004 - Phần một - III

III

Đoàn thuyền xuôi theo dòng sông…

Sáu chiếc thuyền độc mộc bằng thân gỗ cây chu đồng bơi trước. Hai người chèo mũi, một người ngồi sau đuôi bẻ lái.

Mười hai thuyền đi tiếp xuôi theo, trên chở những tráng sứ mang cung, đeo tên, tay cầm giáo dài, to bản, lưỡi bằng đồng. Mũi thuyền cắm cờ chéo màu đỏ. Đây là đoàn thuyền xung trận, mình thon rộng bản, mũi thuyền nhọn cong vút lên, hai bên vẽ hai mắt cá. Đuôi thuyền xòe cánh én.

Tiếp đến tám chiếc thuyền chiến. Các thủy thủ đều cầm giáo hoặc mác lưỡi dài bằng sắt hoặc rìu chiến bằng sắt, cán dài. Ai cũng mang khiêng và cung tên, chít khăn đầu rìu, dưới bụng đóng khố dải. Thuyền có cột buồm, lá buồm nhuộm nâu xòe cánh dơi. Người cầm lái đứng cuối thuyền, mình trần nhưng mặc quần buộc túm dải lưng.

Sau đoàn thuyền chiến là lâu thuyền, có khoảng che rộng, có lầu canh dựng đằng lái sau cột buồm cao vút. Vẫn lá buồm cánh dơi nhưng rộng bản hơn. Mũi thuyền cong vút lên tạc hình đầu chim. Con chim lạc - mỏ nhọn hơi cong, tạo hình thêm dải lông kéo dài áp mạng thuyền. Trên thuyền có treo một trống đồng.

Đuôi thuyền cũng chạm trổ công phu có hình thú, dưới là bánh lái to bản tạc hình con bồ nông có mào và mỏ dài ôm mãi xuống ức.

Sau hết có lẽ là những thuyền đua vì dáng thuyền mảnh và nhẹ nhàng, thủy thủ mỗi bên mười hai người không mang khí giới, chỉ cầm tay chèo. Mỗi thuyền là một sắc cờ: xanh, đỏ, vàng, trắng…

Mỵ Châu và đám nữ lệ, xảo xứng ngồi ở lâu thuyền có khoang che. Đây là chiếc thuyền đặc biệt, dành cho toàn đám con gái và Mỵ Châu. Bà mế không theo con, xin ở lại xứ Nam Cường, vùng quê Mường thân thuộc. Mế đã luống tuổi, vốn là con gái tù trưởng Bế Nghi ở Nam Cường, khi vua Chủ còn mấy bà phi đang sống ở Kẻ Gát (5) nên không thiết về Phong Châu. Mế lấy vua Chủ hồi người còn là chàng trai Thục Phán, quen gọi là Thục Vương Tử, mới thay cha là Thục Chế phụ đạo bộ Tây Vu đóng ở Nam Cường sau khi tụ quân với các tù trưởng Nam Cường, Bản Tì, Na Hang, Mường Một, Đại Mam để chống giặc Tần từ phương Bắc kéo xuống lấn chiếm đất đai Âu Lạc.

(5) Kẻ Gát: nay là xã Tiên Cát, gần ngã Ba Hạc, thuộc thị trấn Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.

Thuở đó đang là thời vua Hùng Duệ Vương, tức vua Hùng thứ mười tám, Hùng Duệ Vương có nhiều con trai nhưng đều chết sớm, chỉ còn lại hai mỵ nương là Ngọc Dung và Ngọc Hoa. Ngọc Dung lấy chàng trai nghèo thôn Chử, sau gọi là Chử Đồng Tử, còn Ngọc Hoa thì gả cho Nguyễn Tuấn người vùng Lăng Xương đất Ba Vì vốn là bậc kỳ tài trong thiên hạ, được suy tôn là thánh Tản Viên.

Cha Thục Phán là Thục Chế vốn dòng dõi Hùng Vương gọi vua Hùng bằng bác. Tổ tiên Thục Chế khi giữ riêng đất Tây Vu, muốn coi mình là một nước riêng biệt nên đổi họ thành họ Thục. Thục Chế muốn lấy công chúa Ngọc Hoa không được vì Hùng Duệ Vương đã gả cho Nguyễn Tuấn. Thục Chế căm giận, đã hội thề cùng tù trưởng Chín Mường đánh nhau với Hùng Vương và Nguyễn Tuấn. Cảnh nồi da nấu thịt đang diễn ra ác liệt thì Tần Thủy Hoàng từ phương Bắc tràn quân xuống phương Nam chiếm đất của các tộc trong Bách Việt, chia đất Lĩnh Nam ra thành ba quận là Quế Lâm, Nam Hải và Tượng Quận, địa bàn sinh sống người Mân Việt và Âu Việt.

Tướng Tần là Đồ Thư kéo quân xuống phương Nam như vũ bão, vua Hùng và Tản Viên Nguyễn Tuấn rất lo sợ. Khi ấy Thục Phán đang quyết đánh Văn Lang để rửa mối hận rể hụt vua Hùng của cha. Để dàn hòa giữ đất Lĩnh Nam trước giặc xâm lăng, Nguyễn Tuấn khước từ ngôi vua do vua Hùng thứ mười tám đã già nhường cho và khuyên vua nên nhường ngôi cho Thục Phán. Vua Hùng nghe lời Tản Viên Nguyễn Tuấn và ngay sau đó Thục Phán đã kéo quân về núi Nghĩa Lĩnh nơi vua Hùng đóng đô nước Văn Lang, dựng đá thề trên đỉnh Hy Cương và hứa cùng vua Hùng quyết diệt tan quân Tần xâm lược.

Đánh giặc Tần gần mười năm, Thục Phán xưng là An Dương Vương, ở luôn Phong Châu hầu như không về lại đất cũ Nam Cường. Mỵ Châu là con gái út, tuy vua Chủ rất yêu thương nhưng vì lánh nạn giặc khi chúng đang chiếm giữ vùng đất Luy Lâu, Lũng Khê (vùng Thuận Thành, Bắc Ninh ngày nay), nên ủy thác hoàn toàn con gái cho vợ cũ.

Lúc chia tay, bà mế chỉ dặn con gái:

- Ở bộ Dương Tuyền (6) còn có mỵ nương Quỳnh Anh là chị con, lấy Tổng Binh Vũ Quốc. Ả đó là con bà khác, hay về Phong Châu thăm vua Chủ, chắc con sẽ gặp…

(6) Bộ Dương Tuyền: nay là vùng đất Hải Dương - Hải Phòng.

Mỵ Châu khóc, ôm lấy mế nước mắt như mưa:

- Về xa ngái, lạ nước lạ cái, con không muốn về. Con ở lại với mế. Mế già rồi…

Nhưng không về không được, khi giặc giã đã tan, vua Chủ đang nóng lòng ngóng đợi con gái út sau bao năm xa cách.

Đoàn thuyền đã lên đón. Thuyền lấy từ Bạch Hạc, lấy thêm thuyền sông Lô, khi trở về, qua xứ nào nghỉ đêm xứ ấy, sao cho kịp đón Mỵ Châu về trước ngày giỗ Tổ vua Hùng.

Riêng Ông Đống cùng hai bạn, có ngựa, những con ngựa vùng Nước Hai khỏe mạnh, dai sức sẽ theo đường bộ đi tắt đến Lạng Châu để gặp tù trưởng Cầm Sinh nay đã là lạc tướng, đang coi giữ đất biên cương phía Bắc. Sau đó, Ông Đống sẽ về bộ Vũ Ninh, vùng sông Sau (7) gặp lại cha là Nồi Hầu và em là Ông Vực đang giữ đất bộ đó.

(7) Sông Sau: tên xưa, sau này gọi là sông Như Nguyệt, rồi sông Cầu.

*

Đoàn thuyền đón Mỵ Châu theo sông Gâm về đến khe Lau gặp sông Lô, đến Đoan Hùng gặp sông Chảy. Dòng nước đang cuộn tung bọt trắng từ những thác ghềnh man rợ bỗng trở nên hiền hòa trong mùi thơm dịu ngọt của những chùm hoa bưởi Đoàn Hùng trắng toát.

Tại đây, bồ chính (8) Lâm Thao là Đinh Công Tuấn, người Kẻ Giô (Hữu Bổ), đã đưa một số quân cùng dân các chạ làng ven sông đón đoàn thuyền chở con gái út của vua Chủ. Đinh Công Tuấn vốn hồi trẻ là phó tướng của Tản Viên Nguyễn Tuấn, nay tuổi đã cao, đầu tóc bạc phơ.

(8) Bồ chính: chức quan dưới quyền lạc tướng trông coi trực tiếp một bộ (tương đương một huyện).

Cũng chính tại đây, hồi đầu chống Tần, một bồ chính đất Âu Việt là Dịch Hu Tống đã bỏ mình khi chống lại một cánh quân Tần định vòng đường xuôi sông Lô về đánh Bạch Hạc. Giặc đông, quân Âu Việt ít, nhưng chúng không giỏi đánh trên nước, sợ núi rừng, đã bị tên độc, lao nhọn của những người dân binh Âu Việt đóng khố, mình trần chia lẻ diệt dần chết gần hết. Trận cuối cùng, lệnh mõ và trống đồng từ Bạch Hạc chuyển vọng lên Lâm Thao là phải chặn đứng giặc lại vì Bạch Hạc đang đốc quân bộ Giao Chỉ và bộ Vũ Ninh theo sông Đuống vây đánh vùng Lũng Khê nơi có thành Luy Lâu do tên thống tướng giặc là Đồ Thư đóng. Phải chiếm lại Lũng Khê vì tại Á Lữ bên bờ nam sông Đuống gần Lũng Khê là nơi táng mộ Tổ Kinh Dương Vương, có đền thờ người và đền thờ Lạc Long Quân cùng bà Âu Cơ. Đền Lũng (9) trở thành nơi đóng quân chính của giặc Tần với thành Luy Lâu vô cùng kiên cố mà tên thống tướng giặc Đồ Thư vẫn huênh hoang tự mãn. Hắn phao tin là quân hắn đóng ở Luy Lâu là để ở lại đất Âu Lạc đến ngàn đời. An Dương Vương đã họp quân và tướng Cao Lỗ đã nổi giận:

(9) Đền Lũng, thuộc xã Lũng Khế, huyện Thuận Thành hiện nay, quen gọi là Chùa Dâu (vì xây bên sông Dâu, làng Dâu) hay chùa Pháp Vân có thành Luy Lâu cũ vây quanh.

- Phải chém đầu Đồ Thư lấy lại Luy Lâu giữ vững đền Lũng của vua Tổ.

Khi giặc Tần kéo xuống Bạch Hạc, quân ta thắng lớn, nhưng bồ chính Dịch Hu Tống đã bỏ mình.

Tướng quân Cao Lỗ với các dũng sĩ trẻ tuổi, như Ông Đống, Ông Vực, Hùng Nam và những người tài của bộ tộc Dâu đã diệt gọn quân Tần. Với hai cây nỏ chụm lại, tướng Cao Lỗ và Ông Đống đã bắn chết tươi Đồ Thư.

Quân Tần thua chạy về phương Bắc, sợ quân Âu Lạc phải giảng hòa: thây phơi, máu chạy, mấy chục vạn (10).

(10) Sách “Hoài Nam Tử” của Lưu An (theo “Lịch sử Việt Nam” tập 1, tr. 129).

Hương thơm của hoa bưởi quyện theo lời kể chuyện của người bồ chính già Đinh Công Tuấn khi thuyền nghỉ đêm ở bến Đoan Hùng:

- Nhưng mộng lớn của Tần Thủy Hoàng là tràn xuống phương Nam! Hắn thèm đất phương Nam, đánh Bách Việt, lấy được Nam Hải và Quế Lâm mưu toan chiếm luôn Tượng quận là đất của người Giao Chỉ chúng ta. Nhưng con cháu vua Hùng mười tám đời nối nghiệp đã không chịu khuất phục chúng, đã đánh cho chúng tơi bời…

Đất Lĩnh Nam là thế! Con cháu Tiên Rồng của họ Hồng Bàng là thế! Nhà Tần đã tự hủy diệt ngay khi đang trên đà thắng lợi với một Lã Bất Vi và một Vương thái hậu, là cha và mẹ đẻ chính tên vua Tần Thủy Hoàng đó, con mụ hoang dâm vô độ và tên buôn vua

Có tiếng hỏi:

- Thưa chúng tôi chưa được rõ hết chuyện, bồ chính kể hết cho nghe được không?

Bồ chính Đinh Công Tuấn vuốt râu cười lớn:

- Kể chứ! Ta phải kể để cho các chàng trai, cô gái Âu Lạc ta mới lớn lên hiểu được là vừa qua ta đánh bại quân Tần đâu có phải chuyện dễ dàng gì!

Tiếng cười ran lên trong đám quân dân Âu Lạc:

- Năm mươi vạn tên trong mười năm vào đất Âu Lạc bỏ xác lại ba mươi vạn tên cùng tên quan úy (11) Đồ Thư. Phải chăng chúng đã chết vì không hợp thủy thổ đất Lĩnh Nam?

(11) Quan úy hay hiệu úy: chức quan cai trị coi mọi mặt kinh tế, chính trị quân sự… trên chức huyện lệnh.

- Không! Chúng đã chết cả tướng lẫn quân vì những mũi tên của chúng ta, vì những giáo đồng rìu sắt của chúng ta. - Tiếng bồ chính già Đinh Công Tuấn vẫn âm vọng trong đêm.

- Thưa, ta đã thắng giặc, sao lại cho người phương Bắc mượn tướng Lý Thân để rồi chúng gọi tên là Lý Ông Trọng?

- Khi cuộc binh đao chấm dứt, vua Hùng cử ông Lý Thân người làng Chèm đi sứ sang Tần nghị hòa. Tần Thủy Hoàng có binh hùng tướng mạnh lấn được sáu nước chư hầu, nhưng đã thua ta ở phía nam lại sợ người Hồ ở biên giới phía bắc. Biết Lý Thân là dũng tướng, Tần Thủy Hoàng giữ ông lại, mượn tài ông để chống người Hồ. Như vậy, nhờ có Lý Thân, người Hồ không vượt qua được biên ải, Tần Thủy Hoàng mới phong cho ông chức Vạn Tín Hầu gọi ông là Lý Ông Trọng rồi cho phép ông về Lĩnh Nam thăm quê nhà…

Lý Ông Trọng về nước được ít lâu, người Hồ lại động binh vượt Vạn Lý trường thành. Vua Tần phải cho sứ sang Phong Châu gặp vua Chủ xin mượn Lý Ông Trọng lần nữa. Lý Ông Trọng quyến luyến quê hương đất Tổ không chịu đi. Vua Chủ đành phải nói với sứ Tần là Lý Ông Trọng đã chết. Sứ về, Tần Thủy Hoàng không tin, đòi được thấy hài cốt của Lý Ông Trọng. Lý Ông Trọng bèn nói với vua Chủ:

- Trọng này, tuổi cường tráng hoa niên phải xa nơi chôn rau cắt rốn sống ở đất người, giữ vững bờ cõi cho nước người, vinh hoa phú quý đâu bằng đất Tổ quê hương. Nay Trọng này khỏe thì giúp trai làng luyện võ múa gươm, rỗi thì ra bờ sông. Cái bên làng Chèm nhìn bãi lúa nương dâu, nhìn con sông một màu đỏ lựng phù sa mong cho thôn xóm yên bình. Nay vua Tần đã đòi cho được Trọng sang đánh người Hồ, nói Trọng đã chết, lại đòi được xem nắm xương tàn…

Lý Ông Trọng thở dài:

- Họ đã đòi vậy ắt là muốn gây sự. Để tránh nạn binh đao cho dân cho nước, Trọng này sẽ tự hủy mình để vua Chủ báo cho Tần Thủy Hoàng rõ là ta không hề nói dối.

Vua Chủ ngậm ngùi nói với Lý Ông Trọng:

- Tôi hiểu lòng ông. Nhưng nếu ông chết đi, mà giặc Bắc vẫn tràn xuống xâm lăng thì tính sao?

Lý Ông Trọng sa nước mắt nói:

- Về quan tướng giữ nước thì không ai bằng ông Cao Lỗ bên Vũ Ninh và ông Nồi Hầu ở làng Chiêm Trạch.

Còn đất tổ Phong Châu tuy lợi thế đường sông từ ngã Ba Hạc trở xuống, nhưng thế đất khó đương nổi giặc lâu dài khi giặc vây đánh, vì Phong Châu ở giữa các dòng sông. Tôi đã đi nhiều nơi quanh vùng sông Cái, từ Kẻ Thá, Kẻ Tè, Kẻ Vậy (12) gần Bạch Hạc đến Kẻ Noi, Kẻ Bưởi gần Kẻ Chèm (13) của tôi, lên cả Kẻ Lìm, Kẻ Giàu (14). Gần đây tôi có đến Kẻ Vang, Kẻ Nhồi và Kẻ Loa, bên bờ sông Hoàng (15). Cứ như thế đất ở trung châu thì có thể lấy vùng Kẻ Loa xây thành chống giặc giữ nước. Kẻ Loa vốn là rốn đất Tây Vu cũ của Thục Chủ nằm trong bộ Vũ Ninh của người Âu Việt. Hãy về Kẻ Loa xây kế lâu dài. Còn tôi… Ôi, tôi chỉ như đứa con bạc phận.

(12) Kẻ Thá (Phúc Lâm), Kẻ Tè (Ninh Xá), Kẻ Vậy (Quảng Bị) là tên cũ các làng ở Sơn Tây - Hà Đông cũ.

(13) Vùng đất trong phạm vi Hà Nội nay.

(14) Kẻ Lìm, Kẻ Giàu nay thuộc Lũng Giang và Phù Lưu (Hà Bắc).

(15) Sông Hoàng: Hoàng Giang, thời nhà Lý đổi tên là sông Thiếp vì vợ bé của vua Lý - tỳ thiếp - thường ra sông tắm giặt.

Mọi người đều im lặng nhìn ngọn lửa bập bùng tưởng như thấy được Lý Ông Trọng đang về đứng bên mình, cùng sưởi chung một ngọn lửa. Và lời dối dăng kia với Thục Chủ về Kẻ Loa…

Bồ chính già Đinh Công Tuấn kể tiếp:

- Lý Ông Trọng chết đi. Để uy hiếp người Hồ, Tần Thủy Hoàng đã cho đúc một người khổng lồ bằng đồng giống Lý Ông Trọng đặt ở cửa thành Tư Mã đất Hàm Dương (16)…

(16) Hàm Dương là kinh đô nhà Tần.

Ngọn lửa đêm bập bùng trước gió sông thổi về. Vẫn thoảng mùi hương hoa bưởi Đoan Hùng.

Và Mỵ Châu thao thức nói với Bé Hà:

- Chưa về đến Phong Châu mà đã được nghe bao chuyện của vùng xuôi. Nhưng Bạch Hạc, Bạch Hạc là thế nào sao lại có tên là Bạch Hạc? Bé Hà có biết không?

Bé Hà lắc đầu:

- Mệ nàng ơi, em cũng như mệ nàng từ cõi nguồn về đất Tổ. Nhưng nếu em biết thì em sẽ kể về Bạch Hạc như thế này này…

 

Mua sách giấy (nếu có) để ủng hộ tác giả và đọc bản có chất lượng tốt hơn <3

Tìm Mua Sách Này

Trước khi mua hàng trên Tiki Shopee hãy click vào banner tương ứng để Gác có tiền nâng cấp server nhé <3.