Lỗi lầm ở những vì sao - Chương 05 - Phần 2

Thưa cô Lancaster,

Tôi e rằng niềm tin của cô đã bị đặt nhầm chỗ – nhưng phải nói, niềm tin vẫn thường như vậy. Tôi không thể trả lời những câu hỏi của cô, ít nhất không phải bằng văn bản, bởi lẽ viết ra những câu trả lời như vậy sẽ tạo nên phần tiếp theo cho Nỗi đau tột cùng, mà như thế cô hoàn toàn có thể công bố hay bằng cách khác chia sẻ trên cái thế giới mạng đã thay thế cho những bộ não của thế hệ các cô. Có thể qua điện thoại, nhưng cô vẫn có thể ghi âm lại cuộc trò chuyện. Nói như thế không có nghĩa rằng tôi không tin tưởng cô, tất nhiên, nhưng tôi không thể tin tưởng cô được. Chao ôi, Hazel yêu quý, tôi không thể trả lời những câu hỏi như vậy trừ khi chúng ta gặp mặt trực tiếp, mà cô ở đó, trong khi tôi lại ở đây.

Xin lưu ý, phải thú thực rằng việc vô tình nhận được lá thư của cô qua cô Vliegenthart đã khiến tôi vô cùng vui sướng: Thật diệu kỳ làm sao khi biết rằng tôi đã làm được một vài điều hữu ích đối với cô – cho dù cuốn sách đó có vẻ xa cách đến nỗi tôi hầu như đã tưởng nó được viết nên bởi một người đàn ông khác. (Tác giả cuốn sách đó rất gầy, ẻo lả và tương đối lạc quan!)

Tuy nhiên, nếu cô có gặp chính mình ở Amsterdam, xin vui lòng ghé thăm lúc nào rỗi rãi. Tôi thường xuyên ở nhà. Và có thể tôi sẽ đồng ý cho cô ngó qua cả hóa đơn mua hàng tạp hóa của tôi.

Trân trọng,

Peter Van Houten

chuyển qua Lidewij Vliegenthart

“GÌ CƠ?!” Tôi hét ầm lên. “CÁI ĐỜI GÌ THẾ NÀY?”

Mẹ chạy vào. “Có chuyện gì à con?”

Không có gì,” tôi trấn an bà.

Vẫn lo lắng, Mẹ quỳ xuống kiểm tra Phillip để chắc rằng cậu ta vẫn ngưng tụ đủ ôxy. Tôi tưởng tượng đến cảnh ngồi trong một quán cà phê chan hòa ánh nắng với Peter Van Houten trong khi ông hơi nghiêng qua chiếc bàn chống trên hai khuỷu tay, bằng một giọng thầm thì nhất để không ai khác có thể biết được chuyện gì đã xảy ra với những nhân vật khác mà tôi vẫn nghĩ về nó hàng năm trời. Ông ấy nói rằng ông không thể nói chuyện với tôi trừ khi gặp trực tiếp, và còn mời tôi ghé thăm Amsterdam. Tôi giải thích cho mẹ nghe, và quả quyết, “Con phải đi.”

“Hazel này, mẹ yêu con, con cũng biết là mẹ sẽ làm bất cứ điều gì vì con, nhưng chúng ta không – chúng ta không có đủ tiền để thanh toán chi phí đi lại quốc tế, và còn những thiết bị kia nữa – con yêu à, chúng ta chỉ không...”

“Dạ,” tôi nói, cắt ngang lời mẹ. Tôi nhận ra mình thật ngớ ngẩn khi không tính đến chuyện đấy. “Mẹ đừng lo.” Nhưng trông bà vẫn lo lắng.

“Điều này thực sự quan trọng với con, phải không?” bà ngồi xuống hỏi, đặt một tay lên đùi tôi.

“Thật tuyệt vời ấy ạ,” tôi đáp, “là người duy nhất biết được chuyện gì đã xảy ra ngoại trừ chính tác giả.”

“Chắc chắn rất tuyệt vời,” bà nói. “Mẹ sẽ nói chuyện với bố con nhé.”

“Không, đừng,” tôi ngăn lại. “Chỉ là, con nói thật đấy, mẹ đừng phí tiền vào chuyện này. Con sẽ tìm cách khác.”

Tôi chợt nhận ra bố mẹ không còn tiền cũng chỉ vì tôi. Tôi đã tiêu tốn hết các khoản tiết kiệm của gia đình vào việc chi trả cho thuốc Phalanxifor dù đã có trợ cấp một phần, và Mẹ thì không thể tiếp tục đi làm vì bà đã dành trọn thời gian cho công việc Quanh Quẩn Quanh Tôi. Tôi không muốn đẩy họ lún sâu vào nợ nần thêm nữa.

Tôi bảo Mẹ tôi muốn gọi điện cho Augustus để bà rời khỏi phòng, vì tôi không thể chịu đựng được vẻ buồn bã kiểu tôi-không-thể-biến-ước-mơ-của-con-gái-thành-sự-thật của bà hơn được nữa.

Đúng kiểu Augustus Waters, tôi đọc lá thư thay vì chào cậu ấy.

“Wow,” cậu ấy nói.

“Biết mà, đúng không?” tôi nói. “Nhưng tớ đến Amsterdam thế nào đây?”

“Cậu có Điều ước chứ?” cậu ấy hỏi, nhắc đến cái tổ chức tên là Quỹ Genie[32], chuyên ban tặng cho các bệnh nhi một điều ước.

[32] Genie: thần đèn, vị thần ban tặng điều ước.

“Không,” tôi đáp. “Tớ đã dùng Điều ước trước khi Phép màu xảy đến rồi.”

“Cậu đã làm gì vậy?”

Tôi thở dài rõ to. “Lúc đấy tớ mới mười ba,” tôi nói.

“Không phải Disney chứ,” cậu ta nói.

Tôi im lặng.

“Cậu đã không đến Disney World.”

Tôi vẫn im lặng.

“Hazel GRACE!” Cậu ấy hét lên. “Cậu đã không dùng Điều ước duy nhất của mình để đến Disney World cùng bố mẹ chứ.”

“Cả Epcot Center[33] nữa,” tôi lí nhí.

[33] Epcot, công viên giải trí thứ hai trong bốn công viên giải trí được xây dựng trong Walt Disney World ở Bay Lake, Florida.

“Ôi, Chúa ơi,” Augustus nói. “Không thể tin tớ lại phải lòng một cô gái với những điều ước nhạt nhẽo như vậy.”

“Tớ mới mười ba,” tôi nhắc lại lần nữa, dù tất nhiên lúc đó tôi chỉ nghĩ về phải lòng phải lòng phải lòng phải lòng phải lòng. Tôi rất sung sướng như lại đổi chủ đề ngay lập tức. “Cậu không phải đến trường sao?”

“Tớ bùng để đến thăm Isaac, nhưng mà nó đang ngủ nên tớ ra sân làm bài hình học.”

“Cậu ấy sao rồi?” Tôi hỏi.

“Tớ không biết là nó chưa sẵn sàng đối mặt với thực tế phũ phàng của việc bị mù hay chỉ chăm chăm quan tâm tới việc bị Monica đá nữa, mà nó cũng chẳng nói chuyện gì khác đâu.”

“Ừ,” tôi đáp. “Cậu ấy còn phải nằm viện lâu không?”

“Vài ngày nữa. Rồi nó sẽ tới trung tâm phục hồi chức năng gì đó một thời gian, nhưng vẫn được về nhà ngủ, chắc thế.”

“Tệ quá,” tôi nói.

“Tớ thấy mẹ nó rồi. Tớ đi đã nhé.”

“Okay,” tôi nói.

“Okay,” cậu ấy đáp lại. Tôi có thể nghe thấy nụ cười nửa khóe miệng đó.

Hôm thứ Bảy, tôi cùng bố mẹ đi xuống chợ nông sản ở Broad Ripple[34]. Một ngày nắng hiếm hoi vào tháng Tư ở Indiana, mọi người ở chợ đều mặc áo cộc tay cho dù nhiệt độ cũng không ủng hộ cho lắm. Chúng tôi, những người sinh ra và lớn lên ở Indiana, luôn lạc quan một cách quá đáng về mùa hè. Mẹ và tôi ngồi cạnh nhau trên một chiếc ghế băng đối diện với một cửa hàng xà phòng làm từ sữa dê, một bác trong bộ quần yếm công nhân cứ liên tục giải thích cho bất cứ ai ngang qua tầm mắt rằng phải, đó là dê của bác ấy và không, xà phòng sữa dê thì không có mùi dê chút nào.

[34] Làng Broad Ripple, một trong sáu khu bảo tồn văn hóa của Indianapolis (thành phố thủ phủ của tiểu bang Indiana), nằm cách trung tâm thành phố Indianapolis 11km về phía Bắc.

Điện thoại tôi kêu. “Ai đấy con?” Mẹ cất tiếng hỏi trước khi tôi còn chưa kịp xem.

“Con không biết,” tôi đáp. Đó là Gus.

“Cậu có nhà không?” cậu ta hỏi.

“Ừm, không,” tôi đáp.

“Hỏi thế thôi. Tớ biết thừa đáp án rồi, tớ đang ở nhà cậu.”

“Ồ. Ừm. Ừ, tớ đang về đây?”

“Tuyệt. Tớ sẽ đợi.”

Augustus Waters đang ngồi ở bậc cửa khi chúng tôi rẽ vào nhà. Cậu ấy cầm trên tay một bó Tulip màu cam sáng mới chớm nở, mặc bộ áo nịt len của đội bóng rổ Indiana Pacers[35] bên trong áo khoác lông cừu, một cách phối đồ chẳng giống ai, dù trông vẫn hợp với cậu. Cậu nhổm mình đứng dậy khỏi thềm, chìa bó hoa cho tôi và hỏi, “Có muốn đi picnic không?” Tôi gật đầu, đón lấy bó hoa.

Bố bước tới ngay sau tôi và bắt tay Gus.

“Áo của Rik Smits[36] đúng không?” Bố tôi hỏi.

[35] Indiana Pacers, đội bóng rổ chuyên nghiệp có trụ sở tại Indianapolis, Indiana. Thành viên của Hiệp hội Bóng rổ Quốc gia (National Basketball Association, gọi tắt là NBA.)

[36] Rik Smits (1966– ), vận động viên bóng rổ chuyên nghiệp người Hà Lan, thành viên cũ của đội Indiana Pacers.

“Dạ đúng ạ.”

“Chúa ơi, bác thích anh này lắm,” Bố nói, và ngay lập tức họ mê mải với câu chuyện bóng rổ mà tôi chẳng thể nào (và cũng chẳng muốn) tham gia, thế nên tôi mang bó hoa vào trong nhà.

“Con có muốn mẹ giúp cắm chúng vào bình không?” Mẹ hỏi khi tôi bước vào, nụ cười rạng rỡ trên khuôn mặt bà.

“Không ạ, con tự làm được,” tôi nói. Nếu cắm chúng trong cái bình đặt ngoài phòng khách thì đó sẽ là hoa của tất cả mọi người. Tôi muốn chúng là hoa của riêng tôi.

Tôi bước vào phòng nhưng chẳng thay đồ gì cả. Tôi chải tóc rồi đánh răng rồi thoa một lớp son bóng rồi xịt một chút ít nước hoa nhất có thể. Tôi cứ nhìn mãi những bông hoa. Chúng màu cam một cách khiêu khích, gần như hơi quá màu cam để có thể coi là đẹp. Tôi chẳng có bình cắm hay gì cả nên đành lấy bàn chải đánh răng ra khỏi lọ, đổ nước ngập nửa rồi cứ để những bông hoa ở đấy trong nhà tắm.

Khi quay lại phòng, tôi thấy mọi người đang nói chuyện, thế nên tôi ngồi lại cạnh mép giường một lúc và lắng nghe qua khe cửa:

Bố: “Vậy là cháu gặp Hazel ở Nhóm Tương Trợ.”

Augustus: “Dạ, thưa bác. Nhà mình đáng yêu quá. Cháu thích cách hai bác trang trí chúng.”

Mẹ: “Cảm ơn cháu, Augustus.”

Bố: “Cháu cũng là người sống sót, đúng không?”

Augustus: “Vâng. Cháu vẫn chưa dứt được thằng bám đuôi này để tận hưởng niềm vui trọn vẹn, dù rằng nó cũng là một chiến lược giảm cân tuyệt vời. Chân cháu nặng quá rồi!”

Bố: “Thế sức khỏe cháu giờ thế nào?”

Augustus: “NEC khoảng mười bốn tháng rồi ạ.”

Mẹ: “Thế thì tốt quá. Những biện pháp điều trị bây giờ – thực sự đáng nể đấy.”

Augustus: “Cháu biết. Cháu thật may mắn.”

Bố: “Cháu phải hiểu là Hazel vẫn đang ốm lắm, Augustus à, và nó vẫn sẽ như thế trong suốt quãng đời còn lại. Con bé muốn theo đuổi cháu đấy, nhưng mà phổi nó thì...”

Đúng lúc đấy tôi bước vào khiến bố im bặt.

“Thế các con sẽ đi đâu?” Mẹ tôi hỏi. Augustus đứng dậy nhổm người về phía mẹ tôi, thì thầm câu trả lời rồi đưa một ngón tay lên môi. “Shh,” cậu nói với mẹ tôi. “Đây là một bí mật.”

Mẹ cười. “Con đã cầm điện thoại theo chưa?” bà hỏi tôi. Tôi giơ nó lên làm bằng chứng, nghiêng giá bình ôxy trên bánh trước của nó rồi bắt đầu đi ra. Augustus chen qua, đưa cánh tay cho tôi khoác lấy. Những ngón tay tôi nắm chặt quanh bắp tay cậu ấy.

Thật không may khi cậu ấy cứ đòi cầm lái, bất ngờ đúng là bất ngờ thế này đây. Khi chúng tôi bò tới nơi, tôi mới nói, “Cậu làm mẹ tớ cứ mê tít thò lò ấy.”

“Ừ, và bố cậu cũng hâm mộ Smits nữa. Cậu có nghĩ hai bác thích tớ không?”

“Chắc chắn luôn. Nhưng quan tâm làm gì chứ? Họ cũng chỉ là hai bậc phụ huynh vậy thôi.”

“Hai bậc phụ huynh của cậu đấy,” cậu ấy đáp, liếc qua tôi. “Còn nữa, tớ thích được thích. Nghe điên quá nhỉ?”

“Ừ, cậu không cần phải vội vàng ra giữ cửa hay cho tớ chết ngập trong những lời khen mới khiến tớ thích cậu đâu,” cậu ấy lại đạp phanh, tôi bay về phía trước đủ mạnh để khiến nhịp thở của mình cảm giác gấp gáp kỳ quặc. Tôi nghĩ về vụ chụp PET. Đừng lo lắng. Lo lắng cũng chẳng giúp ích gì đâu. Dù sao tôi vẫn cứ lo.

Lốp xe khét lẹt và gầm rú trước khi chúng tôi rẽ trái trước một biển dừng xe vào một chỗ gọi là Cảnh quan Hùng vĩ[37] chắc chắn bị viết nhầm (có một góc nhìn ra sân gôn, chắc vậy, nhưng chẳng có gì gọi là hùng vĩ hết). Nơi duy nhất tôi có thể nghĩ đến đi khi theo con đường này là khu nghĩa trang. Augustus với tay lên bảng điều khiển, mở một hộp thuốc còn nguyên ra và lấy một điếu.

[37] Nguyên văn: Grandview.

“Cậu có bao giờ vứt chúng đi không?” tôi hỏi.

“Một trong những lợi ích của việc không hút là những điếu thuốc ấy sẽ tồn tại mãi mãi,” cậu ấy trả lời. “Tớ giữ hộp này được một năm rồi. Một số điếu đã bị gãy gần đầu lọc, nhưng tớ nghĩ chúng sẽ dễ dàng theo tớ đến tận sinh nhật thứ mười tám,” cậu ấy kẹp điếu thuốc vào giữa hai ngón tay, rồi đưa lên miệng. “Đấy, vậy đó,” cậu ấy nói. “Được rồi. Giờ kể tên một vài thứ cậu chưa bao giờ thấy ở Indianapolis xem nào?”

“Ừm. Những người lớn gầy guộc,” tôi nói.

Cậu ấy cười. “Tốt. Tiếp đi.”

“Mmm, biển. Các nhà hàng gia đình. Địa hình địa vật.”

“Những ví dụ xuất sắc về cái chúng ta còn thiếu đấy. Cả văn hóa nữa.”

“Ừ, chúng ta chưa có một nền văn hóa lâu đời,” tôi nói, cuối cùng cũng nhận ra cậu ấy đang đưa tôi đi đâu. “Mình đang tới bảo tàng à?”

“Nói thế cũng không sai.”

“Ồ, hay mình tới công viên gì đó à?”

Nhìn Gus tiu nghỉu. “Ừ, chúng ta đang tới công viên gì đó,” cậu ấy nói. “Cậu cũng đoán được rồi, phải không?”

“Ừm, đoán gì cơ?”

“Không có gì.”

Có một công viên đằng sau bảo tàng nơi rất nhiều nghệ sĩ đã tạo ra vô khối tác phẩm điêu khắc to bự. Tôi có nghe nói nhưng chưa bao giờ đến đây. Chúng tôi lái qua viện bảo tàng và đậu ngay cạnh một sân bóng rổ với những đường cung thép màu xanh và đỏ khổng lồ tượng trưng cho đường bóng đang nhảy.

Chúng tôi đi qua một cái gò theo cách gọi của dân Indianapolis xuống một bãi đất trống có những đứa trẻ đang leo trèo trên những tác phẩm điêu khắc hình bộ xương khổng lồ. Mỗi chiếc xương phải cao đến ngang hông, cái xương đùi còn dài hơn cả tôi nữa. Trông như thể đó là bức vẽ của đứa con nít về một bộ xương thù lù nhô khỏi mặt đất.

Vai tôi đau nhói. Tôi sợ rằng ung thư đã lây lan từ phổi đi rồi. Tôi tưởng tượng đến những khối u di căn vào trong những chiếc xương, như con lươn trườn qua lại với ý định ngấm ngầm đục khoét vào sâu tận tủy. “Funky Bones,[38] Augustus nói. “Tạo nên bởi Joep Van Lieshout.”

[38] Funky Bones (Bộ xương Tân thời) là một tác phẩm nghệ thuật công cộng tạo nên bởi Atelier Van Lieshout, một nhóm nghệ sĩ người Hà Lan đứng đầu là Joep van Lieshout, nằm tại khu "100 Acres: The Virginia B. Fairbanks Art and Nature Park" đằng sau Bảo tàng Nghệ thuật Indianapolis (Indianapolis Museum of Art) tại thành phố Indianapolis, tiểu bang Indiana, Hoa Kỳ.

“Nghe giống tên Hà Lan nhỉ?”

“Đúng thế,” Gus nói. “Cả Rik Smits nữa. Hoa tulip cũng vậy.” Gus dừng lại giữa bãi đất trống với một đống xương ngay trước mặt, lần lượt tuột quai ba lô khỏi vai bên này rồi đến vai kia. Cậu ấy mở ba lô ra, bày ra một khăn trải màu cam, nửa lít nước cam vắt, một vài chiếc sandwich đã cắt viền bọc trong giấy bóng.

“Sao toàn màu cam thế?” tôi hỏi, vẫn không muốn để mình tưởng tượng tất cả những chuyện này đều liên quan đến Amsterdam.

“Màu biểu tượng của đất nước Hà Lan[39] đấy, dĩ nhiên rồi. Cậu có nhớ William xứ Orange[40] và rất nhiều thứ khác nữa không?”

[39] National Colour, màu biểu tượng quốc gia, thường được xem là một trong những biểu tượng quốc gia (cũng như quốc huy, quốc hoa…) tránh nhầm với màu quốc kỳ (dù có thể trùng). Màu biểu tượng của Hà Lan là màu cam, trong khi quốc kỳ Hà Lan có ba màu đỏ, trắng, và xanh da trời.

[40] William III (1650 – 1702) là Hoàng thân xứ Orange, Thống đốc các tỉnh lớn của Cộng hòa Hà Lan từ năm 1672, được tôn làm vua Anh, Scotland, và Ireland kể từ năm 1689.

“Ông ấy không có trong bài thi GED đâu,” tôi cười, cố kiềm chế sự phấn khích của mình.

“Sandwich không?” cậu ấy hỏi.

“Cũng được,” tôi nói.

“Phô mai Hà Lan. Và cà chua. Nhưng cà chua này nhập từ Mexico. Xin lỗi nhé.”

“Cậu luôn là một nỗi thất vọng, Augustus. Ít nhất cậu cũng phải lấy mấy quả cà chua màu cam luôn chứ.”

Cậu ấy cười, và chúng tôi ăn bánh trong im lặng, nhìn những đứa trẻ chơi đùa trên các tác phẩm điêu khắc. Tôi không tiện hỏi cậu ấy về chuyện đó lắm, nên chỉ ngồi đấy giữa những thứ đầy chất Hà Lan, vừa lúng túng vừa hi vọng.

Cách một quãng, ngập tràn trong ánh nắng trong veo hiếm hoi và quý giá ở quê hương chúng tôi, một đám trẻ con đã biến bộ xương thành một sân chơi, nhảy qua nhảy lại giữa những chiếc xương giả.

“Có hai điều tớ thích về tác phẩm này,” Augustus nói. Cậu ấy lại đang kẹp một điếu thuốc chưa cháy trên tay, búng búng nó như thể đang gạt tàn tro rồi ngậm lại trong miệng. “Thứ nhất, các khối xương ở khoảng cách vừa vặn đến nỗi nếu cậu là một đứa trẻ, cậu sẽ không thể cưỡng lại ham muốn được nhảy nhót trong đó. Như kiểu cậu cần phải nhảy một phát từ lồng ngực đến hộp sọ. Điều này đồng nghĩa với việc, thứ hai là, tác phẩm đó căn bản đã bắt buộc lũ trẻ chơi đùa với những chiếc xương. Những làn sóng biểu tượng bất tận, Hazel Grace.”

“Cậu thích các biểu tượng nhỉ,” tôi nói, hi vọng kéo câu chuyện về những biểu tượng về đất nước Hà Lan của buổi dã ngoại này.

“Đúng rồi, mà nói về nó. Cậu chắc đang không biết tại sao mình lại phải ăn một chiếc sandwich phô mai dở tệ rồi uống nước cam vắt rồi tại sao tớ lại mặc chiếc áo thể thao của một vận động viên người Hà Lan trong môn thể thao mà tớ đã chán ghét đúng không?”

“Tớ có nghĩ thoáng qua chuyện đấy,” tôi đáp.

“Hazel Grace, cũng giống như nhiều đứa trẻ khác trước cậu – tớ nói chuyện này rất chân thành nhé – cậu đã hấp tấp sử dụng Điều ước của mình mà chẳng mảy may quan tâm đến hậu quả. Thần Chết lởn vởn trước mặt cậu và nỗi sợ trước cái chết mà Điều ước vẫn nằm trong túi, đã khiến cậu vội vàng chọn Điều ước đầu tiên cậu có thể nghĩ đến, và cậu, cũng như nhiều người khác, đã chọn thú vui nhạt nhẽo và giả tạo của công viên giải trí.”

“Tớ thực sự đã có một khoảng thời gian tuyệt vời trong chuyến đi đó. Tớ đã gặp Goofy mà Minn[41].”

“Tớ vẫn còn đang độc thoại[42] mà! Tớ đã viết những thứ này ra xong học thuộc và nếu cậu cứ ngắt lời như thế tớ sẽ quên sạch,” Augustus ngắt lời tôi. “Làm ơn cứ ăn bánh sandwich và nghe thôi nhé.” (Chiếc sandwich khô không khốc, nhưng tôi vẫn cắn lấy một miếng.) “Được rồi, tớ nói đến đâu rồi nhỉ?”

[41] Chú chó Goofy, cô chuột Minnie cùng chú chuột Micky là ba nhân vật hoạt hình nổi tiếng của hãng Walt Disney.

[42] Nguyên văn: soliloquy. Augustus đã dùng sai từ này khi ý cậu là monologue (dụng ý của tác giả).

“Thú vui giả tạo.”

Cậu ấy nhét điếu thuốc vào trong bao. “Phải, thú vui nhạt nhẽo và giả tạo của công viên giải trí. Nhưng để tớ trịnh trọng trình bày rằng những người hùng thực sự của Nhà máy Điều ước là những chàng trai cô gái còn rất trẻ sẵn sàng chờ đợi như Vladimir và Estragon đợi Godot[43]và như những thiếu nữ Cơ đốc giáo đức hạnh chờ lúc kết hôn. Những anh hùng trẻ tuổi này kiên nhẫn chờ đợi mà không một lời ca thán cho đến khi Điều ước của họ trở thành sự thật. Có thể những Điều ước ấy sẽ không bao giờ đến, nhưng ít nhất họ có thể an nghỉ dưới nấm mồ vì biết rằng mình đã đóng góp một phần bé nhỏ để bảo toàn sự vẹn nguyên của Điều ước như một lý tưởng.

[43] Waiting for Godot, vở kịch nổi tiếng của nhà văn, nhà viết kịch người Ireland đã đạt giải Nobel văn chương Samuel Beckett (1906–1989). Tác phẩm viết về hai nhân vật Estragon và Vladimir thất nghiệp tìm mọi cách giết thì giờ trong khi chờ đợi một người được gọi là Godot, nhưng cuối cùng đợi không được; Godot có thể tồn tại, cũng có thể không tồn tại, kịch kết thúc, Godot cũng không đến. Toàn bộ tác phẩm ngoài việc đợi chờ, không có một điều gì khác phát sinh, tại sao lại đợi Godot, Godot là ai, tại sao Godot không đến, tất cả những điều này đều không quan trọng. Tác phẩm dùng cốt truyện không kịch như vậy là để nói lên một điều, nhân loại ngoài việc đợi chờ vô vọng hoặc ngồi đó chờ chết thì không còn con đường nào khác; con người đã không thể biết được về vận mệnh của mình, không thể suy tư về tất cả những thứ quanh mình, cho nên, ngoài việc đợi chờ đầy tiêu cực, ngoài những việc vô nghĩa như vậy, còn biết làm gì đây? Tác phẩm không có nội dung cụ thể, đợi chờ mù quáng và vô vọng chính là nội dung, ý nghĩa của nó là sự vô nghĩa của đợi chờ. (Giáo trình Lí luận văn học, Lưu An Hải, Tôn Văn Hiến chủ biên, NXB ĐHSP Hoa Trung, Vũ Hán 2002, Đỗ Văn Hiểu dịch.)

“Nhưng ngược lại, cũng có thể nó sẽ đến: Có thể cậu sẽ nhận ra rằng Điều ước thật sự của cậu là đến thăm Peter Van Houten đại tài trong Amsterdam xa xôi của ông ta, và thực sự mừng vì cậu vẫn giữ Điều ước cho mình.”

Augustus ngừng lại một lúc lâu đủ để tôi nhận ra bài độc thoại đã kết thúc. “Nhưng tớ đã không giữ Điều ước cho mình,” tôi nói.

“Ừ,” cậu ấy đáp. Rồi sau một lúc im lặng như thể cố ý, cậu nói thêm, “nhưng tớ vẫn còn.”

“Thật sao?” Tôi vô cùng ngạc nhiên khi biết Augustus cũng đủ điều kiện để có Điều ước, cậu ấy vẫn đến trường và bệnh tình đã thuyên giảm một năm rồi. Phải dặt dẹo lắm mới được Quỹ Genie ban tặng một Điều ước.

“Tớ đã có nó sau khi đánh đổi với cái chân của mình,” cậu giải thích. Ánh nắng tràn trên khuôn mặt khiến cậu ấy phải nheo mắt nhìn tôi, mũi chun lại rất đáng yêu. “Giờ thì, tớ sẽ không tặng Điều ước của tớ cho cậu hay gì đâu. Nhưng tớ cũng rất muốn gặp Peter Van Houten, và chẳng có nghĩa lý gì nếu gặp ông ấy mà không có cô gái đã giới thiệu cuốn sách cho tớ đi cùng.”

“Chắc chắn là không nghĩa lý gì rồi,” tôi nói.

“Thế nên tớ đã nói chuyện với Quỹ Genie, và họ hoàn toàn đồng ý. Họ nói Amsterdam sẽ rất đẹp vào đầu tháng Năm. Họ đề xuất khởi hành từ ngày mùng ba và trở về hôm mùng bảy.”

“Augustus, thật à?”

Cậu ấy nghiêng người chạm tay vào má tôi và trong một khoảnh khắc tôi đã nghĩ cậu sẽ hôn tôi. Cả người tôi căng ra, tôi nghĩ cậu ấy cũng biết điều đó nên mới rụt tay lại.

“Augustus,” tôi nói. “Thực sự đấy. Cậu không cần phải làm vậy đâu.”

“Chắc chắn đó là điều tớ sẽ làm,” cậu ấy đáp. “Tớ đã tìm được Điều ước của mình.”

“Chúa ơi, cậu là tuyệt nhất,” tôi bảo cậu ấy.

“Tớ cá cậu cũng sẽ nói thế với bất kỳ thằng nào tài trợ cho chuyến đi của cậu thôi,” cậu ấy trả lời.