Bí mật của Nicholas Flamel bất tử (Phần 3) - Chương 35 - 36

Chương ba mươi lăm

Perenelle lội bì bõm trong đường hầm bùn lầy, hướng trở lại phía cái thang. Một tay cầm ngọn giáo; tay kia kẹp chặt mũi, nhưng bà vẫn có thể cảm nhận được mùi tanh tửi đến buồn nôn phủ lên lưỡi bà và nếm được nó trong cổ họng mỗi lần bà nuốt nước bọt.

Juan Manuel de Ayala lơ lửng trôi bên cạnh bà, mặt hướng xuống đường hầm. Không có dấu hiệu gì của Nữ thần Quạ cả.

“Ông sợ gì cơ chứ?” Perenelle gặng gỏi. “Ông là một bóng ma; không gì có thể hại được ông.” Rồi bà mỉm cười, giọng bà thật dịu dàng. “Tôi xin lỗi. Tôi không có ý cáu kỉnh với ông. Tôi biết ông phải nỗ lực đến thế nào mới được đến miệng hang mà thông báo cho tôi biết.”

“Còn dễ hơn việc bà gỡ bỏ câu Thần chú Trói buộc mà,” hồn ma nói. Nhiều nét tinh túy của ông ta đều bị tiêu tan đi, chỉ để lại thoáng chút gương mặt và đường viền quanh đầu lơ lửng trong không trung. Đôi mắt huyền sáng ngời của ông ta bừng sáng trong bóng tối u ám. “Nereus là cơn ác mộng của mọi thủy thủ,” ông ta thừa nhận. “Và tôi không sợ ông ta làm gì tôi; tôi sợ là sợ cho bà, Nữ Phù thủy ạ.”

“Chuyện xấu nhất có thể xảy ra là gì?” Perenelle hỏi nhẹ nhàng. “Cùng lắm ông ta chỉ có thể giết chết tôi thôi. Hay là cố để làm được như vậy.”

Đôi mắt của hồn ma hóa thành chất lỏng. “Ồ, ông ta sẽ không giết chết bà đâu. Không giết chết tức thì. Ông ta sẽ lôi kéo bà xuống một lãnh địa nào đó dưới biển sâu và giữ cho bà sống thêm nhiều thế kỷ nữa. Và khi xong việc, ông ta sẽ biến bà thành một sinh vật biển nào đó - như một con bò biển hay một con cá nược chẳng hạn.”

“Đó chỉ là chuyện kể thôi mà...,” Perenelle mở miệng nói, rồi chợt nín bặt, khi thấy câu nói của bà thật buồn cười làm sao: bà đang chạy trốn xuống một đường hầm nằm sâu trong lòng đất, đi cùng với bà là một bóng ma, dõi theo một nữ thần của người Celt cổ và bị Ông Già Biển bám đuôi. Đến được cuối đường hầm, bà nghển cổ nhìn lên. Xa xa phía trên kia, bà có thể thấy một vòng trời xanh ngắt.

Bà xé một dải vải hẹp ra khỏi đường gấu váy đã tơi tả của mình và buộc nó quanh thắt lưng. Nhét ngọn giáo vào đằng sau dải thắt lưng tự chế, bà giơ tay lên chụp lấy thanh ngang bằng ki loại nhớt nhợt của cái thang đã gỉ sét lắm rồi.

“Perenelle!” de Ayala gào lên trong lúc ông ta bay dập dờn lên phía trên.

“Bỏ đi sớm thế, Nữ Phù thủy?” Giọng nói kia vang vọng xuống tận dãy hành lang, một âm thanh lỏng quẹt và sôi sùng sục, nghe ùng ục như tiếng súc miệng.

Perenelle xoay người quay người quăng ra mọt chút ánh sáng xuống đường hầm. Như một trái banh bằng cao-su, đốm sáng nẩy ngược lên trần, đụng vào một bức tường, rồi rơi xuống đất, và lại nẩy lên lần nữa.

Nereus đứng choán hết cả một vùng tối.

Chỉ một tích tắc trước khi ông ta chìa bàn tay có màng ra nghiến nát đốm sáng ấy, Perenelle đã kịp thoáng thấy được một người đàn ông chắc nịch, trông bình thường đến ngạc nhiên, một cái đầu với mái tóc quăn dày chảy xuống vai, hòa lẫn với chòm râu ngắn xoắn tít thành hai lọn quấn chặt với nhau. Ông ta đang mặc một tấm áo choàng không tay kết bằng những chiếc lá gối lên nhau cùng những sợi tảo biển màu xanh lá, và trong bàn tay trái ông cầm một cái đinh ba bằng đá nhọn hoắt vô cùng hiểm ác. Khi ánh sáng nhòa đi và đường hầm lại ngập trong bóng tối. Perenelle nhận ra rằng Ông Già Biển không có chân. Bên dưới thắt lưng, tám cái chân bạch tuột quằn quại và ngoằn ngoèo bò qua tận bên kia dãy hành lang.

Mùi tanh tưởi thối tha của cá ươn bốc mạnh dữ dội, có một thoáng chuyển động và rồi một cái chân đầy giác hút quấn quanh mắt cá chân của Perenelle và thít chặt. Một cái thứ hai, lính dính lầy nhầy, bám vào ống chân bà.

“Ở lại một lát đã chứ,” Nereus nói nghe ùng ục. Một cái chân khác bắn quanh đầu gối Perenelle, những cái giác hút cắn sâu vào da chân. Tiếng cười của ông ta nghe như một miếng bọt biển sũng nước ướt rượt đang bị vắt khô kiệt. “Tôi xin mà.”

Chương ba mươi sáu

Josh ngồi xuống, bàng hoàng choáng váng, ngay lúc bức tường lửa bắt đầu lịm dần thành một đám mây hơi nước màu trăng trắng dày đặc bốc lên cuồn cuộn. Cơn mưa khuấy tung đám đất lên thành một lớp bùn dẻo quẹo nhớp nháp trong khi sấm sét vẫn gầm thét ầm ầm liên tục trên đầu. Chớp lóe sáng rực, phết lên mọi thứ một màu trắng như tro và màu đen như gỗ mun.

“Đã đến lúc phải đi rồi,” Palamedes nói dứt khoát, nước mưa chảy tràn trên chiếc nón bảo hiểm. Anh ta quay người nhìn so và Josh, Nicholas và Shakespeare. Tất cả bọn họ đều ướt đầm đìa cả người, mái tóc của cặp sinh đôi dát sát vào khung xương sọ. “Có lúc phải chiến đấu và có lúc phải bỏ chạy. Một chiến binh giỏi luôn biết khi nào là lúc phải chọn cái này hay cái kia. Chúng ta có thể đứng đây chiến đấu với Dee và Cernunnos và rồi không ai sống sót được cả. Ngoại trừ hai cô cậu, có lẽ thế,” anh ta nói với cặp song sinh. Ánh lửa chiếu màu hổ phách lên nước da nâu sậm của anh ta và trông rất hợp với bộ giáp. “Mặc dù tôi không rõ chất lượng cuộc sống của hai người sẽ như thế nào khi phục vụ cho các Elder Đen tối. Nhưng tôi cũng không biết cô cậu sẽ sống được bao lâu khi họ đã xong việc với cả hai.”

Đám khói cuộn gay gắt chung quanh họ, dày đặc, giả tạo và độc hại, xua họ trở lại phía căn nhà chòi bằng kim loại.

“Will, mang nhóm Gabriel Hounds...”

“Tôi không bỏ chạy đâu,” Đại Thi hào nói ngay tức thì.

“Tôi không yêu cầu ông bỏ chạy,” Palamedes cáu kỉnh. “Tôi muốn ông gầy lại nhóm và đừng hy sinh lực lượng của chúng ta một cách không cần thiết.”

“Lực lượng của chúng ta ư?” Nicholas hỏi. “Đừng nói với tôi là Hiệp sĩ Saracen cuối cùng cũng đã chọn về một phe với ai đó nhé?”

“Tạm thời, tôi phải bảo đảm an toàn cho ông,” Palamedes nói. Anh ta quay lại với Đại Thi hào. “Will, đưa nhóm Gabriel Hounds qua đường hầm bên dưới căn chòi. Gabriel,” anh ta gọi. Một người chó to lớn nhất vội vã lao đến. Những vết xăm màu xanh lơ trên hai má anh ta phủ đầy bùn và máu dính lốm đốm, còn mái tóc màu nâu xám chĩa lung tung ra khắp mọi hướng. “Bảo vệ chủ anh. Hãy đưa ông ta ra khỏi London và mang ông ấy đến Great Henge. Chờ tôi ở đó.”

Shakespeare há mồm định cãi nhưng chợt ngậm ngay lại khi bắt gặp ánh mắt của Hiệp sĩ Saracen nhìn trừng trừng ông ta.

Gabriel gật đầu. “Tuân lệnh. Chúng tôi sẽ chờ ở Henge bao lâu?”

“Nếu ngày mai tôi không trở lại trước khi mặt trời lặn, thì hãy đưa Will đến một Vương quốc Bóng tối nào gần đó; Avalon hoặc Lyonesse gì đó, có lẽ thế. Anh cũng sẽ an toàn ở đó.”

Phớt lờ Nhà Giả kim, Gabriel hướng đôi mắt đỏ ngàu nhìn cặp song sinh. “Còn hai mà là một này thì sao?”

Josh và Sophie im lặng chờ Palamedes hít một hơi thật sâu. “Tôi sẽ mang bọn trẻ về lại London.” Anh ta nhìn Nhà Giả kim. “Chúng ta sẽ đưa hai đứa đến nhà vua.”

Hàm răng dữ dằn của người chó lóe sáng khi anh ta cười. “Để họ ở lại với Cernunnos có lẽ còn an toàn hơn.”

Sophie và Josh ngồi ở băng ghế sau của chiếc taxi London và đen và chăm chú quan sát Nhà Giả kim, Shakespeare và Palamedes đang túm tụm với nhau quanh một thùng lửa đốt đầy những khúc gỗ và những miếng vỏ xe đen thui cháy âm ỉ. Nước mưa bốc hơi và kêu xì xì trên ngọn lửa, và khói trắng dày đặc bốc lên từ đám lửa trong đường hào sắp tàn trộn lẫn với đám khói đen đầy dầu mỡ từ trong cái thùng bay ra.

“Em thấy được luồng điện của họ,” Josh lẩm bẩm, giọng cậu nghe thật yếu ớt. Sự xuất hiện luồng điện không mong đời đã khiến cậu mệt lử. Một cơn nhức đầu khó chịu nện thình thịch ngay phía trên đôi mắt cậu, cơ bắp nơi cánh tay và bắp chân nóng như thiêu và dạ dày cậu cảm thấy quặn lộn, gần như thể cậu sắp nôn thốc nôn tháo ra. Hai bàn tay cậu như tê liệt vì nắm quá chặt nơi chuôi của thanh Clarent.

Sophie quay người nhìn ra lớp cửa sổ đầy hơi nước. Josh nói đúng: ba người bất tử được kẻ viền bằng những luồng điện mở nhạt - màu xanh ngọc lục bảo của Flamel, và màu ô-liu sẫm hơn của Palamedes gộp với màu vàng chanh nhàn nhạt của Shakespeare.

“Họ đang làm gì vậy?” Josh hỏi.

Sophie nhấn nút cửa sổ, nhưng xe đã ngắt nguồn và những cánh cửa sổ chạy bằng điện không hoạt động được. Cô bé lấy lòng bàn tay lau mặt kính để nhìn rõ hơn, rồi thở đều trở lại.Các luồng điện cả những bất tử sáng bừng, và cô bé có thể cảm thấy dòng năng lượng đang bò trườn như thể sắp sửa nhỏ giọt ra khỏi những bàn tay của họ giống như một thứ chất lỏng sóng sánh rơi vào thùng. “Nicholas và Palamedes có vẻ như đang truyền năng lượng cho Shakespeare. Đôi môi của Đại Thi hào mấp máy, ông ta đang nói gì đó...” Cánh cửa xe kêu răng rắc khi cô bé mở ra để lắng nghe, mắt nhấp nháy vì những hạt mưa lắc rắc quật vào vùng tối bên trong chiếc xe.

“... khả năng tưởng tượng là chìa khóa, các anh em bất tử ạ,” Shakespeare nói. “Tất cả những gì tôi cần các ông phải làm là tập trung cao độ, để tôi có thể tạo ra một thứ bùa gây phiền phức rất mạnh mẽ.”

“Đó là một sự kết hợp,” Sophie nói với vẻ kinh sợ. Ngay lập tức cô bé ý thức rằng đây là một từ cô chưa bao giờ dùng trong thời gian trước đây, một từ thậm chí cô còn không hiểu nổi.

Josh trườn đến bên cạnh cô chị gái để nhìn kỹ vào màn đêm ướt át. “Một sự kết hợp... kết hợp... là cái gì?”

“Ông ta đang tạo ra thứ gì đó từ hư vô, định hình và làm ra thứ đó đơn giản chỉ bằng tưởng tượng thôi.” Cô bé đẩy cánh cửa mở ra thêm một chút nữa, mặc cho mưa tạt trúng vào mặt mình. Cô bé biết - bởi vì Bà Phù thủy biết - rằng trong tất cả các loại ma thuật, đây là thứ khó khăn gian khổ nhất và hoàn toàn làm kiệt sức người sử dụng, đòi hỏi một kỹ năng và sức tập trung phi thường.

“Làm nhanh đi,” Nhà Giả kim nói qua hàm răng nghiến chặt. “Lửa sắp tắt rồi và tôi không rõ là mình còn bao nhiêu sức lực nữa đây.”

Shakespeare gật đầu. Ông ta thọc sâu hai bàn tay vào cái thùng đang cháy, giọng ông đặc lại, trở thành thứ ngôn ngữ thời nữ hoàng Elizabeth quen thuộc mà cùng với nó ông đã từng lớn lên. “Trước hết, hãy cho chúng tôi những con rắn sông Nile...”

Khói cuồn cuộn và xoắn vặn quanh cái thùng thình lình sôi sục hàng trăm con rắn nhấp nhô. Chúng lô xô lộn nhào trên nền đất.

“Rắn! Tại sao luôn luôn có rắn kia chứ?” Josh rên rỉ và nhìn đi chỗ khác ngay.

“... những con rắn lốm đốm với cái lưỡi kép...” Shakespeare nói tiếp.

Thêm mấy con rắn nữa tràn cả ra ngoài thùng, quằn quại trườn bò quanh chân ba người bất tử. Nhóm Gabriel Hounds im lặng ngoảnh lại, những con mắt đỏ quạch dán chặt vào mấy con rắn.

“Và bây giờ đến mấy con chim gái, con sa giông và rắn thủy tinh*...,” Shakespeare nói tiếp, giọng ông ta cất cao và chuyển thành một kiểu ê a đều đều, như thể ông ta đang lặp đi lặp lại một vần thơ. Đầu ông ta ngửa ra sau và đôi mắt khép lại. “... và những con cóc, xấu xí và độc địa,” ông ta nói thêm, giọng ông ta bỗng khản đặc.

* Thuộc họ thằn lằn rắn.

Các sinh vật từ trong thùng tuôn ra như thác đổ, hàng trăm con nhím mập ú, những con cóc cục mịch, những con sa giông trơn tuột và những con sâu quăn tít.

“... và cuối cùng, những con cú kêu thét ầm ĩ...”

Hơn một chục con cú tới tấp bay vọt ra khỏi ngọn lửa như một đám mưa kết bằng những tia lửa.

Thình lình Shakespeare sụm người xuống và có lẽ sẽ ngã nhào nếu Hiệp sĩ Saracen không chụp ông ta kịp. “Đủ rồi,” Palamedes nói.

“Đủ rồi sao?” Đại Thi hào mở choàng mắt nhìn quanh. Họ đang đứng ngập sâu đến mắt cá trong những sinh vật vừa vọt lên từ cái thùng đang cháy. Mặt đất chung quanh họ ken dày những con rắn oằn oại, những con cóc nhảy lưng tưng, những con sa giông cuộn tròn và những con sâu vặn mình ngoe nguẩy. “Vâng, chuyện này vậy là xong rồi.” Ánh chớp lóe lên phía trên đầu khi ông giơ tay ra siết chặt cánh tay Nhà Giả kim và ôm lấy Hiệp sĩ Saracen. “Cám ơn, những người anh em, những người bạn của tôi. Khi nào cả ba chúng ta gặp lại nhau nữa?” Ông ta hỏi.

“Tối mai,” Palamedes nói. “Bây giờ thì đi đi, đi ngay đi.” Anh ta cẩn thận nhấc chân trái lên. Một con rắn đen thui chảy tuột ra khỏi mắt cá anh ta. “Mấy thứ này sẽ kéo dài được bao lâu?” Anh ta hỏi.

“Đủ lâu mà.” Shakespeare mỉm cười. Vén ra khỏi mắt những sợi tóc thẳng tưng lòa xòa rũ xuống, ông ta giơ cao bàn tay với cặp song sinh đang ngồi trong xe. “Chúng ta chỉ chia tách để rồi gặp lại nhau.”

“Ông đâu có viết như vậy,” Palamedes nói ngay.

“Tôi biết, nhưng ước gì tôi đã viết như vậy.” Rồi, bao quanh bởi những con chó, William Shakespeare chuồi mình xuống bên dưới căn nhà chòi kim loại và biến mất. Gabriel chờ cho đến khi những con chó khác đi hết theo ông ta.

“Giữ ông ất an toàn nhé,” Palamedes kêu lên.

“Tôi sẽ lấy mạng sống mình để bảo vệ ông ấy,” Gabriel nói dịu dàng bằng giọng âm của người Celt. “Tuy nhiên, xin nói tôi nghe xem.” Anh ta hất đầu về đám sinh vật nằm trong bùn. “Những thứ... này...?” Anh ta bỏ lửng câu hỏi nửa chừng.

Nụ cười của Palamedes thật tàn bạo. “Một món quà nhỏ cho đạo quân Wild Hunt thôi ấy mà.”

Gabriel Hounds gật đầu, sau đó cúi khom người xuống và biến đổi thành hình dạng một chú chó khổng lồ rồi mới vặn vẹo đi xuống căn nhà chòi và lẩn mất.

Và rồi, cùng với tiếng rít ré xèo xèo cuối cùng, đám lửa trong đường hào tắt lịm. “Đã đến lúc phải đi rồi,” Flamel nói, cẩn thận mở đường băng qua đám sinh vật Shakespeare vừa phù phép ra. “Tôi đâu biết ông ấy có thể làm được như vậy.”

“Tạo ra chúng hoàn toàn bằng khả năng tưởng tượng thôi,” Palamedes nói. Anh ta giữ cánh cửa và chìa tay mời Nhà Giả kim bước vào băng ghế sau. “Khóa đai an toàn vào,” anh ta nhắc, bộ giáp đen nhấp nháy biến mất. “Sẽ là một chuyến đi dằn xóc dữ lắm đấy.”

Cơn mưa như trút đột ngột tạnh nhanh như khi mới bắt đầu, và rồi những con sói của đạo quân Wild Hunt nhảy xuyên qua làn khói xám.

Một lúc sau, Cernunnos bước sang bên kia đường hào, đám khói xoắn quyện quanh mấy nhánh gạc của lão. Quay ngoắt đầu ra sau, lão gầm vang một tràng cười đắc thắng. “Các người nghĩ mình sẽ đi đâu được chứ?” Lão vừa hỏi gằn, vừa sải bước đi về phía chiếc xe hơi. “Làm gì có chuyện thoát thân khỏi Thần Sừng được.”