Lỗi lầm ở những vì sao - Chương 11 - Phần 1

CHƯƠNG MƯỜI MỘT

Tôi nghĩ cậu ấy chắc đã ngủ. Cuối cùng tôi cũng thiếp đi rồi thức dậy khi bánh đáp đang hạ xuống. Miệng tôi đắng ngắt đến nỗi tôi phải cố ngậm lại vì sợ sẽ đầu độc cả máy bay.

Tôi nhìn sang Augustus, cậu ấy đang ngó ra ngoài cửa sổ, rồi khi máy bay hạ thấp xuống dưới những đám mây tầng, tôi rướn thẳng lưng mình để ngắm nhìn đất nước Hà Lan. Vùng đất này nhìn như bị chìm sâu dưới lòng đại dương, một khoảnh chữ nhật màu xanh bao quanh bởi những kênh đào. Thực tế là chúng tôi cũng hạ cánh xuống song song với một cái kênh đào, như thể có hai đường băng: một cho chúng tôi và một cho những con chim nước.

Sau khi lấy hành lý và làm thủ tục thông quan, cả ba chúng tôi chui vào một chiếc taxi với bác tài xế mập mạp đầu hói nói tiếng Anh cực sõi – như thể sõi tiếng Anh hơn cả tôi. “Khách sạn Filosoof?” tôi nói.

Bác tài nói, “Chị và hai cháu là người Mỹ đúng không?”

“Vâng,” Mẹ nói, “Chúng tôi đến từ Indiana.”

“Indiana,” bác tài nói. “Họ chiếm lấy vùng đất của người Indians[77] rồi để lại cái tên đó, đúng không?”

[77] Người Anh-điêng.

“Cũng gần như thế,” Mẹ nói. Chiếc xe hòa vào dòng xe cộ và hướng về phía đường cao tốc qua rất nhiều biển tên màu xanh dương với những cái tên chứa toàn nguyên âm đôi: Oosthuizen, Haarlem. Dọc hai bên đường cao tốc là những dải đất trống trải bằng phẳng kéo dài hàng dặm, thỉnh thoảng lại bị chia cắt bởi trụ sở của những tập đoàn lớn. Tóm lại thì trông Hà Lan cũng giống Indianapolis, chỉ trừ việc xe cộ nhỏ hơn. “Đây là Amsterdam ạ?” tôi hỏi bác tài xế.

“Vừa đúng vừa không,” bác ấy trả lời. “Amsterdam giống như những vòng vân của cây gỗ: Càng vào sâu bên trong càng già nua cổ kính.”

Khung cảnh đột ngột thay đổi: Các dãy nhà nhấp nhô chạy dọc theo những hàng kênh y hệt như trong trí tưởng tượng của tôi xuất hiện khi chúng tôi rẽ khỏi đường cao tốc, xe đạp nhan nhản khắp nơi, rất nhiều quán cà phê với biển quảng cáo CÓ PHÒNG HÚT THUỐC RỘNG RÃI. Chúng tôi đi ngang qua một con kênh và từ đỉnh chiếc cầu tôi có thể nhìn thấy hàng chục chiếc nhà thuyền neo đậu dọc theo dòng nước. Chẳng có nét gì giống nước Mỹ nữa. Nó như một bức tranh cổ xưa nhưng chân thực – mọi thứ trông bình yên lạ thường trong ánh nắng sớm mai – rồi tôi chợt nghĩ thật kỳ quái một cách tuyệt vời khi được sống ở một nơi mà hầu như mọi thứ được dựng nên bởi bàn tay củanhững người đã chết.

“Những ngôi nhà kia chắc đã lâu đời lắm?” Mẹ tôi hỏi.

“Rất nhiều những ngôi nhà ở bờ kênh được dựng nên từ Thời kỳ Hoàng kim, vào thế kỷ mười bảy,” bác tài đáp. “Thành phố của chúng tôi có một lịch sử lâu đời và đặc sắc dù nhiều du khách chỉ muốn đến xem Phố Đèn Đỏ.” Bác ấy ngập ngừng. “Một vài du khách vẫn nghĩ Amsterdam là thành phố của tội lỗi, nhưng sự thực đây là thành phố của tự do. Và trong tự do, con người sinh ra tội lỗi.”

Các phòng trong khách sạn Filosoof đều được đặt tên theo các triết gia: Mẹ với tôi ở tầng một trong căn phòng mang tên Kierkegaard[78]; Augustus ở ngay tầng trên, trong phòng Heidegger[79]. Phòng chúng tôi khá nhỏ: một chiếc giường đôi kê sát tường, cuối giường đặt cái máy thở BiPAP của tôi, một chiếc máy tạo ôxy và hàng chục bình nạp khí. Ngoài đống thiết bị ra còn có một chiếc ghế hoa cũ kỹ bụi bặm với chỗ ngồi đã võng, một chiếc bàn, một kệ sách phía trên giường chứa tuyển tập các tác phẩm của Søren Kierkegaard. Trên mặt bàn đặt một giỏ mây đầy ắp những món quà từ Quỹ Genie: một đôi guốc gỗ, một chiếc áo phông Hà Lan màu cam, chocolate và rất nhiều thứ khác nữa.

[78] Søren Kierkegaard (1813–1855), triết gia người Đan Mạch, ông tổ của Chủ nghĩa hiện sinh (Existentialism).

[79] Martin Heidegger (1889–1976), triết gia theo trường phái Chủ nghĩa hiện sinh người Đức.

Khách sạn Filosoof nằm ngay cạnh Vondelpark, công viên nổi tiếng nhất ở Amsterdam. Mẹ muốn đi dạo một lúc nhưng tôi lại siêu mệt nên bà bật máy BiPAP cho nó hoạt động rồi đặt mặt nạ thở giúp tôi. Tôi ghét phải nói chuyện khi đang đeo nó nhưng vẫn nói, “Mẹ cứ đi công viên rồi con sẽ gọi lúc nào con dậy.”

“Được rồi,” bà nói. “Ngủ ngoan nhé con yêu.”

Nhưng khi tôi tỉnh dậy vài giờ sau đó, bà vẫn đang ngồi trên chiếc ghế nhỏ cũ kỹ ở góc phòng, đọc quyển hướng dẫn du lịch.

“Chào buổi sáng,” tôi nói.

“Thực ra là chiều muộn rồi,” bà đáp, nhấc mình lên khỏi ghế với một tiếng thở dài. Bà đến bên giường, đặt chiếc bình vào giá rồi nối với ống dẫn trong khi tôi bỏ mặt nạ của máy BiPAP ra và đặt đầu ống thở vào mũi. Bà chỉnh chế độ 2.5 lít một phút – tôi sẽ có sáu tiếng đồng hồ trước khi phải thay bình mới – rồi tôi ngồi dậy. “Con thấy thế nào?” bà hỏi.

“Tốt ạ,” tôi đáp. “Tuyệt vời. Công viên Voldepark thì sao ạ?”

“Mẹ không ra đấy,” bà đáp. “Nhưng vẫn đọc mọi thứ về nó trong quyển hướng dẫn du lịch.”

“Mẹ,” tôi nói, “mẹ không phải ở đây mãi thế đâu.”

Bà nhún vai. “Mẹ biết. Nhưng mẹ muốn thế. Mẹ thích trông con ngủ.”

“Kẻ rình rập nói.” Bà bật cười, nhưng tôi vẫn thấy có lỗi. “Con chỉ muốn mẹ vui vẻ thư giãn chút thôi mà, mẹ biết mà?”

“Được rồi. Mẹ sẽ đi chơi tối nay, được chứ? Rồi làm mấy thứ kiểu bà mẹ điên rồ trong khi con đi ăn tối với Augustus nhé.”

“Mà không có Mẹ đi cùng?” tôi hỏi.

“Đúng không có mẹ đi cùng. Thật ra là có bàn đặt riêng cho con ở một chỗ tên là Oranjee,” bà nói. “Cô trợ lý của Ông Van Houten đã sắp xếp trước. Chỗ đó nằm ở khu Jordaan ngay cạnh đây thôi. Rất lý tưởng, theo như cuốn cẩm nang du lịch. Có một trạm xe điện ở ngay cuối góc đường. Augustus biết đường đi. Các con có thể ăn tối ngoài trời, ngắm nhìn tàu thuyền qua lại. Sẽ rất thú vị. Rất lãng mạn nữa.”

“Mẹ.”

“Mẹ nói thế thôi,” bà nói tiếp. “Con nên thay quần áo đi. Bộ váy mùa hè được đấy?”

Người ta có thể ngạc nhiên trước sự điên rồ của tình huống này: Một bà mẹ giao đứa con gái mười sáu tuổi của mình cho một cậu bé mới mười bảy lang thang trong một thành phố xa lạ vốn nổi tiếng về sự buông thả của mình. Nhưng đây cũng lại là một ảnh hưởng phụ của việc đang chết: Tôi không thể chạy, không thể nhảy, không thể ăn đồ ăn chứa nhiều đạm, nhưng trong thành phố của sự tự do, tôi là một trong số những cư dân được hoàn toàn giải phóng.

Cuối cùng tôi cũng diện một chiếc váy mùa hè – chiếc váy hiệu Forever 21 màu xanh lam in hoa dài chấm gối – với quần bó và giày Mary Janes bởi tôi thích mình nhìn thấp hơn nhiều so với cậu ấy. Tôi bước vào cái nhà tắm bé tẹo đến hài và đánh vật với cái đầu xù của mình một lúc cho đến khi mọi thứ trông chỉn chu như chị Natalie Portman hồi giữa những năm 2000. Đúng sáu giờ tối (ở nhà đang là giữa trưa), tôi nghe có tiếng gõ cửa.

“Xin chào?” tôi nói vọng qua cánh cửa. Chẳng có cái lỗ mắt mèo[80] nào ở Khách sạn Filosoof.

[80] Nguyên văn: peephole. Một “con mắt” gắn trên cửa để người ở trong nhà có thể quan sát được bên ngoài.

“Okay,” Augustus trả lời. Nghe giọng tôi cũng biết được cậu ấy đang ngậm điếu thuốc trong miệng. Tôi nhìn lại mình một lượt. Chiếc váy để lộ khoảng giữa lồng ngực với xương đòn mà Augustus cũng đã thấy rồi. Nó chẳng phải khêu gợi lắm hay làm sao, nhưng cũng gần như lần đầu tiên tôi phô bày chút da thịt. (Mẹ có một khẩu hiệu về chuyện này mà tôi rất tán thành: “Nhà Lancaster không bao giờ khoe bụng.”)

Tôi kéo cánh cửa ra. Augustus mặc bộ vét với ve áo hẹp màu đen ôm vừa vặn lấy người, bên trong là áo sơ mi màu xanh lơ và thắt cà vạt bản nhỏ màu đen. Một điếu thuốc đung đưa bên khóe miệng không cười của cậu. “Hazel Grace,” cậu ấy chào, “cậu trông lộng lẫy quá.”

“Tớ,” tôi nói. Tôi cứ nghĩ phần còn lại của câu sẽ tự vuột ra từ luồng không khí qua dây thanh quản của tôi, nhưng chẳng có gì xảy ra cả. Rồi cuối cùng tôi nói, “Tớ thấy hơi thiếu vải.”

“À, cái chuyện cũ đấy hả?” cậu ấy nói, nhìn xuống tôi cười.

“Augustus,” mẹ đứng ngay sau tôi, “nhìn cháu cực kỳ ra dáng.”

“Cảm ơn, thưa bác,” cậu ấy nói. Cậu ấy đưa cánh tay ra cho tôi. Tôi khoác lấy nó, ngoái lại nhìn mẹ.

“Gặp con lúc mười một giờ,” bà nói.

Trong lúc chờ tuyến xe điện số một trên con phố rộng thênh nhưng vẫn đầy xe cộ, tôi hỏi Augustus, “Bộ vét cậu sẽ mặc đến dự lễ tang, tớ đoán thế?”

“Thực ra là không,” cậu ấy nói. “Bộ vét kia chẳng đẹp thế này đâu.”

Khi chiếc xe điện sơn hai màu xanh-trắng đến nơi, Augustus chìa thẻ của chúng tôi cho bác lái xe xem và được hướng dẫn là phải quẹt nó qua một cái cảm biến hình tròn. Trong khi chúng tôi len lỏi trên chuyến xe đông đúc này thì có một bác lớn tuổi đứng dậy nhường chỗ cho chúng tôi ngồi cạnh nhau, dù tôi đã cố hết sức bảo bác cứ ngồi, bác ấy vẫn khăng khăng chỉ vào chiếc ghế. Chúng tôi phải đi qua ba trạm dừng, tôi dựa người vào Augustus để có thể nhìn ra cửa sổ cùng nhau.

Augustus chỉ lên một cái cây và hỏi tôi, “Cậu thấy nó không?”

Tôi có thấy chúng. Dọc khắp con kênh là những hàng cây du, hạt của chúng giăng đầy trong gió. Chúng thực ra không giống hạt lắm, mà hệt như những cánh hồng đã phai màu nhỏ li ti. Những cánh hồng cuốn theo cơn gió, tụ lại như đàn chim bay – đông đến hàng ngàn, như một trận bão tuyết vào xuân.

Bác trai vừa nhường chỗ cho chúng tôi thấy hai đứa đang mải mê ngắm nhìn chúng, liền cất tiếng giải thích bằng tiếng Anh, “Tuyết xuân của Amsterdam. Những cây iepen thổi đầy hoa giấy đón chào mùa xuân.”

Chúng tôi đổi tuyến, và sau bốn trạm dừng nữa chúng tôi đặt chân xuống con phố được ngăn đôi bởi một dòng kênh đẹp đẽ, hình bóng phản chiếu của cây cầu cổ kính và những căn nhà đẹp như tranh gợn lăn tăn trên mặt nước.

Oranjee chỉ cách trạm xe điện vài bước chân. Nhà hàng này nằm ở một bên phố; dãy bàn ngoài trời đặt ở bên kia, trên một khu thủy tạ nền bê tông sát mé con kênh. Đôi mắt chị phục vụ sáng lên khi nhận ra Augustus và tôi tiến lại gần. “Anh chị Waters phải không ạ?”

“Dạ vâng?” tôi đáp.

“Bàn của anh chị ở bên kia,” chị ấy nói, đưa tay về phía một chiếc bàn nhỏ đặt sát bờ kênh. “Rượu sâm panh là món quà của nhà hàng.”

Gus và tôi liếc qua nhau mỉm cười. Sau khi băng qua đường, cậu ấy kéo ghế mời tôi ngồi và còn giúp tôi dịch vào trở lại. Trên chiếc bàn trải khăn màu trắng của chúng tôi đã bày sẵn hai ly rượu sâm panh. Tiết trời se lạnh được cân bằng hoàn hảo với hơi ấm từ ánh mặt trời; một bên chúng tôi là một vài người đạp xe qua lại – một vài người đàn ông lẫn phụ nữ trên mình bộ quần áo lịch thiệp đang trên đường trở về nhà từ công sở, một vài cô nàng tóc vàng có vẻ quyến rũ ngồi vắt chân qua một bên trên yên đằng sau xe đạp bạn mình, một vài đứa trẻ chẳng đội mũ bảo hiểm tíu tít trên yên xe bằng nhựa đằng sau bố mẹ chúng. Phía bên kia, mặt nước phủ đầy hàng triệu những hạt hoa giấy. Những con thuyền nhỏ neo cạnh bờ kênh lát gạch, xâm xấp nước mưa bên trong, một vài cái như thể sắp chìm. Xa hơn một chút xuôi xuống con kênh, tôi có thể thấy những ngôi nhà thuyền bệp bềnh trên phao nổi, và ở ngay giữa dòng kênh là một chiếc thuyền không mui, đáy bằng, trên boong đặt vài chiếc ghế vải với một chiếc đài xách taylững lờ trôi về phía chúng tôi. Augustus cầm lấy ly sâm panh của cậu ấy và giơ nó lên. Tôi nhấc ly của mình lên, dẫu cho tôi chưa bao giờ uống thứ gì ngoại trừ một hai ngụm bia của bố.

“Okay,” cậu ấy nói.

“Okay,” tôi đáp lại, rồi chúng tôi cụng ly. Tôi nhấp một ngụm. Những sủi bọt li ti tan vào trong miệng tôi rồi du hành lên tận bộ não. Ngọt. Mát. Ngon. “Ngon thật đấy,” tôi nói. “Tớ chưa uống sâm panh bao giờ.”

Một anh phục vụ trẻ măng cơ bắp với mái tóc vàng lượn sóng xuất hiện. Anh ấy có lẽ còn cao hơn cả Augustus. “Anh chị có biết,” anh ấy hỏi với chất giọng truyền cảm, “ngài Dom Pérignon đã nói gì sau khi sáng chế ra rượu sâm panh không?”

“Không?” Tôi đáp.

“Ông ấy đã gọi các tu sĩ đồng môn lại, ‘Mau tới đây: Ta đang thưởng thức những vì sao.’ Chào mừng tới Amsterdam. Anh chị muốn xem qua thực đơn hay sẽ thưởng thức những món do chính đầu bếp lựa chọn?”

Tôi nhìn Augustus, cậu ấy cũng đang nhìn tôi. “Món do chính đầu bếp lựa chọn nghe hấp dẫn thật đấy, nhưng Hazel lại ăn chay,” tôi từng nói với Augustus chuyện này đúng một lần trước đây, vào hôm đầu tiên tôi và cậu ấy gặp mặt.

“Không thành vấn đề,” anh phục vụ nói.

“Tuyệt. Chúng em muốn lấy thêm một chút cái này được chứ?” Gus hỏi, ý cậu là rượu sâm panh.

“Tất nhiên rồi,” anh phục vụ của chúng tôi đáp. “Chúng tôi đã đóng chai tất cả những vì sao trên bầu trời đêm nay, thưa hai bạn trẻ của tôi. A, những bông hoa giấy!” anh ấy thốt lên, nhẹ nhàng phủi một hạt hoa khỏi bờ vai trần của tôi. “Những năm trước không nhiều đến thế này. Giờ nó rụng khắp mọi nơi. Quả là khó chịu.”