[Gác chuyển ngữ] Kế hoạch của tên sát nhân hàng loạt - Brian D. Meeks

Brian D. Meeks, 47 tuổi, là một tác giả văn học mạng ở Mỹ. Bản thân ông rất ghét viết lách, cho đến một ngày kia, chính xác hơn là ngày 2, tháng 1, năm 2010. Ngày hôm đó là một ngày chán chường, sau khi xem chương trình thể thao trên truyền hình xong và không có gì làm, ông liền lên mạng chơi và vô tình học cách lập một trang blog và bắt đầu viết. Ngày hôm sau ông quay lại trang blog của mình và phát hiện có hơn 300 người xem và để lại lời bình luận. Từ đó, ông đều viết mỗi ngày, khi ít khi nhiều, đến nay đã có hơn 1500 bài viết. Cho đến nay, ông đã viết và xuất bản 5 quyển sách và rất nhiều truyện ngắn, đa số thuộc thể loại trinh thám và hình sự.

KẾ HOẠCH CỦA TÊN SÁT NHÂN HÀNG LOẠT

(Đăng tải trên trang web http://extremelyaverage.com/ của tác giả)

Truyện dịch chưa có sự đồng ý của tác giả.

“Bác sĩ Samuelson, bệnh nhân hẹn lúc mười một giờ đã đến,” Kimberly nói.

Jon nhìn đồng hồ, kim giây vừa lướt qua số mười hai, “Mời anh ta vào.” Anh đứng lên để đón tiếp bệnh nhân mới của mình.

Người đàn ông bước vào, bắt tay và nói: “Bác sĩ Samuelson, tôi đã đọc rất nhiều về anh, tôi tin chắc rằng anh có thể giúp tôi giải quyết các vần đề tôi đang gặp phải.”

“Anh Jones, tôi có thể gọi anh là Bobby chứ?”

“Bác sĩ, anh có thể gọi tôi bằng bất cứ cái tên nào anh muốn.”

“Cứ gọi tôi là Jon.”

“Jon, đây là lần đầu tiên tôi đến một...” anh ta dừng lại.

“Bác sĩ tâm lí.” Bobby cười và nói, “Tôi định nói là một bác sĩ tâm thần nhưng bác sĩ tâm lí cũng được.”

Jon mở một bìa da và ghi lên đầu trang, Thứ ba ngày 8 tháng 5. 11:03 a.m. Bobby Jones, Buổi trị liệu I, rồi hỏi,“Hãy cho tôi biết lí do hôm nay anh đến đây, Bobby.”

“Tôi đã đọc các bài báo của anh ở Havard, các bài bán chạy nhất, và tất cả các bài viết về trận chiến của anh với tòa án cho việc bảo mật thông tin bệnh nhân.”

“Vâng, đó là một khoảng thời gian khá khó khăn đối với tôi, nhưng tôi cảm thấy rất xứng đáng.”

“Nghe nói anh gần như mất cả phòng khám.”

“Đúng vậy, nhưng cuối cùng tôi đã lập được một cái tốt hơn.”

“Anh từng nói câu gì đó đại loại là anh thà chết còn hơn phải phản bội lòng tin của những linh hồn lạc lối, đã tìm kiếm sự giúp đỡ từ anh.”

“Tôi thật sự đã nói 'những linh hồn lạc lối' sao?”

“Anh đã nói như thế.”

“Lúc đó tôi còn trẻ, bây giờ thì chất thi sĩ trong tôi đã ít hơn rồi.”

“Anh vẫn tin rằng thông tin bệnh nhân là một bí mật không thể xâm phạm chứ?”

“Vâng, tất nhiên.”

“Và tôi có thể kể cho anh mọi thứ, kể cả những bí mật đen tối nhất của tôi, và anh sẽ tiết lộ một lời nào?”

“Tôi sẽ không.”

“Ngay cả khi tôi đã làm một số chuyện vô đạo đức và phạm pháp?”

“Đặc biệt là khi anh đã làm chuyện gì đó vô đạo đức và phạm pháp. Tôi tin rằng khi anh đã đến đây tìm kiếm sự giúp đỡ, thì công việc của tôi là cho anh sự giúp đỡ.”

“Tôi rất vui khi nghe điều đó.”

“Chúng ta có thể bắt đầu chứ?”

“Tôi nên bắt đầu từ đâu đây?”

“Đó không phải câu hỏi tôi có thể trả lời.”

Bobby nhìn quanh căn phòng, “Anh có một văn phòng rất đẹp. Nó khiến tôi thấy thoải mái.”

Kinh nghiệm mách bảo Jon rằng một số người cần phải chuẩn bị trước khi nói đến các vấn đề họ đang gặp phải.

Bobby tiếp tục, “Tôi nghĩ vấn đề bắt đầu từ mười lăm năm trước. Mẹ tôi bị một gã môi giới chứng khoán lừa. Tôi là sinh viên năm hai đại học đang theo học thống kê và kịch nghệ, đạt toàn điểm A. Tôi biết hai môn đó học chung thì thật kì lạ, nhưng tôi học rất vui. Sau đó mệ tôi phát hiện ra rằng bà đã bị cướp và tuột dốc trầm trọng trong chứng trầm cảm, ba tháng sau bà kết thúc tất cả với năm mươi viên thuốc và một chai Rain Vodka."

Một sự im lặng kéo dài dễ chịu đến kỳ lạ. Đa số các bệnh nhân đều không chịu được sự im lặng, nhưng Jon hầu như luôn để cho họ kể hết câu chuyện của mình, cố gắng không can dự vào dù là chi tiết nhỏ nhất.

Gần ba phút trôi qua, Jon tiếp tục ghi chép, Bobby lại tiếp tục, “Cha tôi mất một năm trước đó bởi một tài xế say xỉn, thật trớ trêu cũng là một tên môi giới chứng khoán. Tên tài xế đó cũng chết, nhưng chẳng làm tôi thấy khá hơn chút nào. Hắn không phải người xấu và mọi người nói hắn ít khi uống say. Báo cáo của phía cảnh sát cũng nói hắn không vượt quá nồng độ cồn quy định và có lẽ hắn đã ngủ quên khi đang lái xe. Biết rõ tình tiết cũng chẳng giúp được gì, nhưng tôi vẫn có thể tiếp tục chuyện học hành. Khi mẹ mất tôi đột nhiên nhận ra mình đơn độc trên cõi đời này, mọi thứ trong tôi như sụp đổ.”

“Anh có từng thử tìm đến những chuyên gia hay không?”

“Bác sĩ tâm lí?”

“Có.”

“Bác sĩ trị liệu của anh, anh ta có giúp được anh?”

“Là cô ta, sau buổi trị liệu thứ ba, chúng tôi đã ngủ với nhau. Lúc đó, tôi cho rằng việc trị liệu rất có ích. Chuyện đó tiếp tục trong vài tháng và tôi cảm thấy chán cô ta, nên tôi không đi nữa.”

Tiếng xột xoạt trên giấy của Jon như đang ngầm chê bai hành động sai trái đó. Jon vô cùng nghiêm túc với chuyên ngành của mình và từng nghe rất nhiều những câu chuyện na ná như vậy. “Kể tôi nghe về khoản thời gian còn lại của học kỳ.”

“Mọi chuyện trở nên xấu đi từ đó, tôi kết thúc học kỳ với ba điểm C và một điểm B. Chỉ duy nhất một vị giáo sư dường như quan tâm đến những gì tôi đã trải qua, ông ấy cho phép tôi nộp báo cáo muộn một tuần. Đó chính là điểm B.”

“Vậy anh có tiếp tục việc học?”

“Có, nhưng tôi chuyển sang chuyên ngành tài chính. Đó là hành động xấu xa đầu tiên của tôi.”

“Vì sao anh lại nói tài chính xấu xa?”

“Không phải tài chính mà là mục đích của tôi. Tôi muốn trở thành một nhà môi giới, nhà môi giới thành công nhất thế giới, dấn thân vào cuộc sống khốn nạn. Tôi làm điều đó để trả thù.”

“Và động lực mới này có giúp anh vượt qua nỗi đau?”

“Nói một cách nào đó thì có, nhưng tôi chẳng bao giờ vượt qua được bước thứ năm [1].”

[1] Năm bước để vượt qua nỗi đau theo nghiên cứu tâm lí:
1/ Phủ nhận và cô lập.
2/ Tức giận.
3/ Thỏa hiệp.
4/ Suy sụp.
5/ Chấp nhận.


“Ý anh là bước chấp nhận sự mất mát?

”“Đúng vậy.”

“Vậy anh có trở thành nhà môi giới chứng khoán?”

“Có, tôi đã kiếm được năm mươi triệu đô trong mười năm qua.”

Tuy Jon thường ít khi bị ấn tượng bởi vật chất vì nhận thấy bản thân mình khá thành công trong cuộc sống, nhưng cũng phải nhướng mày một cái.

“Anh nghĩ rằng xe, phụ nữ và nhà cửa sẽ lấp đầy hố trống?”

“Mọi người đều tự chữa trị theo cách của riêng mình.”

“Vâng, có lẽ vậy.”

Lại một sự im lặng nữa. Bobby nhìn đồng hồ, “Tôi biết chúng ta vẫn còn mười phút nữa nhưng tôi thật sự phải đi rồi. Hẹn gặp lại vào giờ này tuần sau nhé.”

Jon đứng dậy và bắt lấy tay anh ta. “Tôi tin rằng chúng ta có thể giúp anh tiến đến bước thứ năm.”

“Tôi cũng thế.”

Jon dùng mười phút còn lại để hoàn tất việc ghi chép sau đó đi ăn trưa. Anh luôn kéo dài bữa trưa đến hai giờ như một cách để giải tỏa những áp lực từ các buổi trị liệu buổi sáng.

Khi quay lại, Jon thấy ông Mayer đang đợi như thường lệ. Anh đón tiếp ông. “Ông Mayer, tôi hy vọng mình đã không để ông đợi quá lâu.”

Người đàn ông già nhún vai, “Đâu có đợi chờ gì, tôi ngồi nói chuyện với Kimberly đáng yêu đấy chứ. Vẫn tốt hơn là ngồi ở công viên với những con bồ câu.” Ông ta đứng lên và đi theo phía sau Jon, khi đi ngang bàn làm việc của cô thư ký còn tặng cô một cái nháy mắt, “Nhưng đừng hiểu lầm, tôi không ghét bỏ gì lũ bồ câu. Số lần tôi cho chúng ăn nhiều đến mức tôi không đếm được, chỉ là Kimberly là một người rất tốt.”

Jon thích ông Mayer nhưng không chắc rằng những buổi trị liệu của mình giúp gì được cho ông ta. Buổi trị liệu nào cũng như nhau, một giờ đồng chỉ nói chuyên bâng quơ. Ông Mayer đã ngoài bảy mươi, vợ ông mất một năm trước và ông bắt đầu tìm đến Jon để vượt qua chuyện này. Sau sáu tháng, tâm trạng ông đã khá hơn, thậm chí Jon đề nghị các buổi trị liệu không còn cần thiết nữa, nhưng ông Mayer luôn nói rằng mình mới là người quyết định chuyện gì là cần thiết.

“Để tôi kể anh nghe về tên điên ở viện dưỡng lão. Hắn ta bắt đầu nổi điên lên, giống như chiếc đồng hồ thiếu mất kim phút của mình.”

Jon không hiểu ông Mayer đang nói gì, nhưng anh cũng không bận tâm. “Hắn ta đã làm gì?”

“Hắn nổi điên khi thua ván cờ, ném các quân cờ rồi vỗ vào mông cô y tá và nói cô khiến hắn nhớ đến người bạn gái đầu tiên của hắn. Cô y tá Roger không thích thú gì lời nhận xét đó.”

Jon cười và ghi chép vài ghi chú vô nghĩa.

“Họ đã đổi thuốc và mắt kính của anh ta, nhưng anh ta bị cấm chơi cờ cả tuần. Roger vẫn tiếp tục bị trêu chọc. Tôi đã kể anh nghe về cái bánh vòng [2] và cá hồi muối chúng tôi phải ăn mấy hôm trước chưa? Thật không hiểu nổi, ở ngay cái thành phố New York quái quỷ này, tôi phải giết tên nào để có được một chiếc bánh vòng ra hồn?”

[2] Bánh vòng: Một loại bánh đặc sản của New York.

“Tuần sau, tôi đảm bảo chúng ta sẽ có vài cái bánh vòng.”

“Với kem phô mai? Tôi không thích món cá hồi muối.” Ông run rẩy nói.

“Với kem phô mai.”

“Anh đúng là một cậu bé ngoan, anh chỉ cần cho tôi biết mình cần giết ai là được rồi.”Jon khúc khích cười.

Thời gian còn lại hầu như là nói về chính trị. Jon cười, gật đầu và đồng ý với hầu hết những gì ông Mayer nói.

Thứ ba, 15 tháng 5, 11:00 a.m, Bobby Jones, vừa viết Jon vừa nói, “Lần trước chúng ta đã nói đến chỗ vì sao thành công không thể lắp đầy khoảng trống trong anh.”

“Tôi tin rằng mình đã nói là hố trống, nhưng đúng vậy.”

Jon lật trở lại trang trước, “A, đây rồi, đúng là anh đã nói như thế. Tôi xin nhận sai.”

“Thật sự không sao. Có thể tôi quá chú trọng các chi tiết nhỏ, nhưng nếu tôi không làm vậy, tôi đã bị bắt từ lâu rồi.”

“Bị bắt?”

“Có lẽ tôi nên kể lại. Trước khi bắt đầu vụ án mạng đầu tiên, tôi bỏ ra gần ba năm để chuẩn bị.”

Jon giữ gương mặt vô cảm, “Vụ án mạng đầu tiên?”

“Vâng, tôi sẽ kể đến đó sau, nhưng anh cần hiểu rằng, tôi đã rất cẩn thận.”

Jon viết một cách điên cuồng. Anh ghi lại thời gian, biểu cảm gương mặt (lạnh lùng), tư thế và thậm chí cả việc tay của anh ta không hề nhúc nhích. Cử chỉ của người đàn ông trước mặt làm anh phải định nghĩa lại thế nào là sự trầm tính.

“Việc đầu tiên tôi làm là phải có được một số an sinh xã hội. Chuyện đó thật dễ dàng. Một bé trai không cần đến nó nữa khi cậu ta qua đời do bệnh bạch cầu một tuần sau sinh nhật lúc mới ba tuổi. Tôi mở một tài khoản nước ngoài dưới tên câu ta, chuyển vào đó năm triệu đô rồi dùng tài khoản đó lập một hạng mục tín dụng. Không mua sắm gì quá mức, chỉ cái ti vi, cái máy giặt, máy sấy, và một chiếc Honda Accord. Tất cả đều được quyên cho các tổ chức từ thiện, ẩn danh.”

“Anh không ngại nếu tôi ghi âm lại buổi điều trị của chúng ta chứ? Toàn bộ những việc này...”

“Tôi không ngại, miễn là anh nhớ rằng tất cả phải được bảo mật.”

“Điều đó là đương nhiên.”

“Tôi sẽ rất thất vọng nếu anh không làm thế.”

Ngữ điệu thật bình thản, Jon không chắc rắng đó có phải một lời đe dọa hay không. Anh bỏ qua và đi lấy chiếc máy ghi âm kỹ thuật số trên bàn của mình. “Mời tiếp tục, và vâng, tất cả đều được bảo mật.”

“Tốt. Dù thế nào đi nữa tôi đã dùng tài khoản để mở thêm hai tài khoản nước ngoài, để phòng hờ. Tôi dùng những tài khoản này để lập địa chỉ email đầu tiên. Tôi tiếp tục mở thêm các tài khoản khác. Tất cả đều phục vụ cho một mục đích duy nhất.”

“Làm thế nào?”

“Tôi có một tài khoản cho Twitter ảo của mình. Ngoài ra còn một cái cho Facebook, một cho LinkedIn, cái cuối cùng là quan trọng nhất, cho chiếc điện thoại. Sau đó, khi Foursquare xuất hiện, tôi tạo một tài khoản cho ứng dụng này.”

“Anh đã dùng tên của cùng một người cho tất cả các tài khoản sao?”

“Không, tôi ghép tên của một nhà soạn nhạc đã mất người Nga và họ của một họa sĩ ít người biết đến. Cái tên không quan trọng. Điều tôi muốn nói là tôi đã dựng nên dấu ấn thật chi tiết cho bóng ma của chính mình. Tôi có hàng ngàn bạn trên Twitter, bốn trăm người biết đến và thích tôi trên Facebook và hàng trăm đối tác làm ăn trên LinkedIn.”

Jon tự thấy không cần ghi chép nữa, gõ nhẹ cây viết lên giấy, cho đến khi Bobby dừng lại và nhìn anh.

“Tôi làm anh thấy căng thẳng sao?”

“Sao cơ? Ồ, xin lỗi, thói quen từ nhỏ của tôi.” Jon nói và đặt cây viết xuống, “Mời tiếp tục.”

“Tôi biết các chi tiết riêng tư của hàng trăm người, và họ biết của tôi, hoặc ít ra họ nghĩ là họ biết. Tất cả chỉ là hỏa mù. Nhưng điều đó không ấn tượng lắm, thông minh ở chỗ tôi chọn nạn nhân.”

“Đã có bao nhiêu nạn nhân?”

“Tôi sẽ cho anh biết. Anh viết bài báo ở Harvard về những kẻ sát nhân hàng loạt và một phần về các qui tắc của họ thật sự khiến tôi ấn tượng.”

“Vâng, các nguyên tắc thật sự rất quan trọng cho người trở thành kẻ sát nhân hàng loạt.”

“Anh đã nói, tôi chỉ trích dẫn lại, đó là bởi vì họ muốn bị bắt. Tôi đã nghĩ điều đó thật vớ vẩn khi đọc nó, nhưng bây giờ tôi không chắc lắm.”

“Thật thú vị.” Jon vừa nói vừa cầm viết lên và ghi chú lại, muốn bị bắt?

“Tôi quyết định mình cần có qui tắc, nhưng chắc chắn rằng tôi không muốn bị bắt. Thứ đầu tiên tôi muốn là một ký hiệu. Tôi không hứng thú với việc dùng các vũ khí lạ thường, những thứ như vậy rất phiền phức và còn nhiều hạn chế, nhưng cần phải có một sợi dây liên kết mọi thứ lại với nhau. Tôi quyết định chọn một cái mộc sắt nhỏ.”

“Mộc sắt?”

“Giống dấu đóng trên con ngựa vậy.”

“Một dấu sắt nung sao?”

“Vâng, nhưng nhỏ hơn nhiều. Tôi bay đến tận Malaysia để tìm một nghệ nhân lớn tuổi, ông ấy đã làm nó.”

“Trông nó như thế nào?”

“Không phải bây giờ, nhưng một ngày nào đó tôi sẽ cho anh xem. Có thể nói nó rất độc đáo, theo tôi thấy, và rất có phong cách của thế kỷ 21.”

Jon viết lại thế kỷ 21 và nhìn lên. Khi anh viết, Jon tiếp tục, “Vậy là tôi đã có dấu ấn của mình, nhưng tôi vẫn cần có phương pháp chọn nạn nhân. Tôi đã cân nhắc đến việc chọn những người trên mạng xã hội, nhưng nghĩ lại vài nhà toán học thông minh với chiếc máy tính có thể tìm ra manh mối. Tôi thích chương trình truyền hình Numb3rs, anh có xem chưa?”

“Tôi có nghe qua nhưng chưa bao giờ xem.”

Bobby có vẻ thất vọng, nhưng chỉ trong một chút, “Dù sao thì tôi cũng đã suy nghĩ rất nhiều cho việc lựa chọn nạn nhân nhưng không nghĩ ra được cách nào thanh lịch và nghệ thuật. Tôi đã bắt đầu cho rằng mình chẳng thể ra ngoài và giết ai được, điều đó thật đáng xấu hổ. Rồi tôi nhìn thấy chiếc vỏ ốc trong một cửa hàng ở Florida Keys.”

“Tại sao anh lại đến Keys?”

“Đó là một mùa đông khắc nghiệt ở New York, tôi đã rất lạnh.”

“Rất hợp lí.”

“Vỏ ốc nhắc tôi nhớ đến Tỉ lệ vàng và những ví dụ trong tự nhiên. Đó sẽ là phương pháp của tôi. Bằng cách nào đó tôi sẽ sử dụng con số 1.618 này.”

Jon vừa nghe vừa bắt đầu vẽ những vòng xoắn ốc lên giấy ghi chép của mình.

“Như tôi đã nói, sự chuẩn bị là chìa khóa, và bây giờ tôi có quy tắc đầu tiên của mình. Càng về sau lại càng như một chủ đề. Vấn đề bây giờ là làm thế nào để áp dụng nó? Vì thế tôi mở đôi mắt mình và để số phận dẫn đường. Vài ngày sau, tôi đọc được một bài blog về chiếc điện thoại bị bỏ quên trong một quán bar rồi ai đó vô tình nhặt được nó, chụp một tấm hình của anh ta rồi lại bỏ quên nó ở một quán bar khác. Đêm đó chiếc điện thoại đã đến ba quán bar khác nhau, ngày hôm sau chủ nhân chiếc điện thoại đã gọi và tìm được nó. Những tấm ảnh chiếc điện thoại chụp được trong chuyến phiêu lưu của nó là về những người đang có thời gian vui vẻ, chủ nhân của chiếc điện thoại bình luận rằng đêm đó nó còn vui hơn cả anh ta. Một ý tưởng đã được hình thành. Tôi mua một chiếc Iphone 3S và xóa hầu hết các ứng dụng, chỉ để lại các ứng dụng gọi, ghi âm và Youtube. Để đề phòng tôi gõ một ghi chú nhỏ.
'Xin chào, tôi là chiếc Điện Thoại Du Lịch.
1) Hãy đưa tôi đến nơi nào đó thú vị.
2) Hãy giữ tôi trong thành phố New York.
3) Hãy chụp nhiều ảnh.
4) Hãy nạp điện cho tôi ngay bây giờ và nạp thêm một lần nữa.'

Sau đó tôi nhận ra một vấn đề, chiếc điện thoại sẽ trở về, nhưng làm thế nào để tận dụng sự ngẫu nhiên đó?”

Jon thật sự đã ngồi trên cạnh ghế theo đúng nghĩa đen của nó.

Bobby nhìn đồng hồ của anh ta, “Chúng ta sẽ phải tiếp tục ở chỗ này, vào tuần sau. Tôi phải đi đây.”

Sau đó, anh ta đứng lên và rời khỏi.

Jon gọi Kimberly vào văn phòng. Anh hiếm khi làm vậy, nhưng một khi anh làm thì chỉ có một lí do duy nhất. Cô có một món nợ cần trả từ lâu, mặc dù chuyện này khiến cô ghê tởm nhưng cô lại không thể từ chối yêu cầu của anh ta. Điều tệ nhất là chuyện này thường xảy ra vào giờ ăn trưa, và cô phải chịu đựng sự nhục nhã này trong suốt buổi chiều còn lại, trước khi cô có thể về nhà và rửa sạch mùi của anh ta trên người. Cô khóa cửa văn phòng, như đã định trước, và bước vào, bắt đầu cởi áo ngoài.

Anh ta vẫy tay, “Không, không phải chuyện đó. Tôi cần em hủy bữa trưa đã đặt và ra ngoài mua cho tôi một bánh thịt viên và một lốc cô ca, đây,” anh ta nói và đưa cho cô tờ năm mươi đô, “nhân tiện tự mua cho em chút gì đó cho bữa trưa.”

Sau khi cô rời khỏi, anh đi đến bên tủ đã được khóa và lấy ra tập hồ sơ dày với đầy các kết quả của anh. Tiếp đó anh lấy ra một chồng báo. Mỗi tờ đều có bài viết về tên sát nhân Ca Rô, được biết đến với việc đóng dấu các nạn nhân của mình bằng một bảng ca rô với dấu 'x' trong ô vuông chính giữa. Jon lật các trang báo, từng trang một, từng phần một, tìm kiếm manh mối. Anh kiểm tra tất cả các mục án mạng và tai nạn nhưng không thấy bất cứ dấu vết nào của những gì Bobby đã nói.

Đã năm năm kể từ quyển sách bán chạy nhất của anh. Ba năm trước anh quyết định viết một quyển sách dựa trên cách nghĩ của những tên sát nhân hàng loạt. Nó sẽ trở thành thành công vang dội của anh, Jon đã tưởng tượng đến các hợp đồng làm phim và thậm chí là giàu có hơn nữa, không phải vì anh cần tiền. Anh nhớ những hào quang đi kèm với cái danh hiệu Bán Chạy Nhất của New York Times. Bobby đã xuất hiện trong đời anh, anh xem nó như là định mệnh. Đó là một dấu hiệu phi thường cho thấy quyển sách của anh sẽ trở thành hiện thực như những gì anh tưởng tượng. Nó sẽ không chỉ viết về những tên sát thủ nổi tiếng khác, mà sẽ bao gồm cả bệnh nhân...x. Anh cười cho sự trớ trêu của chình mình.

Hai mươi phút đã qua, anh thu dọn tất cả rồi khóa lại trong tủ. Vài phút sau Kimberly trở lại với bữa trưa. Chiếc sandwich thịt viên rất tuyệt, chín mươi phút tiếp theo trôi qua thật nhanh.

Kimberly đưa ông Mayer đến như đã hẹn. Jon đứng lên nhưng ông vẫy tay bảo anh ngồi xuống, “Không cần, cứ ngồi đó, tôi biết đường đến chiếc ghế mà.”

“Hôm nay ông thế nào, ông Mayer?”

“Khá hơn gã với cái sanwich xông khói.”

“Tôi rất thích thịt xông khói.”

“Tôi không biết, nhưng nghe có vẻ tốt. Tôi có thắc mắc.”

“Cứ tự nhiên hỏi.”

“Tôi đã đến đây trong một thời gian dài, và tôi biết anh là người đàn ông có nguyên tắc. Ăn trưa trên bàn làm việc không phải một trong số chúng. Có chuyện gì vậy?”

“Không có gì. Thật ra thì tôi đang cảm thấy rất tuyệt vời. Tôi có thể cho ông biết một bí mật không?”

Ông Mayer đặt bàn tay lên tim mình, “Tôi sẽ không tiết lộ một lời.”

“Tôi đang viết một quyển sách, và tôi nghĩ mình đã tìm ra cái kết cho nó.”

“Mọi quyển sách đều cần một cái kết. Thế nó là gì?”

“Tôi thật sự không nên nói, nhưng có thể nó sẽ còn thành công hơn quyển đầu tiên.”

“Chúc mừng anh.”

“Cảm ơn, còn bây giờ thì, một tuần của ông thế nào?”

Phần còn lại trong suốt một giờ đồng hồ nói về chuyến đi của các kỳ thủ, tin đồn ở viện dưỡng lão, chi tiết về các bữa ăn, và buồn một chút về ngày giỗ của mẹ ông.

Hai bệnh nhân cuối cũng đến và ra về. Jon ghi lại vài ghi chú và hầu như chẳng nghe họ nói gì. Khi Kimberly gõ cửa và hỏi anh còn việc gì nữa không anh nói. “Có, còn một việc nữa.” Ánh mắt anh khiến cô rùng mình, tuy vậy, cô vẫn khóa cửa lại và trở lại văn phòng anh. Sau khi xong việc, anh rút ví ra, thò tay vào trong ví, cô thở phào nhẹ nhõm khi anh không rút ra vài tờ tiền, nếu anh làm như vậy sẽ khiến cô chịu không nổi. Thay vào đó anh ta đưa cô một phiếu giặt khô và nói, “Hãy giúp tôi ghé qua lấy nó trên đường em đi làm vào ngày mai.”

Một trong những cái lợi của sự thành công là sở hữu được văn phòng này. Anh có cả một phòng tắm và một quấy bar nhỏ. Jon gọi pizza và dành cả buổi tối để ghi chép lại từ những băng ghi âm hai buổi trị liệu đầu tiên với Bobby.

Thứ ba, 22 tháng 5, 11:00 a.m, Bobby Jones. Jon đã viết nó ở đầu trang giấy trước 11 giờ vì anh không muốn lãng phí một giây nào khi anh ta xuất hiện. Bobby đến rất đúng giờ, ngồi xuống và hỏi, “Tuần trước chúng ta nói đến đâu rồi?”

Jon không ngần ngại, “Anh đang nói rằng anh đã tìm ra cách sử dụng điện thoại để chọn lựa ngẫu nhiên.”

“À, đúng rồi,” anh ta cười nói, “Anh có nghe đến Foursqure chưa?”

“Trò chơi của trẻ con?”

“Không, đó là một ứng dụng của Iphone, cũng khá giống trò chơi.”

“Chưa từng nghe qua.”

"Như tôi đã nói, tôi đã dựng lên những thứ đó, chính xác hơn thì dường như Foursquare chính là đáp án cho vấn đề của tôi."

"Như thế nào?"

"Cách thứ hoạt động của nó, ai đó tải ứng dụng về điện thoại anh ta rồi đăng ký tài khoản. Khi tôi hiểu những điều cơ bản của ứng dụng, tôi dùng thông tin và ảnh đại diện giả của mình để bắt đầu. Khi tôi tìm ra được điều cơ bản, tôi mở một tài khoản khác cho chiếc điện thoại du lịch. Tôi hiểu bản chất của con người, và ước tính rằng hầu hết những người nhặt được và sử dụng chiếc điện thoại này sẽ là những người am hiểu công nghệ, thậm chí có thể họ cũng dùng Foursquare, tôi thêm vào một lời chỉ dẫn, 5) Đăng ký tài khoản Foursquare cho tôi. Thật ra thì tôi soạn lại danh sách và đưa nó lên làm lời chỉ dẫn đầu tiên."

"Chuyện này giúp anh giải quyết vấn đề của sự lựa chọn ngẫu nhiên như thế nào?"

"Nó đã không nếu tôi hiểu sai về bản chất của con người, nhưng tôi đã sẵn sàng để chiếc điện thoại ra ngoài kia và thử với những con người thật ngoài kia. Tôi chọn quán Starbucks trên đại lộ số 5 và để chiếc điện thoại lại đó. Nhưng một ông già tốt bụng đã giữ tôi lại trước khi tôi rời khỏi và trả nó lại cho tôi. May thay là cứ vài trăm mét lại có một tiệm Starbucks, lần này tôi để nó lại dưới một tờ báo, cuộc phiêu lưu của chiếc điện thoại đã bắt đầu."

"Mọi thứ có theo đúng kế hoạch của anh?"

"Có, thật ra thì còn tốt hơn so với kế hoạch của tôi. Nhưng trước tiên hãy để tôi giải thích về cách chọn lựa nạn nhân của tôi cho anh đã."

Jon cầm lấy giấy và viết của mình, "Xin mời."

"Nạn nhân đầu tiên sẽ được chọn tại điểm đến đầu tiên trong chuyến phiêu lưu của chiếc điện thoại. Tôi sẽ chọn qua các bức ảnh. Tôi nên nói rằng Foursquare có chức năng chụp ảnh tại chỗ ngay sau khi đăng nhập. Tôi đã thay đổi hướng dẫn để người khác chụp mười tấm ảnh với Foursquare. Phần hay nhất của kế hoạch lựa chọn nạn nhân của chiếc điện thoại là chương trình cho phép tôi xem các bức ảnh đó trên mạng."

Jon ngước lên, "Thật thông minh, vậy là anh không cần lấy lại chiếc điện thoại để xem các bức ảnh."

Bobby cười khi nghe lời khen, "Vâng, chính xác. Tôi có thể đăng nhập từ máy tính của mình dù ở bất cứ nơi nào thông qua một địa chỉ IP ẩn danh, nhìn xem chiếc điện thoại bé nhỏ đã đi đâu. Để kế hoạch có thể thực hiện, tôi vẫn phải tìm hiểu người trong bức ảnh là ai, nhưng việc đó không quá khó khăn."

"Đó lại có vẻ rất khó khăn đối với tôi."

"Mạng xã hội và internet đã cho chúng ta kết quả bất ngờ khi tìm kiếm ai đó, nhưng cuối cùng đó cũng không phải là vấn đề."

"Không phải vấn đề sao?"

"Không, vì vài chuyện khá tuyệt đã xảy ra trong buổi chiều đầu tiên. Người đầu tiên chụp ảnh đã đem chiếc điện thoại đến nơi khác, và "kết bạn" với chiếc điện thoại. Và số người đáng ngạc nhiên, những người trong ảnh, cũng đã làm thế. Ở trạm dừng đầu tiên, chiếc điện thoại đã có mười hai người bạn mới."

"Điều đó đúng là dễ dàng hơn."

"Đúng vậy, và tôi đã thay đổi quy tắc chọn nạn nhân của mình."

"Hầu hết các sát nhân hàng loạt không thay đổi phương thức hành động của mình."

"Đúng, nhưng tôi vẫn chưa giết ai cả."

"Có lí."

"Qui tắc mới là người thứ nhất tại địa điểm kế tiếp, sau đó là người thứ sáu tại chỗ tiếp theo, sau đó lại là người thứ nhất, rồi đến người thứ tám, và nếu chiếc điện thoại không có được sáu hoặc tám người bạn mới thì sẽ đếm tiếp cho dù nó đã đến địa điểm mới."

"Vậy là anh đã tuân theo Nguyên tắc vàng."

"Đúng vậy, nhưng tôi muốn nhiều hơn nữa."

"Nhiều hơn?"

"Kế hoạch của tôi là tạo nên một kiệt tác về cái chết độc nhất trong lịch sử. Việc lựa chọn rất hoàn hảo, nhưng cách thực hiện mỗi vụ án mạng mới là nét vẽ cho bức tranh của tôi. Như đã nói, tôi không hứng thú với cùng một phương thức giết người. Thay vào đó tôi đã chọn thêm vào bản vẽ của mình vị trí xác chết."

Jon lật lại các trang ghi chép của mình, "Anh đã kể tôi nghe về dấu hiệu riêng chưa?"

"Vẫn chưa."

Dừng lại một chút, Jon hỏi, "Tất cả đều được bảo mật, anh có thể tin tưởng tôi."

"Trong lúc thích hợp bác sĩ ạ. Xem nào, tôi đến đâu rồi nhỉ? À, vị trí xác chết. Một khi tôi quyết định, tôi có thể bắt đầu. Tỷ lệ vàng cũng được thấy ở các vỏ ốc. Bắt đầu với tam giác vuông có cạnh huyền bằng căn bậc hai của tổng hai cạnh góc vuông. Tam giác lớn hơn tiếp theo sẽ bắt đầu tại điểm vuông góc 90 độ so với tam giác ban đầu, nhưng bây giờ với căn bậc hai của hai cạnh, cạnh huyền sẽ là 2.”

"Vâng, tôi rất quen với định lí Pi-ta-go."

"Vậy, nạn nhân đầu tiên sẽ được đặt gần điểm dừng đầu tiên của điện thoại và xem xem địa điểm tiếp theo ở đâu. Thì ra chiếc điện thoại dừng lại chỉ cách địa điểm thứ nhất và thứ hai năm mươi mét. Điều đó đã cho tôi khoảng cách đầu tiên là năm mươi mét và phương hướng. Anh hiểu chứ?"

"Tôi tin là có, nhưng chuyện gì sẽ xảy ra nếu địa điểm tiếp theo không nằm trong vỏ ốc vàng của anh?"

"Đó không phải vần đề, vì vị trí xác chết sẽ được tách biệt với địa điểm chọn lựa. Tôi chỉ dùng hai sự lựa chọn đầu tiên để chọn nơi bắt đầu."

Jon ghi chép lại một chút rồi nói, "Tôi có thể hỏi anh một câu trước khi anh tiếp tục chứ?"

"Xin mời."

"Anh đặt rất nhiều tâm trí vào việc này, nhưng tôi không thấy sự liên hệ với người môi giới chứng khoán đã lừa tiền của mẹ anh, có không?"

“Có chứ, nó sẽ là nét vẽ cuối cùng trong kiệt tác của tôi, nhưng tôi không muốn phá hoại cái kết.”

“Vậy, mời anh tiếp tục.”

Bobby dừng lại, “Tôi cảm thấy hơi mệt. Tôi nghĩ hôm nay chỉ được đến đây thôi. Tôi sẽ gặp anh vào tuần sau.”

Jon nói, “Anh vẫn còn rất nhiều thời gian mà.”

“Tôi biết,” anh ta nói và bước đi.

Jon vuốt mặt mình. Đầu anh quay cuồng, anh hét lên, “Kimberly, tôi sẽ cần em ra ngoài mua bữa trưa lần nữa.”

Cô ló đầu qua cánh cửa, “Sandwich thịt viên?”

Jon đứng dậy và rút ra vài tờ tiền từ ví, “Tôi nghĩ món tôi muốn ăn là bánh sandwich kiểu Ý, tất cả những gì tôi biết là món đó gồm có xúc xích, thịt nguội, giăm bông, phô mai Provolone, xà lách, cà chua, hành tây, sốt Mayonnaise, tất cả trong cùng một cái bánh mì.”

“Vâng, tôi nghĩ anh nói đúng, tôi hiểu rồi.”

“Tốt, mua cho tôi ít khoai tây chiên và một lốc cô ca nữa. Tự mua cho mình bất cứ thứ gì em thích.”

Jon chẳng thèm lôi các bài nghiên cứu của mình ra, anh đã viết không ngừng từ tuần trước, tất cả những gì anh muốn làm là viết lại ngay buổi trị liệu hôm nay khi nó còn mới. Từ ngữ bay ra từ ngón tay anh như những con ong đang tức giận. Khi Kimberly mua thức ăn trở lại, anh thậm chí không dừng lại để ăn. Lúc một giờ anh bảo Kimberly gọi cho ông Mayer và hủy cuộc hẹn nhưng cô không thể liên lạc được với ông ấy. Anh viết tiếp trong một giờ tiếp theo sau đó gặp các bệnh nhân còn lại trong ngày một cách miễn cưỡng. Anh lại giữ Kimberly ở lại muộn một lần nữa, sau đó tiếp tục công việc đến tối. Khoảng nửa đêm anh bắt đầu tra cứu trên internet những thông tin về bệnh nhân của mình, nhưng cuối cùng anh cũng phải dừng tìm kiếm.

Buổi sáng ngày tiếp theo đến quá nhanh. Anh chưa hề ra khỏi văn phòng trong suốt tám ngày, Kimberly đã thêm việc giặt khô vào công việc hàng ngày của mình. Jon bảo Kimberly đến Starbucks, nhưng dặn cô không được nhặt chiếc điện thoại lạ nào. Tuy cô không hiểu những gì anh nói nhưng cô vẫn làm theo những gì anh bảo.

Anh dùng toàn bộ ngày cuối tuần tiếp theo để lang thang trên internet. Anh tìm được vô số những diễn đàn và blog về những người đã làm những việc tương tự nhau với chiếc điện thoại du lịch. Một vài người đã gửi đi những chiếc máy ảnh dùng một lần, một số khác gửi đi các nhân vật khác nhau cắt từ giấy (trong đó có một nhân vật tên là Flat Stanley được làm bởi những học trò lớp năm). Flat Stanley đã đi qua chín tiểu bang rồi đến Pháp, Ý, Hung-ga-ri,và cuối cùng trở về với lớp học ở Alabama. Tất cả bọn trẻ viết bài báo cáo về chuyến phiêu lưu của Stanley và giáo viên đã đăng chúng lên mạng. Những việc này thật đáng yêu.

Đã là một giờ sáng thứ hai khi anh tìm ra tài liệu đầu tiên về chiếc điện thoại du lịch. Ba bức ảnh trên diễn đàn được chụp ở một quán ba tại quận Meatpacking. Có bảy lời bình luận, đều là những bình luận tích cực, nhưng tất cả chỉ có thế. Theo như họ nói thì chiếc điện thoại du lịch chưa lan truyền rộng rãi lắm.

Thứ ba, 29 tháng 5, 11:00 a.m.

Bobby thậm chí không chào hỏi, anh ta bắt đầu ngay khi đóng cánh cửa phía sau lưng. “Tôi nghĩ bổ sung một số thông tin về tên môi giới kia rất quan trọng. Năm năm sau khi tôi chôn cất mẹ tôi, hắn không còn làm công việc cướp bóc tiền của người khác nữa. Hắn 45 tuổi, thích câu cá, nhìn có vẻ như hắn đã quyết định rời khỏi cuộc đua kiếm tiền không ngừng nghỉ. Hắn rời khỏi thành phố và mua một mảnh đất rộng lớn cách biên giới phía Bắc khoảng một trăm dặm. Tôi đã từng đến đó. Không phải để gặp hắn, nhưng tôi đã thấy nó. Nơi đó rất hoang vắng. Dường như hắn ta rất ít khi rời khỏi đó, thức ăn của hắn được chuyển đến bốn lần trong một năm, dành cả ngày để câu cá và săn bắn. Có người nói hắn đang viết hồi ký.”

“Nghe có vẻ anh ta là một mục tiêu đơn độc, rất dễ hành động, sao lại còn cần những thứ khác?”

“Hắn ta đáng có một hình phạt còn hơn cả cái chết.”

Jon thích câu nói đó và ghi lại trên giấy mặc dù băng ghi âm đã ghi lại. Anh muốn hỏi câu nói đó có ý gì nhưng Bobby đã tiếp tục.

“Vậy là đã đến lúc. Nạn nhân đầu tiên là một em tóc vàng đến từ trường đại học New York. Tôi đã theo dõi cô ta trong nhiều ngày, phát hiện ra cô ta luôn đi bộ về nha từ một quán bar tư nhân, say xỉn và chỉ có một mình. Cô ta không quá xinh đẹp. Tôi dùng một khẩu súng giảm thanh bắn ngay vào đầu cô ta rồi đem xác để vào xe của mình. Điều này dễ dàng đến kinh ngạc. Sự vội vã cũng thật tuyệt vời. Tôi nhận ra rằng hành động giết người này hơi sạch sẽ, và cơ quan điều tra có thể sẽ nghĩ rằng nó được thực hiện bởi một kẻ chuyên nghiệp. Không hề gì vì tôi có thể làm vụ tiếp theo theo một cách khác. Quan trọng là nơi đặt xác chết và để lại dấu hiệu của tôi.”

“Anh vẫn chưa cho tôi biết dấu hiệu đó như thế nào.”

“Hãy kiên nhẫn bác sĩ à. Đa số kẻ giết người hàng loạt đều để lại dấu vết trên xác chết, điều đó có vẻ quá tẻ nhạt với tôi.”

Jon gần như bị xúc phạm, nói, “Sao anh lại nói như thế? Đa số những kẻ sát nhân hàng loạt đều dùng nó như một chữ ký, tại sao lại khiến nó tẻ nhạt?”

Bobby cười và nhìn vào Jon lâu đến mức khiến Jon cảm thấy không thoải mái. “Vì những chuyện đó được làm đi làm lại quá nhiều rồi. Tôi giỏi hơn bọn họ, và tôi đánh dấu địa điểm. Đơn giản tôi chỉ cần lấy ra chiếc bật lửa và con dấu của mình rồi để lại dầu ấn. Bằng cách này, kể cả khi xác chết không còn thì dấu hiệu của tôi vẫn ở lại. Một ngày nào đó khi thế giới biết đến kiệt tác của tôi, mọi người sẽ có thể đi dạo trên Tỉ Lệ Vàng của cái chết.”

Jon thích điều đó và nhanh chóng viết lại. Anh phải thừa nhận rằng cách nghĩ của Bobby thật tinh tế.

“Tôi cũng đã băn khoăn về việc DNA có thể bị bỏ lại trên xe tôi. Tuy chiếc xe được đăng ký bằng tên giả nhưng tôi không muốn khiến nó trở nên dễ dàng như thế cho đám cảnh sát. Sau khi vụ đầu tiên hoàn tất, tôi lái xe đến Washington và để nó lại chỗ được biết đến như khu vực của trôm ô tô. Ba tiếng sau tôi quay lại kiểm tra, chiếc xe đã biến mất. Thành phố Washington rất tiện lợi vì có thể dễ dàng đi tới sân bay quốc gia Regan. Thoáng chốc tôi đã trở về nhà. Tuy tiền không đáng để bận tâm nhưng tôi không muốn phải tốn năm mươi ngàn cho mỗi nạn nhân. Vì lý do đó tôi mua những chiếc xe rẻ tiền. Một nghiên cứu nhỏ và tôi tin rằng mình có thể dùng chúng cho hai hoặc ba vụ án, trước khi tôi đem chúng đến bãi phế liệu.

Chưa đầy một tuần, chiếc điện thoại đã tìm cho tôi một mớ nạn nhân với đủ hình dáng và kích thước. Tôi bắt đầu không chỉ đến quan tâm đến nơi bỏ xác chết, mà còn suy nghĩ đến phương thức phạm tội. Nạn nhân thứ tư phải được đặt ở một căn hộ nào đó trong một tòa cao ốc sang trọng, tuy tôi cho rằng tôi có thể dùng các tầng phía trên nhưng tôi thích tầng trệt. Tôi lạc đề mất rồi. Vấn đề là có chút khó khăn để đem xác đến nơi mà không bị phát hiện. Thật ra thì tôi chia nó làm hai giai đoạn. Đột nhập vào căn hộ 103 rất dễ, nhưng nếu tôi vác theo cái xác trên vai thì lại khác, thế nên tôi để lại dấu hiệu của mình phía sau tủ, sau đó giao một cái tủ lạnh với cái xác bên trong tới. Hai vợ chồng sống trong căn nhà đó đều đã đi làm và người gác cửa đã mở cửa cho người giao hàng vào nhà. Tất nhiên tôi đã xóa hết dấu vết của chuyến giao nhận hàng này, nhưng chuyện đó không hấp dẫn lắm.”

“Những người sống trong căn nhà đó thế nào, họ có bị nghi ngờ không?”

“Không, cảnh sát nhận ra chẳng ai giết người rồi lại đem xác chết chuyển về nhà mình cả. Họ kết luận đó là tin nhắn từ một băng nhóm tội phạm nào đó, vì người vợ là luật sư từng nhận vài vụ liên quan đến chúng, điều này phù hợp với logic của họ hơn.”

“Vậy cảnh sát có thấy kiểu mẫu phạm tội của anh chưa?”

“Họ vẫn chưa thấy.”

“Việc này rất khác thường, đa sồ những kẻ sát nhân hàng loạt đều muốn thể hiện rằng mình đang đùa giỡn cảnh sát.”

“Tôi KHÔNG thuộc đa số những kẻ sát nhân hàng loạt.”

“Tôi không có ý xúc phạm.”

Bobby cười, “Tôi đùa chút thôi bác sĩ. Tôi đã đọc bài báo của anh, đó là sự thật, nhưng tôi có một kế hoạch vĩ đại hơn là chỉ đơn giản là trêu chọc những nhân viên chính phủ. Ý tôi là chuyện đó thật sự đâu có gì khó khăn?”

“Vậy, anh đã giết bao nhiêu người?”

“Con số không quan trọng mặc dù nó thật ấn tượng, nó là Tỉ lệ vàng và những nét tôi đã vẽ. Tôi đã mất mười tám tháng để thực hiện và gần như đã hoàn thành tác phẩm Piece De Résistance của mình.”

“Vậy là anh đang định dừng lại?”

“Đúng vậy.”

“Đó có phải lí do anh tìm đến tôi, để giúp anh dừng lại?”

“Có thể nói như vậy. Thật ra, tuần tới sẽ là buổi trị liệu cuối cùng. Tất cả những gì tôi muốn từ anh là viết một bài phân tích về những buổi trị liệu của chúng ta bác sĩ à. Tôi chắc rằng nó sẽ đủ cho tôi đạt tới cấp năm, chấp nhận sự mất mát.”

Jon gần như có thể nhìn thấy ngôi sao trên quyển sách của mình biến mất, lên tiếng phản đối, “Tôi nghĩ anh sẽ thấy chuyện này không dễ dừng lại. Sự hồi hộp, sự kích thích, áp lực của tất cả những thứ này giống như thuốc phiện vậy.”

“Dù là vậy nhưng tôi đã sẵn sàng để từ bỏ. Thật ra tôi có thứ này cho anh.” Bobby lấy từ trong túi mình ra một tờ giấy. Anh ta đứng lên, đặt tờ giấy lên bàn, cấm lấy cây viết rồi ký tên và ngày tháng lên nó ngay trước mặt Jon.

Jon cầm tờ giấy lên và đọc. Anh không dám tin vào mắt mình, “Anh giải bỏ tất cả các quyền lợi của bệnh nhân?”

“Đúng vậy, sau thứ ba tuần sau, tôi sẽ chẳng quan tâm đến nó nữa.” Nói xong anh đứng lên rời khỏi.

Jon đi tới đi lui không ngừng suốt năm phút, suy nghĩ đến các khả năng. Anh chắc rằng quyển sách của anh sẽ lên đứng đầu và trụ lại đó. Anh sẽ tham gia một chương trình talkshow và sau đó dùng phần đời còn lại để du lịch vòng quanh thế giới. Anh ghét làm một bác sĩ tâm lí. Về hưu thì vẫn còn rất xa. Anh phấn khích đến nỗi không muốn ăn, nên anh gọi Kimberly vào phòng trong suốt một tiếng đồng hồ tiếp theo. Sau khi xong việc, anh tắm rửa, mặc một bộ quần áo mới và gọi một cuộc điện thoại.

“Chào thanh tra, tôi là...”

“Tôi biết anh là ai, tên khốn. Mỗi ngày tôi đều nghĩ đến anh. Anh biết rằng tên đó lại giết người, cũng tại anh cả.”

“Tôi biết, tôi đã báo hại anh, nhưng tôi sẽ đền bù cho anh gấp mấy lần như thế.”

“Bằng cách nào?”

“Tôi rút lui. Tôi sẽ rút khỏi cái công việc này.”

“Tôi không quan tâm.”

“Đúng vậy, nhưng việc cuối cùng tôi làm không chỉ cho anh một tên sát nhân thông thường, mà là một tên sát nhân hàng loạt.”

“Anh biết tin về tên sát nhân Ca Rô sao?”

Jon hít một hơi dài, “Không, không phải tên đó. Tôi có một bệnh nhân thừa nhận rằng đã giết nhiều hơn cả số người tôi có thể đếm, anh ta đã thực hiện một loạt các vụ án mạng một cách phi truyền thống. Tôi không tin rằng chưa có ai liên kết được các đầu mối.

“Tôi nghĩ anh thật vớ vẩn.”

“Có thể, nhưng anh có muốn bắt được tên này hay không?”

“Tôi đang nghe đây.”

“Thứ ba tuần sau anh ta sẽ đến lần cuối. Những gì anh cần làm là xuất hiện và bắt anh ta. Tôi sẽ giao tất cả những ghi chép và băng ghi âm để làm bắng chứng, bất cứ thứ gì anh cần.”

“Anh sẽ mất chứng chỉ hành nghề mất.”

“Tôi không quan tâm. Việc của tôi xong rồi.”

“Tôi sẽ gọi lại cho anh.”

Thời gian còn lại trong ngày trôi qua rất nhanh. Thậm chí ông Mayer có thể nhận ra anh đang vui vẻ như thế nào.

Ngày cuối tuần Jon xem lại tất cả những ghi chép của mình. Chủ nhật ngài thanh tra đến và họ nói chuyện suốt bốn giờ đồng hồ. Sau khi nói chuyện ngài thanh tra đã bị thuyết phục. Anh ta đồng ý sẽ có mặt vào thứ ba với một điều kiện, Jon phải hủy toàn bộ các cuộc hẹn ngày hôm đó, chỉ để lại cuộc hẹn với Bobby. Jon đồng ý rồi đi ăn tối. Đó là lần đầu tiên anh rời khỏi văn phòng trong ba tuần qua, anh có cảm giác như mình đang ở trên đỉnh của thế giới.

Ngày thứ hai trôi qua thật chậm chạp, sáng ngày thứ ba cũng thế cho đến mười giờ, khi ngài thanh tra gọi và nói rằng họ sẽ có mặt ở sảnh. Sau mười một giờ họ sẽ gọi lại cho anh, nếu Bobby có mặt ở đó anh sẽ nói, “Vâng, tôi rất sẵn lòng sắp xếp lại.” Sau đó họ sẽ xông vào và bắt hắn.

Thứ ba, ngày 5 tháng 6, 11:00 a.m.

Jon hét lên, “Em có thấy anh ta không?”

Kimberly nói, “Không.”

“Anh ta có gọi điện không?”

“Không.”

“Vậy em đã gọi cho mọi người để hủy hẹn chưa?”

“Rôi, nhưng tôi không liên lạc được với ông Mayer.”

“Em không gọi nhầm cho ông Jones đấy chứ?”

“Không, tôi thậm chí còn không có số anh ta. Anh ta không ghi nó trên hồ sơ.”

Jon bắt đầu lo lắng. Cái kết của quyển sách anh không thấy đâu cả. Anh gõ cây viết trên mặt bàn, sau đó Kimberly nối cho anh một cuộc điện thoại. Anh nhanh chóng chụp lấy điện thoại, cố giữ giọng bình tĩnh, trước khi nói. “Xin chào... ồ, thì ra là anh sao thanh tra, không, anh ta đến muộn.”

Lần thứ hai ngài thanh tra gọi đến, anh ta bắt đầu mất kiên nhẫn. Cuộc gọi thứ ba ngay trước giờ nghỉ trưa chỉ đơn giản bảo Jon đi chết đi.

Jon gọi Kimberly và nói, “Em có thể nghỉ buổi chiều nay.”

Hai giờ đồng hồ tiếp theo Jon như ngồi trên đống lửa. Anh vẫn có thể hoàn thành quyển sách của mình chỉ là sẽ có chút thay đổi. Có khi nào Bobby bằng cách nào đó biết đến chuyện ngài thanh tra? Có lẽ vậy. Jon thật giận chính mình. Anh đã quá nóng vội. Lẽ ra anh nên để Bobby đi, sau khi quyển sách xuất bản rồi mới tìm bắt anh ta.

Lúc hai giờ, tiếng gõ cửa đánh thức anh. Anh nhảy lên vội vàng mở cửa, ngay khi cánh cửa mở ra hai vai anh rũ xuống. “Ồ, là ông sao ông Mayer, mời vào.”

“Anh không vui khi gặp tôi?”

“Không phải, chỉ là tôi vừa có một ngày thật dài,” anh nói và quay lại bàn làm việc. Anh vừa đi được hai bước thì ngã xuống mặt sàn. Jon không biết cái gì vừa đánh mình, nhưng sau đó có một luồn điện và anh nhận ra rằng mình bị tấn công bởi cây súng điện. Anh không thể cử động. Anh nằm xấp trên mặt đất rồi thấy một chiếc khăn tay bịt lấy miệng mình.

Khi Jon tỉnh lại thấy mình đang bị dán chặt trên ghế làm việc, và miệng anh bị bịt lại. Căn phòng có vẻ bừa bộn, anh không hiểu chuyện gì đang diễn ra. Không ai khác trong phòng, sau đó ông Mayer đi ra từ căn phòng nhỏ. Cánh cửa bị phá nát. Ông Mayer lên tiếng nhưng đó không phải giọng nói của ông, “Chào bác sĩ.”

Jon cố nói gì đó, sau đó ông Mayer nói, “Bây giờ tôi sẽ tháo miếng bịt miệng của anh để chúng ta có thể nói chuyện. Thật hay là bây giờ đã hết giờ làm việc, anh có la hét cũng sẽ không ai nghe thấy, nhưng nếu anh làm vậy, tôi sẽ bắn súng điện vào người anh lần nữa. Hiểu chứ?”

Jon gật đầu.

Anh cử động cằm và sau đó nhận ra giọng nói phát ra từ miệng ông Mayer là của ai, đó là giọng của Bobby.

Bobby nói, “Tôi có thể hỏi anh một câu không?”

“Được.” Jon nói, anh có rất ít sự lựa chọn trong tình huống này.

“Anh nghĩ dấu hiệu đó như thế nào?”

“Tôi không biết.”

“Lạ thật, vì anh có vẻ là người hâm mộ tên sát nhân sử dụng dấu mộc Ca Rô đến giờ vẫn chưa bị bắt.”

Jon không nói gì.

“Tôi thấy khá thú vị khi anh chưa từng nghĩ đến khả năng tôi chính là kẻ đó.”

Jon nhún vai.

“Lý do anh chưa bao giờ nghi ngờ tôi chính là tên sát nhân Ca Rô là bởi vì anh biết chuyện đó là điều không thể xảy ra, đúng không?”

“Hắn luôn dùng sợi dây thừng, anh thì không.”

“Đúng, nhưng lần đầu tôi nhắc đến dấu mộc, anh đâu biết chuyện đó. Tôi nghĩ có lẽ đó là suy đoán đầu tiên của anh, nhưng không phải, bởi vì cả hai chúng ta đều biết, anh chính là tên sát nhân Ca Rô đó.” Bobby đặt sợi thừng trên bàn rồi nhẹ nhàng đặt chiếc con dấu Jon đã từng dùng để đánh dấu các nạn nhân của mình ở bên cạnh.

Jon không nói gì.

Bobby nhìn chằm chằm anh rất lâu rồi nói, “Tôi có xem qua bài đánh giá anh viết về tôi. Tôi xem trong lúc anh ra ngoài, nó rất hay chỉ là không bằng quyển sách của anh. Tôi thừa nhận tôi chưa đọc hết nó, nhưng đoạn viết về tôi thật sự rất ấn tượng.”

“Cảm ơn. Tôi rất tò mò, với tư cách những kẻ chuyên nghiệp với nhau, anh đã giết được bao nhiêu người?”

“Chắc chắn anh có thể hỏi, nhưng chưa chắc tôi muốn trả lời.”

“Vậy dấu mộc của anh như thế nào, anh phải cho tôi xem.”

“Chiếc iPhone với ứng dụng Foursquare trên đó,” Bobby nói và cho Jon xem một ví kẹp tiền.

“Rất đẹp.”

“Cảm ơn.”

“Tất cả những chuyện về tên môi giới chứng khoàn đều là chuyện vớ vẩn?”

“Không, không hề,” Bobby vừa nói vừa lấy chiếc bật lửa trên bàn anh, cầm dấu mộc lên và châm lửa.

“Anh định làm gì với nó?”

“Anh biết nó để làm gì mà, nó dành cho nạn nhân của tên sát nhân Ca Rô.

Jon bối rối.

“Tôi sẽ đặt miếng giẻ trở lại, tôi nghĩ rằng anh sẽ muốn thét lên.”

Mắt Jon trợn lớn, anh cố chống lại nhưng lại không có sức. Booby đặt miếng giẻ trở lại, rồi giữ lửa trên dấu mộc thêm một lúc nữa. Anh ta ấn nó xuống cổ Jon đến khi nó làm cháy da anh. Tiếng thét của Jon tắt dần. Bobby ngồi xuống và lôi ra một gói đậu phộng. Anh ta mở ti vi xem trận đầu bóng chày trong nửa giờ đồng hồ trong lúc Jon vùng vẫy và khóc lóc. Bobby bóc vỏ đậu phộng và cho vào miệng, sau ba lượt đấu, nói, “Tôi yêu môn bóng chày. Đây đúng là một trận đấu tuyệt vời. Có vài chuyện còn thú vị hơn việc ngồi ở sân vận động Yankee với một gói đậu phộng trong một ngày tháng sáu ấm áp thế này. Tôi tin anh sẽ nhanh chóng hiểu ra thôi, tôi sẽ nhận hết những vụ án mạng của anh, nói đúng hơn là mượn chúng. Anh sẽ trở thành nạn nhân thứ 38. Đó thật sự là sự xúc phạm cho anh khi tất cả các kế hoạch của anh đến cuối cùng lịch sử sẽ chỉ ghi nhận anh như một trong số những nạn nhân ngu ngốc.”

Jon hét lên điều gì đó nhưng Bobby vẫn tiếp tục, “Thật ra tôi nghĩ chúng ta có thể thêm vài chương về Ca Rô cho quyển sách của chúng ta, của chúng ta theo nghĩa đây là kết quả của sự hợp tác, nhưng e rằng ngoài việc để anh trở thành nạn nhân thứ 38 thì tôi không thể làm gì khác. Chỉ bởi vì trang bìa không đủ chỗ cho cả hai chúng ta.”

Bobby xoa hai tay với nhau sau đó mở miếng bịt miệng ra. Anh ta tát một bạt tai vào mặt Jon..

“Không, tôi dị dứng với đậu phộng.”

“Tôi biết, anh sẽ sớm có một cái chết kinh khủng. Tôi nghĩ nó sẽ là một sự mỉa mai. Tôi chắc rằng các tờ báo sẽ chú ý đến điều này. Họ sẽ nói rằng gương mặt bị sưng phù lên của anh chính là lí do tên sát nhân bỏ lại sợi dây thừng của hắn.

Jon cảm thấy cổ họng mình thắt lại. Mắt anh bắt đầu sưng lên.Anh nén cơn giận xuống và tìm mọi cách để thương lượng, nhưng thật khó khăn để nói chuyện, “Làm ơn, đừng làm thế, có một mũi tiêm…”

“Tôi biết, tôi có thể cứu anh, nhưng tôi sẽ không làm thế. Tôi đã được có thứ tôi muốn. Bây giờ tôi sẽ rời khỏi đây, tôi sẽ để chứng cứ này ở chỗ tên môi giới và rồi tất cả sẽ kết thúc. Hắn sẽ tiêu đời, bị bỏ tù, và có thể dùng phần đời còn lại để trả giá cho những gì hắn đã làm với mẹ tôi.”

Jon biết rằng cái chết đang đến gần và phải chấp nhận nó, anh lẩm bẩm một câu hỏi cuối cùng, “Một điều nữa, làm ơn, anh đã giết bao nhiêu người?”

“Cho đến bây giờ, không ai cả.” Bobby cầm lấy hộp ghi chép, các chùm tóc của các nạn nhân, và một chùm nữa của Jon anh ta vừa thêm vào, kẹp nó dưới cánh tay và rời khỏi. Ngày hôm sau, sau thực hiện một cuộc gọi nặc danh cho cảnh sát và nhìn họ bắt giữ tên môi giới chứng khoán, anh ta tuyên bố rằng chính mình đã được chữa khỏi.

HẾT

Dịch giả: xiaofang

Hiệu đính: conruoinho

Bài đăng trên diễn đàn​


[-([-([-( Thêm gacsach khi tìm truyện trên google để đọc bản ít lỗi chính tả hơn \:D/\:D/\:D/