy.

“Ồ, tớ không phiền đâu, Hazel Grace. Sẽ là đặc ân nếu trái tim tớ được tan nát vì cậu.”